Archive for the ‘Luật Môi trường’ category

NHỮNG NIỀM VUI NHO NHỎ

Tháng Mười 24, 2012

Dạo này có nhiều niềm vui nho nhỏ :D

1. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật kỷ niệm 40 năm thành lập. Mình được chọn là cộng tác viên trẻ viết bài chia sẻ về Tạp chí đăng trên số tháng 10 năm 2012. Trong số này cũng đăng bài về Quyền phúc quyết. Được ưu ái quá đi :x, cụ thể xem ở Mục lục:

http://www.isl.gov.vn/content/685_Muc_luc_Tap_chi_Nha_nuoc_va_Phap_luat_so_10_294_nam_2012.aspx

2. Bài viết về trưng cầu ý dân đã đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 8/2012.

3. Một số bài viết về đồng tính đã được gửi đến 3 Tạp chí nữa (Tạp chí Nghiên cứu con người, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Tạp chí Luật học) :D; 2 bài viết về môi trường làng nghề và xã hội hóa bảo vệ môi trường đã gửi cho Tạp chí Kinh tế và Dự báo và đã được duyệt, trong đó bài về làng nghề đã đăng trên số 21, tháng 11/2012.

4. Hai cuốn sách Hỏi đáp PL về trọng tài thương mại và nuôi con nuôi đã in xong và nhận về :D

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Tháng Mười 8, 2012

Dự kiến sẽ đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo năm 2012, dưới đây là phần đầu của bài viết.


Quan niệm về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường

Việc huy động các nhân tố thị trường và cộng đồng dân cư vào việc phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thường gọi là “xã hội hóa”. Hay nói cách khác thì xã hội hóa là làm cho việc hoàn thiện có tính xã hội, vì lợi ích chung của xã hội và có sự tham gia của mọi người trong xã hội. Khác với thời bao cấp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước phải cáng đáng mọi việc, thì với nền kinh tế thị trường hiện nay ngoài vai trò của Nhà nước còn có vai trò của các nhân tố phi nhà nước, tức là vai trò của thị trường và cộng đồng dân cư. Từ đó, việc huy động các nhân tố thị trường và cộng đồng dân cư vào các mặt hoạt động trong lĩnh vực môi trường được xem là xã hội hóa bảo công tác vệ môi trường (XHH BVMT). Mặc dù trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 đã đề ra chương trình mục tiêu “xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường” và chương trình này bước đầu đã được tiến hành thí điểm một số tỉnh/ thành như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về “xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường”. Có một số quan niệm về XHH BVMT như sau:

- Theo TS. Trần Thanh Lân (Tạp chí Bảo vệ môi trường số 9/2003 – Học viện Hành chính quốc gia ): Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là quá trình chuyển hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động bảo vệ môi trường trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực của xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

- Theo GS. Nguyễn Viết Phổ: Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của đất nước. Hay nói cách khác, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là phải biến chủ trương bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi người dân sống trong một xã hội.

Như vậy, có thể hiểu XHH BVMT chính là việc huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Môi trường mang tính công hữu, là của chung của mọi người. Mọi người đều có quyền hưởng các phúc lợi mà trời, đất, biển, sông, núi, đa dạng sinh học, con người và các giá trị nhân văn xã hội đem lại. Nhưng quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Vì thế nếu mọi người được hưởng các phúc lợi về môi trường thì rõ ràng mọi người cũng phải có nghĩa vụ tích cực tham gia bảo vệ và cải thiện môi trường. Bảo vệ môi trường và các hoạt động về môi trường tự nó đã mang tính xã hội cao nên công tác bảo vệ môi trường được xã hội hoá là một việc làm phù hợp. Khi lực lượng cộng đồng tham gia hoạt động công ích sẽ là một tiền đề để làm tăng hiệu lực quản lý Nhà nước cũng như sức mạnh của người dân. Người dân sẽ tăng lòng tự tin vào khả năng quản lý của Nhà nước và góp phần vào giải quyết khó khăn chung, không chỉ vì lợi ích chung mà còn vì lợi ích của bản thân mình….

 

 

 

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC THI PL BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ VIỆT NAM

Tháng Chín 28, 2012

Bảo vệ môi trường trong các làng nghề: Những bất cập trong thực thi pháp luật

 Trương Hồng Quang

Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 21, tháng 11/2012

 

Làng nghề Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển làng nghề trong nhiều năm qua đã xuất hiện nhiều vấn đề nan giải, trong đó có nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng cần phải có biện pháp giải quyết kịp thời.

Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội. Theo thống kê ở Việt Nam có 4.575 làng nghề, trong đó có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề[1]. Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%). Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% – 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20%-40%. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% – 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên. Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200-250 lao động[2]. Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

Có thể nhận thấy, các làng nghề giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề phải bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững, thể hiện cụ thể qua một số điểm như sau: (more…)

ĐTM trong xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật

Tháng Bảy 9, 2012

VAI TRÒ CỦA ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trương Hồng Quang*

 (Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 15 (527), kỳ 1 tháng 8/2012)

Trong những năm gần đây, Nhà nước ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường, phát triển bền vững và cải tiến phương thức quản lý phát triển sao cho hài hòa với lợi ích môi trường. Cùng với sự quan tâm đó là sự ra đời của các quy phạm pháp luật mới nhằm giải quyết mối xung đột giữa nhu cầu bảo vệ môi trường với sự phát triển. Ðánh giá tác động môi trường là một ví dụ quan trọng về một trong những nỗ lực đó. Đánh giá tác động pháp luật nói chung và đánh giá tác động môi trường nói riêng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một trong những nội dung mới được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 (gọi tắt là Luật năm 2008). Đây là một cuộc cải cách pháp lý quan trọng trong lĩnh vực lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố nền pháp trị, nâng cao vai trò hoạch định chính sách của Quốc hội và thực hiện chính sách của các Bộ, ngành cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp và công dân, đáp ứng yêu cầu mang tính khách quan, nhằm khắc phục những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn soạn thảo, ban hành VBQPPL. Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng và nhiều biến động trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy, nhiều dự án phát triển chỉ mới đạt được được mục tiêu về kinh tế mà chưa đi đôi với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên như định hướng đã đề ra. Vì vậy, yêu cầu đánh giá tác động môi trường không chỉ dừng lại ở hoạt động tuân theo quy định của pháp luật mà còn đòi hỏi đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng VBQPPL. Bài viết sau đây sẽ làm rõ tầm quan trọng của việc áp dụng tốt quy định của pháp luật về đánh giá tác động môi trường vào hoạt động xây dựng VBQPPL.

1. Thế nào là đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng VBQPPL?

Hiện nay, trên thế giới, có rất nhiều quan điểm về đánh giá tác động môi trường nhưng hầu hết quan điểm đều cho rằng cần phải “phát hiện và dự tính những tác động môi trường cũng như đối với sức khỏe và sự thịnh vượng của con người, của các đề xuất, các chính sách, các chương trình dự án, quy trình hoạt động và cần phải chuyển giao và công bố những thông tin về tác động đó”[1]. Quan điểm khác của Cục môi trường Anh (định nghĩa hẹp) lại cho rằng “đánh giá tác động môi trường chỉ là một kỹ thuật và một quy trình giúp các chuyên gia phát triển, tập hợp những thông tin về ảnh hưởng đối với môi trường của một dự án và thông tin này sẽ được nhà quản lý quy hoạch sử dụng để đưa ra những quyết định về phương hướng”[2]. (more…)

Thực thi pháp luật Bảo vệ môi trường trong doanh nghiệp

Tháng Bảy 27, 2011

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 và tiếp theo là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị, các doanh nghiệp, các khu công nghiệp phải thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững”. Gần đây nhất, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011; trong đó đã xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế -xã hội nói chung và lĩnh vực môi trường nói riêng. Chiến lược cũng đã xác định mục tiêu cụ thể về môi trường: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải rắn nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn[1]. (more…)

Một số chính sách, thực tiễn và nguyên nhân thực thi PL BVMT của Doanh nghiệp VN

Tháng Bảy 26, 2011

Đất nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Phát triển kinh tế – xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều chính sách đổi mới đã được ban hành có tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực môi trường. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được chú trọng bảo vệ, quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả; các doanh nghiệp được khuyến khích chuyển đổi công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, tăng trưởng kinh tế nhanh thường đi kèm với các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không có các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn. Tăng trưởng sẽ không bền vững nếu sự tăng trưởng đó không tính đến các chi phí thiệt hại phải bỏ ra do ô nhiễm môi trường. Việt Nam cũng ở trong tình trạng các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra ở mức cao và đang có xu hướng gia tăng. Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Chất lượng môi trường và sự phát triển bền vững phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của các doanh nghiệp trong. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp đang là mối quan tâm lớn trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. (more…)

Một số vấn đề về thi hành PL BVMT trong các Khu công nghiệp VN

Tháng Bảy 25, 2011

Thứ nhất, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41/2004/NQ/TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”. Nhận thức rõ điều đó, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Đối với nước ta, vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu chế xuất nói riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và đề cập đến ngay từ những năm đầu hình thành, phát triển.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 và tiếp theo là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị, các Khu công nghiệp[1] phải thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững”. Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010 được Đại hội Đảng X thông qua đã nhấn mạnh vai trò của bảo vệ môi trường trong phát triển Khu công nghiệp bằng mục tiêu hết sức cụ thể: “Năm 2010, tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải”. Hàng năm, chỉ tiêu tỷ lệ các Khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn là một trong những chỉ tiêu kinh tế – xã hội quan trọng, được Quốc hội và nhân dân quan tâm, đánh giá. Gần đây nhất, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011; trong đó đã xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế -xã hội nói chung và lĩnh vực môi trường nói riêng. Chiến lược cũng đã xác định mục tiêu cụ thể về môi trường: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải rắn nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn[2]. (more…)

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tháng Sáu 16, 2011

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ThS. Trần Thị Quang Hồng*

Trương Hồng Quang**

Bài đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 6/2011

 

1. Vài nét về Đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường (tên tiếng anh: Environmental Impact Assessment, viết tắt là ĐTM) là hoạt động đánh giá các tác động – bao gồm cả tích cực và tiêu cực – mà một dự án có thể gây ra đối với môi trường, cả ở các khía cạnh tự nhiên, xã hội và kinh tế[1]. Mục tiêu của ĐTM là để xem xét các tác động đối với môi trường trước khi quyết định có triển khai dự án hay không. Hiệp hội quốc tế về Đánh giá Tác động thì định nghĩa ĐTM là “hoạt động/quá trình xác định, dự báo, đánh giá và giảm thiểu các tác động về mặt sinh học vật lý, xã hội và các tác động liên quan khác của các đề án phát triển trước khi đưa ra các quyết định và cam kết. Sau ĐTM, nguyên tắc phòng ngừa và người gây ô nhiễm phải trả tiền sẽ được áp dụng để phòng ngừa, hạn chế hoặc đưa ra những yêu cầu về trách nhiệm một cách nghiêm ngặt hoặc yêu cầu bảo hiểm về môi trường đối với một dự án, dựa trên những tác động môi trường đã được dự báo[2]. Nhìn chung, ĐTM đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới để kiểm soát và giám sát một cách hiệu quả quá trình triển khai các dự án ở khía cạnh môi trường, chi phối quá trình ra quyết định đối với dự án (có được triển khai hay không) và quá trình thực thi dự án (khi được triển khai thì các biện pháp bảo vệ môi trường phải được thực thi như thế nào). Ở Việt Nam, ĐTM cũng đang ngày càng trở thành một công cụ bảo vệ môi trường quan trọng và chiếm một vị trí đáng kể trong các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên hoạt động ĐTM ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều bất cập và yếu kém về cả chất lượng cũng như việc tuân thủ quy trình ĐTM như pháp luật đã quy định. Bản thân quy định pháp luật hiện hành về ĐTM cũng chưa chặt chẽ[3]. Do vậy, cần có sự đánh giá và nhận thức lại về khía cạnh pháp lý cũng như hiện trạng thực hiện hoạt động ĐTM. (more…)

Pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học

Tháng Tư 22, 2011

Bài viết về Thực trạng hệ thống pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam – phương hướng hoàn thiện, sẽ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.

Trước khi Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2008 được ban hành, vấn đề bảo tồn ĐDSH được quy định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó pháp luật môi trường đề cập đến bảo tồn ĐDSH ở mức độ bao trùm, khái quát nhất. Những nguyên tắc, những quy định chung về bảo tồn ĐDSH được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển các quy định cụ thể về ĐDSH[1]. Vấn đề bảo vệ ĐDSH thời kỳ này được quy định tản mạn ở rất nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, quản lý và bảo hộ giống cây trồng và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nội dung bảo vệ ĐDSH chỉ là một nội dung nhỏ trong những văn bản đó và mỗi văn bản tiếp cận vấn đề bảo vệ ĐDSH theo một góc độ khác nhau, do đó có thể thấy các quy định về bảo vệ ĐDSH còn tản mạn và hiệu quả điều chỉnh trên thực tế chưa cao[2]. Với những đòi hỏi về mặt lý luận cũng như thực tiễn như vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ĐDSH, luật hóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện các cam kết quốc tế về ĐDSH phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Luật ĐDSH được Quốc hội nước ta ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã tạo nên một hành lang pháp lý thống nhất điều chỉnh việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, đáp ứng được nhu cầu cấp bách của hoạt động bảo tồn ĐDSH hiện hay và trong tương lai. Luật đã hoàn thành nhiệm vụ pháp điển hóa các quy định về bảo vệ ĐDSH được đề cập rải rác trong nhiều lĩnh vực pháp lý thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập, hỗ trợ và tạo thế cân bằng với lĩnh vực pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường[3]. Tuy nhiên hệ thống pháp luật về ĐDSH hiện nay vẫn đang bộc lộ những bất cập nhất định về mặt nội dung cũng như thực tế thi hành cho nên việc đánh giá toàn diện để hoàn thiện là vấn đề rất quan trọng.


* Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[1] Điều này bắt nguồn từ tính thống nhất nội tại của hệ thống pháp luật về môi trường. Sinh vật, hệ sinh thái là những thành tố cơ bản của môi trường, do vậy, pháp luật về ĐDSH là một bộ phận không thể thiếu cùa pháp luật môi trường. Các mảng pháp luật khác chỉ đề cập đến các mảng riêng biệt của ĐDSH. Xem thêm: Nguyễn Văn Tài, Pháp luật về ĐDSH: Thực trạng và những tồn tại trước khi có Luật ĐDSH, tlđd, tr. 6.

[2] Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29-11-2005: Chương V quy định về Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên điều chỉnh các nội dung sau: quy định việc điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ ĐDSH; bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trường; xây dựng thói quen tiêu dùng thân thiện với môi trường. Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn có các đạo luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành tố môi trường (còn gọi là các đạo luật, pháp lệnh về tài nguyên). Cụ thể, đó là các đạo luật, pháp lệnh sau: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Pháp lệnh Giống cây trồng số 15/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/03/2004; Pháp lệnh Giống vật nuôi số 16/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/03/2004; Pháp lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/04/2004; Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 36/2001/PL-UBTVQH10 ngày 25/08/2001; Bộ luật hình sự (Điều 19, 191);… Bên cạnh đó còn hệ thống các văn bản dưới Luật.

[3] Vũ Thu Hạnh, Trần Thị Hương Trang, Mức độ phù hợp của Luật Đa dạng sinh học với các văn bản có liên quan, Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn.

Báo cáo, rà soát, đánh giá hệ thống pháp luật về bảo tồn Đa dạng sinh học Việt Nam

Tháng Mười Một 14, 2009

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC HIỆN NAY CỦA VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

Trương Hồng Quang*

(Tạp chí Nghiên cứu lập pháp)

 

Trước khi Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2008 được ban hành, vấn đề bảo tồn ĐDSH được quy định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó pháp luật môi trường đề cập đến bảo tồn ĐDSH ở mức độ bao trùm, khái quát nhất. Những nguyên tắc, những quy định chung về bảo tồn ĐDSH được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển các quy định cụ thể về ĐDSH[1]. Vấn đề bảo vệ ĐDSH thời kỳ này được quy định tản mạn ở rất nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, quản lý và bảo hộ giống cây trồng và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nội dung bảo vệ ĐDSH chỉ là một nội dung nhỏ trong những văn bản đó và mỗi văn bản tiếp cận vấn đề bảo vệ ĐDSH theo một góc độ khác nhau, do đó có thể thấy các quy định về bảo vệ ĐDSH còn tản mạn và hiệu quả điều chỉnh trên thực tế chưa cao[2]. Với những đòi hỏi về mặt lý luận cũng như thực tiễn như vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ĐDSH, luật hóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện các cam kết quốc tế về ĐDSH phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Luật ĐDSH được Quốc hội nước ta ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã tạo nên một hành lang pháp lý thống nhất điều chỉnh việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, đáp ứng được nhu cầu cấp bách của hoạt động bảo tồn ĐDSH hiện hay và trong tương lai. Luật đã hoàn thành nhiệm vụ pháp điển hóa các quy định về bảo vệ ĐDSH được đề cập rải rác trong nhiều lĩnh vực pháp lý thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập, hỗ trợ và tạo thế cân bằng với lĩnh vực pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường[3]. Tuy nhiên hệ thống pháp luật về ĐDSH hiện nay vẫn đang bộc lộ những bất cập nhất định về mặt nội dung cũng như thực tế thi hành cho nên việc đánh giá toàn diện để hoàn thiện là vấn đề rất quan trọng.

1. Khái niệm ĐDSH và bảo tồn ĐDSH

Theo Công ước về ĐDSH được đưa ra năm 1992 tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và sự phát triển, ĐDSH được định nghĩa là toàn bộ sự phong phú của các thế giới sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong và giữa các loài và sự đa dạng của các hệ sinh thái. Mức độ ĐDSH của một quần xã sinh vật thể hiện ở 3 dạng: đa dạng về loài – là tính đa dạng các loài trong một vùng; đa dạng di truyền – là sự đa dạng về gen trong một loài; đa dạng hệ sinh thái – là sự đa dạng về môi trường sống của các sinh vật trong việc thích nghi với điều kiện tự nhiên của chúng. Tính đa dạng là một phạm trù bao trùm toàn bộ các thành phần tạo ra của hệ sinh thái đảm bảo sự duy trì một hệ sinh thái đa dạng và phong phú. Theo Luật ĐDSH năm 2008 của Việt Nam, ĐDSH được định nghĩa như sau: “ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên” (khoản 5 Điều 3). Có thể nhận thấy rằng khái niệm ĐDSH theo pháp luật của Việt Nam cụ thể, rõ ràng và chính xác hơn so với khái niệm trong Công ước ĐDSH nêu trên. Điều này thể hiện ở một số điểm như: (i) Luật ĐDSH xác định rõ sự phong phú về “gen” còn Công ước ĐDSH lại nêu chung chung là “sự đa dạng bên trong”; (ii) Luật ĐDSH xác định rõ đa dạng về “loài sinh vật” chứ không chỉ là “các loài” như trong Công ước ĐDSH; (iii) Luật ĐDSH xác định rõ sự đa dạng về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong “tự nhiên” còn Công ước ĐDSH chưa nêu rõ ý này. Bên cạnh đó, Luật ĐDSH còn định nghĩa “Bảo tồn ĐDSH” là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền (khoản 1 Điều 3).

(more…)


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.