Archive for Tháng Bảy 2009

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢNG CÁO SO SÁNH

Tháng Bảy 25, 2009

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢNG CÁO SO SÁNH

Trích từ đề tài “Quảng cáo so sánh theo pháp luật Liên minh châu Âu và Việt Nam – nghiên cứu dưới góc độ so sánh luật” của Trương Hồng Quang, Sinh viên KT30A, ĐH Luật HN (Giải nhất cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học ĐH Luật HN năm 2008, Khóa luận tốt nghiệp năm 2009).

Quảng cáo là một nghệ thuật nhưng cũng là một chiến trường giữa các thương nhân. Bởi vậy, sự cạnh tranh trong quảng cáo là một điều tất yếu. Xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX, quảng cáo so sánh đang ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu trong kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh. Cho đến bây giờ, trong đời sống hàng ngày, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp những quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng có nội dung như “như bột giặt T mới là trắng”, “dầu gội tốt nhất Việt Nam”, “sản phẩm có giá tốt nhất”… Tuy nhiên, pháp luật mỗi nước có những quy định và những quan điểm trong giới chuyên môn khác nhau về loại hình quảng cáo này.
Pháp luật Cạnh tranh được xây dựng và đi vào thực tiễn của Việt Nam chưa lâu. Quảng cáo so sánh là một trong những quan hệ pháp luật cạnh tranh nhạy cảm nhất và được xử lý rất khác trong các hệ thống pháp luật khác nhau, bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng lại chứa đựng khá nhiều vấn đề phức tạp. Pháp luật Cạnh tranh cũng như pháp luật thương mại của Việt Nam nói chung còn non trẻ nên những vấn đề phức tạp này được quy định còn khá sơ sài trong hệ thống văn bản pháp luật. Khi xây dựng Luật Cạnh tranh (2004), nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh chưa có sự quan tâm đúng mức của các nhà làm luật và quảng cáo so sánh chỉ là một hành vi nhỏ trong hệ thống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Luật này. Với những nguyên do đó, việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, thương mại nói chung cũng như pháp luật về quảng cáo so sánh nói riêng là yêu cầu cần thiết và đòi hỏi có quá trình lâu dài, đi từ những vấn đề nhỏ đến vấn đề phức tạp.
Việc nghiên cứu so sánh, tìm hiểu pháp luật về quảng cáo so sánh trong mối tương quan với pháp luật Liên minh Châu Âu để hoàn thiện những quy định về vấn đề này là để góp phần xây dựng pháp luật cạnh tranh, pháp luật thương mại và tạo một môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh trong hoạt động quảng cáo cũng như nền kinh tế nói chung.
Đối với hành vi quảng cáo so sánh, như đã nói ở trên, là một hành vi nhỏ nên chưa được nghiên cứu nhiều và thiếu chiều sâu cần thiết. Hiện nay chỉ có một số bài viết đề cập trực tiếp đến vấn đề này, đó là: TS. Phan Huy Hồng, Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh tranh – một nghiên cứu so sánh luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, số 01/2007; Ths. Nguyễn Thị Trâm, Áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh về Quảng cáo so sánh và một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 9, tháng 05/2007. Bên cạnh đó, các công trình, bài viết khác về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hoạt động xúc tiến thương mại cũng có đề cập đến hành vi quảng cáo so sánh nhưng với dung lượng rất nhỏ. Nhìn chung, quảng cáo so sánh là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, có các cách tiếp cận mới hơn trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay.
(more…)
Advertisements

Sinh viên Luật với Cuộc thi SV Nghiên cứu khoa học!

Tháng Bảy 25, 2009

SINH VIÊN LUẬT VỚI CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trương Hồng Quang

Bài viết tham dự Hội thảo “Phong cách học của Sinh viên Luật” do báo SVVN phối hợp Đoàn Khoa Luật (VNU) tổ chức ngày 14/03/2009

Tạp chí Luật học số tháng 7/2010

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Có thể nói chưa bao giờ hoạt động khoa học pháp lý có nhiều tiềm năng như hiện nay. Do đó, nhu cầu nghiên cứu, khám phá lĩnh vực này ngày càng đòi hỏi những yêu cầu cao hơn, đang dạng và phong phú hơn. Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) sinh viên là một mảng không thể thiếu trong mỗi cơ sở đào tạo đại học được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập đến một trong số những hoạt động của NCKH sinh viên, đó là cuộc thi Sinh viên NCKH do Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức hàng năm dành cho sinh viên các trường Đại học trên toàn quốc. Cuộc thi này được bắt đầu từ năm 1989 đến nay đã tổ chức được 19 năm. Đó là một khoảng thời gian không dài nhưng cũng đủ để đánh giá được thực trạng cũng như cách thức tổ chức hoạt động NCKH sinh viên của các trường Luật nói riêng và các trường Đại học nói chung. Cuộc thi đã trở thành một cơ hội, một sân chơi hữu ích cho sinh viên nói chung cũng như sinh viên Luật nói riêng được thỏa mãn niềm đam mê cũng như rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho một cử nhân Luật tương lai. Rất nhiều sinh viên Luật đã vinh dự nhận được những phần thưởng xứng đáng của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Bài viết sau đây chỉ đề cập đến những vấn đề liên quan đến cuộc thi Sinh viên NCKH trong mối liên hệ với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung chứ không tham vọng đi sâu phân tích những kỹ năng, phương pháp NCKH cho sinh viên.

(more…)

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT VỀ XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

Tháng Bảy 23, 2009

Chương III

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT VỀ XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, để công nhận quyền được chết là một vấn đề lâu dài. Phong tục, tập quán và truyền thống Á Đông đã chi phối điều này. Bên cạnh đó, sự lo sợ Luật An tử khi ban hành sẽ bị lạm dụng cũng góp phần vào những quan điểm chống lại an tử hiện nay. Điều cần làm bây giờ là thay đổi những quan niệm, những cách nhìn nhận sai lầm về quyền được chết và cái chết êm ả chứ không phải cố gắng ban hành Luật An tử trong điều kiện chưa phù hợp như hiện nay.

I. ĐÁNH GIÁ VỀ XU HƯỚNG XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

1. Một vấn đề còn nằm trong tương lai

Như đã phân tích ở các chương trên, việc nhìn nhận vấn đề chấp nhận quyền được chết ở Việt Nam còn trong tương lai là đúng đắn. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã có những yếu tố và điều kiện ban đầu cho việc xây dựng Luật An tử. Khi Việt Nam đưa quyền được chết vào dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự 2005 tại Quốc hội khóa XI (kỳ họp thứ 6 và 7) là đã bắt đầu cho một hành trình mới: xây dựng Luật An tử. Tuy quyền được chết chưa được thông qua tại kỳ họp này nhưng cũng là sự kiện đóng vai trò ghi dấu mốc đầu tiên cho hành trình này. Thiết nghĩ, xây dựng Luật An tử là xu hướng chung của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Tất cả còn phụ thuộc chủ yếu về mặt thời gian: thích hợp hay chưa thích hợp.

Một điều phải công nhận là truyền thống phương Đông chúng ta luôn coi trọng sự sống con người, xem nó là thứ quý giá nhất. Từ lâu, quan niệm này đã ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn mỗi người dân. Tuy nhiên, có phải vì thế mà quyền được chết sẽ vĩnh viễn không được công nhận hay không? Không, chắc chắn là không phải như thế. Ngay cả phương Tây – nơi mà truyền thống, phong tục không quá nặng nề và tư tưởng thoáng hơn phương Đông thì cũng chỉ có vài nước công nhận quyền được chết và cái chết êm ả. Nhưng ở phương Tây thì lý do để đa phần các quốc gia không chấp nhận an tử lại không phải là phong tục, tập quán mà là vì các lý do thuộc về luật pháp, tôn giáo và chính trị… Còn ở phương Đông, vấn đề không chỉ dừng lại như thế. Làn sóng tư tưởng phương Tây ngày càng tràn vào Châu Á như vũ bão. Thế giới đã thay đổi, hòa nhập hay hòa tan vào dòng chảy toàn cầu hóa đang là bức xúc của nhiều quốc gia. Tuy vậy, quan niệm truyền thống cũng khó mà thay đổi ngay trước những tác động này, chí ít là ở thời điểm hiện tại. Do đó, phong tục, tập quán luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu khi xem xét quyền được chết.

(more…)

TÌNH HÌNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHẾT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Tháng Bảy 23, 2009

Chương II

TÌNH HÌNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHẾT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Với những vấn đề được trình bày ở chương I, chúng ta chỉ mới biết được các khái niệm ban đầu về quyền được chết và các vấn đề liên quan. Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau trong giới khoa học, đa phần chống lại an tử. Tại sao nước này quy định mà nước khác lại không quy định? Quan điểm của họ như thế nào?

I. QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1. Các quốc gia đã hợp pháp hóa quyền được chết và Luật An tử

Hà Lan đã đi vào lịch sử là Quốc gia đầu tiên áp dụng đạo Luật “cái chết êm ả”. Tháng 11 năm 2000, Hạ Viện Hà Lan đã thông qua dự Luật An tử. Đến ngày 10 tháng 04 năm 2001, với tỷ lệ áp đảo 46/28, Thượng viện Hà Lan đã bỏ phiếu thông qua đạo luật. Trước đó hơn 2 thập kỷ, các bác sỹ Hà Lan đã áp dụng phương pháp “cái chết êm ả” để giúp những người bệnh nặng ra đi. Việc thông qua đạo luật năm 2001 chỉ nhằm hợp pháp hóa một thực tế đã được chấp nhận, nhất là từ khi có bản hướng dẫn “cái chết hỗ trợ” được phác thảo vào năm 1993. Điều tra toàn quốc cho thấy gần 90% người dân nước này ủng hộ Luật An tử vì nó đảm bảo quyền cá nhân[1]. Năm 2006, Hà Lan còn cho phép an tử đối với trẻ em, trẻ sơ sinh mắc bệnh nặng không thể cứu chữa.

(more…)

Những vấn đề lý luận chung về Quyền được chết

Tháng Bảy 23, 2009

Chương 1 của đề tài “Một số vấn đề về Quyền được chết đối với quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam hiện nay” của Trương Hồng Quang, Cựu SV Khóa 30, ĐH Luật HN, đoạt giải cấp Bộ Cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học năm 2007.

————————————–

MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong một thế giới bất ổn

Chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo và toàn cầu hóa đang làm thay đổi bộ mặt chung của thực tại

Ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ trong gang tấc.

Quyền được sống? Bình thường, dễ hiểu. Quyền được chết? Còn rất mới mẻ và xa lạ. Quyền được chết là một vấn đề còn để mở, bao hàm trong nó nhiều quan niệm khác nhau, đa phần là chống lại. Nó không chỉ còn là vấn đề của y học mà còn thuộc về chính trị, văn hóa, xã hội… Luật pháp xuất phát từ cuộc sống. Nhưng cuộc sống lại không đơn giản. Do đó, đôi khi luật dễ làm mà lại khó thực hiện. Nên gắn quyền được chết như là một quyền cơ bản của cá nhân và phải được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như các quyền cơ bản khác. Chỉ khi nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật pháp và xã hội thì quyền được chết mới trở thành một vấn đề như bao vấn đề khác. Nếu không, sẽ mãi chỉ là đặc biệt và phức tạp…

Tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về quyền được chết. Người dân Việt hầu hết còn xa lạ với khái niệm này hoặc chỉ nghe mà chưa hiểu hết. Bên cạnh đó, truyền thống Á Đông đang chi phối từng ngày, từng giờ. Do vậy, công trình muốn góp phần tìm hiểu về quyền được chết hiện nay  với mong muốn quyền được chết sẽ không còn xa lạ với mọi người, để mọi người hiểu rõ được bản chất của “cái chết êm ả”. Bên cạnh đó, công trình đề cập đến một số vấn đề trong quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định ở Việt Nam và trên thế giới theo hai hướng chấp nhận và không chấp nhận quyền được chết, đặc biệt là các quốc gia đã hợp pháp hóa Luật An tử với phương pháp: tổng hợp, so sánh và rút ra quan điểm riên. Những tiếp xúc ban đầu bao giờ cũng mở ra chân trời mới. Có thể nó không thay đổi được một quan niệm cũ nhưng lại làm cho cái cũ chấp nhận cái mới. Quyền được chết  là phải như thế, không thể khác.

(more…)

‘Bộ chín’ – thế giới bí mật của tòa án tối cao Mỹ

Tháng Bảy 23, 2009

‘Bộ chín’ – thế giới bí mật của tòa án tối cao Mỹ

Cuốn ‘Bộ chín’ mang độc giả đến những phòng xử án ở tòa án quan trọng và bí mật nhất của nước Mỹ – Tòa án Tối cao. Ngoài ra, sách cũng tiết lộ chức năng của 9 nhân vật quyết định luật pháp của đất nước này.

Người viết Bộ chín là Jeffrey Toobin. Ông vốn là một luật sư, tác giả và một nhà phân tích luật cho đài truyền hình và các tờ như CNN, New Yorker. Ngoài việc thu thập nhiều tài liệu quan trọng, để thực hiện cuốn Bộ chín, Jeffrey Toobin đã phỏng vấn rất nhiều thẩm phán của Tòa án tối cao Mỹ và hơn 75 thư ký luật của họ.

Trong suốt hơn 200 năm qua, Tòa án tối cao Mỹ phải đối đầu với hàng loạt vấn đề chính trị. Những cuộc đối đầu này có khi thành công, có khi thất bại. Và một nhân vật rất quan trọng của Tòa án này là chánh án John Marshall. Trong suốt nhiệm kỳ lâu dài của mình, John Marshall có nhiều cống hiến to lớn không kém gì các tác giả soạn thảo ra Hiến pháp, nhằm định hình một cấu trúc bền vững cho chính phủ của một quốc gia đa sắc tộc.

Cuốn sách “Bộ chín” của tác giả Jeffrey Toobin vừa phát hành tại Việt Nam, bản quyền tác phẩm do Youbooks – Vinabook.com thực hiện và xuất bản.

Tuy vậy, trong nhiều thập kỷ tiếp theo, qua các đời tổng thống hoặc Quốc hội, Tòa án tối cao không đạt được nhiều hiệu quả hơn trong việc cải thiện chế độ nô lệ và không tránh được việc đưa đất nước khỏi rơi vào nội chiến. Và trong thời kỳ thuộc địa và bùng nổ kinh tế trước Thế chiến thứ nhất, Tòa án tối cao rút khỏi vị trí lãnh đạo mà chỉ còn chức năng xem xét đến những lợi ích kinh tế và những đồng minh chính trị của mình. Đến thập kỷ 1950-1960, dưới “triều đại” của chánh án tối cao Earl Warren, Tòa này mới khẳng định một cách kiên quyết nó sẽ cứng rắn và độc lập trong việc bảo vệ quyền hiến pháp.

Trải qua hàng trăm vụ kiện tụng, tranh chấp, xử lý gay cấn nhất, nhiều nhân vật quan trọng trong Tòa án tối cao Mỹ đã lèo lái tổ chức này đi theo hoặc cũng có thể chệch khỏi con đường mà dân tộc Mỹ đề ra. Những cuộc tranh cãi, tranh luận triền miên về các vấn đề chủng tộc, giới tính, tôn giáo và quyền lực của chính quyền bang… buộc Tòa án tối cao phải đưa ra những quyết định quan trọng, đúng đắn lẫn sai lầm để khẳng định chức năng của mình. Bộ chín là cuốn sách phác họa lịch sử sống động của Tòa án tối cao Mỹ, giúp độc giả thế giới hiểu thêm về những ngóc ngách trong hệ thống tư pháp của đất nước này.

SOCARTES TỰ BIỆN

Tháng Bảy 23, 2009

SOCARTES TỰ BIỆN

– Tác giả: Plato – Xenophon; Người dịch, tiểu dẫn, chú thích: Nguyễn Văn Khoa.
– NXB tri thức ấn hành năm 2006, 156 trang, giá: 22k.

– Cấu trúc gồm có 3 phần:

1. Dẫn vào Socrates tự biện.
2. Socrates tự biện (Plato).
3. Socrates tự biện trước Tòa (Xenophon).

Ở phần đầu của cuốn sách: “Dẫn vào Socrates tự biện”, người dịch đã giới thiệu một cách khái quát bối cảnh lịch sử đương thời về nền dân chủ Athens từ thế kỷ VI đến IV trước công nguyên. Với quan điểm: giới thiệu một tác phẩm thì trước hết phải dẫn nhập người đọc đi vào bối cảnh lịch sử đương thời, người dịch đã thành công trong việc dẫn dắt người đọc đi hết thời kỳ này đến thời kỳ khác của nền “dân chủ” này. Liệu nó có đúng với bản chất của từ “dân chủ” hay không? Khi đọc cuốn sách này bạn sẽ thu được những điều rất thú vị có thể làm thay đổi những quan niệm trước đây về Athens. Đặc biệt, nếu bạn nào đang học môn LS NN & PL thế giới, phần này sẽ rất hữu ích trong việc tìm hiểu thêm về chế độ của nhà nước Athens thể hiện thông qua các hoạt động quản lý, các chính sách… Nhưng phần này chỉ là tiền đề để khái quát lên cả một biểu tượng Socrates – nhà triết gia đầu tiên bởi ông đã dám xác lập: “sống” đồng nghĩa với “triết lý”; là nhà nhân quyền đầu tiên bởi ông đã dám xác lập tự do tư duy, tự do phát biểu, tự do sống cuộc đời mình chọn lựa, như một thứ quyền con người, cao hơn bất cứ một bộ luật nào; là người trí thức đầu tiên theo chủ nghĩa hiện đại vì ông dám tin vào một thứ chức năng thiên phú: phê phán không nhân nhượng xã hội mà ông đang sống. Tuy nhiên, cuối cùng, ông đã bị xét xử bởi chính nền dân chủ danh nghĩa của Athens, bởi những kẻ đã thấy cần thiết phải tố tụng ông. Do vậy, 2 phần cuối của cuốn sách tập trung vào vụ án Socrates – nơi mà kô có một đảm bảo khách quan và công bình nào, phiên tòa chỉ là một màn trình diễn với tất cả những đặc tính của của một bi kịch Hy Lạp. Ông đã không dùng một bài tự biện pháp lý để tự biện hộ cho mình trước tòa. Ông đã dùng phiên tòa xử ông như một diễn đàn để gửi đến những người xét xử ông, và qua họ đến các thành quốc Hy Lạp, rồi qua các thành quốc này đến thế giới đương thời và cả mai sau một thông điệp “huyền thuyết lập ngôn của triết học”, nó kô ngừng chất vấn lương tâm con người và đặt ra một câu hỏi lớn về công lý cho mọi chế độ chính trị. Đồng thời, với nó, Socrates đã trở thành một mẫu mực bất tử. Tất cả những khổ đau, buồn vui, hạnh phúc của thế gian đã quỳ dưới chân con người của thời đại này bởi những lời lẽ thuyết phục, sắc sảo và đượm chất nhân văn cao cả, hướng đến nền công lý cho loài người. Tôi xin mượn đoạn kết của cuốn sách để kết lại phần giới thiệu của mình ngày hôm nay: “Tự ca ngợi mình trước tòa,…hạnh phúc nhất thế gian” (trang 152, 153).

Xin cảm ơn…/.