Sinh viên Luật với Cuộc thi SV Nghiên cứu khoa học!

SINH VIÊN LUẬT VỚI CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trương Hồng Quang

Bài viết tham dự Hội thảo “Phong cách học của Sinh viên Luật” do báo SVVN phối hợp Đoàn Khoa Luật (VNU) tổ chức ngày 14/03/2009

Tạp chí Luật học số tháng 7/2010

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Có thể nói chưa bao giờ hoạt động khoa học pháp lý có nhiều tiềm năng như hiện nay. Do đó, nhu cầu nghiên cứu, khám phá lĩnh vực này ngày càng đòi hỏi những yêu cầu cao hơn, đang dạng và phong phú hơn. Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) sinh viên là một mảng không thể thiếu trong mỗi cơ sở đào tạo đại học được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập đến một trong số những hoạt động của NCKH sinh viên, đó là cuộc thi Sinh viên NCKH do Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức hàng năm dành cho sinh viên các trường Đại học trên toàn quốc. Cuộc thi này được bắt đầu từ năm 1989 đến nay đã tổ chức được 19 năm. Đó là một khoảng thời gian không dài nhưng cũng đủ để đánh giá được thực trạng cũng như cách thức tổ chức hoạt động NCKH sinh viên của các trường Luật nói riêng và các trường Đại học nói chung. Cuộc thi đã trở thành một cơ hội, một sân chơi hữu ích cho sinh viên nói chung cũng như sinh viên Luật nói riêng được thỏa mãn niềm đam mê cũng như rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho một cử nhân Luật tương lai. Rất nhiều sinh viên Luật đã vinh dự nhận được những phần thưởng xứng đáng của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Bài viết sau đây chỉ đề cập đến những vấn đề liên quan đến cuộc thi Sinh viên NCKH trong mối liên hệ với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung chứ không tham vọng đi sâu phân tích những kỹ năng, phương pháp NCKH cho sinh viên.

2. NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIỆC THAM GIA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỐI VỚI SINH VIÊN

Những hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên ở đây có thể kể ra như: các dạng bài tập tín chỉ theo môn học, các diễn đàn Luật học, Nội san, Tập san, các cuộc thi Olympic các môn học, các buổi thảo luận chuyên đề, hội thảo, các câu lạc bộ học thuật[1], cuộc thi Sinh viên NCKH hàng năm do Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức,… Có thể nêu ra ngắn gọn một số lợi ích của sinh viên khi tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và cuộc thi Sinh viên NCKH nói riêng như sau:

Thứ nhất, việc tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học giúp sinh viên có nơi để áp dụng các kiến thức đã học một cách hiệu quả, tiếp thu thêm kiến thức từ những nguồn khác nhau để đánh giá và hoàn thiện lại những kiến thức của bản thân (ví dụ như thông qua các diễn đàn trao đổi học thuật, tranh luận các tình huống pháp lý dựa trên cơ sở nền tảng lý luận của nhà trường).

Thứ hai, tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học giúp rèn luyện bảnh lĩnh sinh viên Luật. Một số hoạt động như: các câu lạc bộ học thuật, diễn đàn, các cuộc thi[2], các diễn đàn, buổi diễn án[3] … sẽ giúp cho sinh viên được tham gia vào các hoạt động Đoàn thể mang tính học thuật, nâng cao tính năng động, khả năng hùng biện, nói và tranh luận trước đám đông về các vấn đề lien quan đến học thuật hay tiếp cận được thực tế nhiều hơn. Các hoạt động này vừa mang lại kiến thức chuyên môn vừa giúp cho sinh viên luật tự tin hơn với những kỹ năng cần thiết được rèn luyện qua từng ngày.

Thứ ba, tham gia nghiên cứu khoa học, đặc biệt là cuộc thi Sinh viên NCKH hàng năm sẽ giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng viết, phân tích, tổng hợp tài liệu thông qua việc thực hiện một đề tài nghiên cứu. Đây là một bước tập dượt tốt cho việc viết khoá luận tốt nghiệp; đề tài nghiên cứu có thể được nâng cấp thành khoá luận tốt nghiệp; có cơ hội rèn luyện nghiên cứu với sự trợ giúp của giảng viên; mục đích để khi ra trường có thể thực hiện được ngay công việc nghiên cứu theo nhiệm vụ được giao hoặc học lên cao học[4].

3. MỘT SỐ THỰC TRẠNG TRONG CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN LUẬT

Qua kinh nghiệm một số năm tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và cuộc thi Sinh viên NCKH nói riêng, người viết có một số nhận định và đánh giá về thực trạng của hoạt động này như sau[5]:

3.1. Nhận thức về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Có thể nhận thấy, một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc thi Sinh viên NCKH nói riêng và hoạt động NCKH sinh viên nói chung là nhận thức của sinh viên về hoạt động nghiên cứu khoa học. Từ trước đến nay, hầu hết các sinh viên đều cho rằng:

(i) Nghiên cứu khoa học là phải viết một công trình, một đề tài nghiên cứu còn những dạng bài tập tín chỉ, các cuộc thi Olympic các môn học, các bài báo,… không phải là nghiên cứu khoa học.

(ii) Công việc nghiên cứu khoa học là hoạt động chỉ dành cho những sinh viên giỏi hay những nhà nghiên cứu lớn, “cây cao bóng cả” ở những viện nghiên cứu, trường đại học với tầm quy mô lớn.

(iii) Khoa học pháp lý là một trong những ngành khoa học xã hội, cũng như những ngành khoa học xã hội – nhân văn khác, kết quả nghiên cứu trong khoa học pháp lý có thể được nhìn nhận, đánh giá theo những quan điểm khác nhau nhiều lúc trái ngược nhau tại mỗi thời điểm cụ thể. Ngoài ra, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn không như các khoa học tự nhiên, tức hiệu quả mang lại không tức thì và rõ ràng cho nên trong suy nghĩ của đa số sinh viên là chỉ có các ngành tự nhiên mới là khoa học vì vậy phần lớn sinh viên không mặn mà với việc nghiên cứu trong lĩnh vực pháp lý[6].

Chính những nhận thức không đúng đắn trên đã dẫn đến tình trạng sinh viên không thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, hay có lúc đang thực hiện hoạt động này mà không nhận thức được và thực tế đã cho thấy số lượng sinh viên Luật tham gia cuộc thi Sinh viên NCKH khá ít so với tổng số sinh viên của cả trường. Có thể lấy ví dụ như, tại trường ĐH Luật Hà Nội, bình quân hàng năm chỉ có khoảng 50 – 60 công trình của 150 sinh viên/tổng số sinh viên toàn trường là gần 5000 sinh viên tham gia cuộc thi. Nhìn chung, lý do của vấn đề này là do các cơ sở đào tạo Luật chưa có những hình thức tuyên truyền cũng như phổ biến kiến thức và những nhận biết cơ bản về nghiên cứu khoa học cho sinh viên dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc, ảnh hưởng đến chất lượng NCKH sinh viên, thể hiện cụ thể trong cuộc thi sinh viên NCKH hàng năm. Bên cạnh đó, niềm say mê nghiên cứu của sinh viên không được khơi nguồn, hâm nóng, bởi trong quá trình giảng dạy giáo viên đã vắt kiệt những kiến thức và hiểu biết của mình truyền đạt cho sinh viên. Sinh viên tiếp nhận kiến thức ấy như là một chuẩn mực duy nhất đúng và đã là tận cùng mà hầu như không còn vấn đề gì phải suy nghĩ, phát triển hoặc tìm tòi nghiên cứu. Sự độc lập và khả năng suy nghĩ, sáng tạo, niềm đam mê nghiên cứu của sinh viên dần dần thay thế bằng sự tiếp thu bị động[7].

3.2. Về cách thức tổ chức cuộc thi

Khác với hoạt động NCKH sinh viên nói chung là hoạt động thường xuyên liên tục, xuyên suốt và gắn liền với nhiệm vụ học tập của mỗi sinh viên, cuộc thi Sinh viên NCKH mang tính thời vụ (một năm tổ chức một lần) và dành cho toàn bộ sinh viên hệ chính quy của trường. Có thể nhận thấy quy trinh đánh giá, tuyển chọn công trình dự thi cấp Bộ của các trường đều đảm bảo tính công bằng, chính xác. Hầu hết các công trình dự thi cấp Bộ đều đạt giải chính là minh chứng cho nhận xét này[8]. Tuy nhiên, vấn đề tổ chức cuộc thi ở các cơ sở đào tạo Luật hiện nay còn có một số điều bất cập như sau:

(i) Thời điểm phát động cuộc thi chưa hợp lý. Thông thường, các trường phải nộp các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên[9] lên Bộ Giáo dục & Đào tạo vào tháng 9 hàng năm. Có trường từ lúc phát động đến lúc nộp công trình chỉ có 4-5 tháng. Trong khi đó, để có một công trình chất lượng thì thời gian dành cho nó 5 tháng là khá ngắn. Hầu hết các sinh viên thường đợi trường triển khai, phát động mới tiến hành thực hiện đề tài cho nên với khoảng thời gian ngắn như thế đã dẫn đến chất lượng của các đề tài không cao, chậm trễ về tiến độ thực hiện so với quy định. Thông thường một đề tài cấp trường cần thời gian ít nhất là 6 tháng – 1 năm để triển khai và thực hiện. Tuy nhiên, cũng có một số trường đã triển khai cuộc thi trong vòng 1 năm và bên cạnh đó cũng có một bộ phận sinh viên đã chủ động thực hiện đề tài trước khi trường phát động.

(ii) Một số nơi không tổ chức Hội nghị NCKH Sinh viên để các công trình đạt chất lượng cao từ 2 vòng chấm độc lập được báo cáo và phản biện trước Hội đồng khoa học. Điều này đã dẫn đến tình trạng một số công trình được chọn đi dự thi cấp Bộ nhiều khi không có được định hướng hoàn thiện công trình từ Hội đồng như thế nào; không biết được đánh giá, nhận định của giáo viên chấm hai vòng ra sao. Tất nhiên, để tổ chức một Hội nghị NCKH sinh viên còn cần nhiều yếu tố khác như: số lượng công trình, số lượng sinh viên tham gia cuộc thi năm đó, sự phù hợp về mặt thời gian,… Nhưng cũng nên nhìn nhận rằng, chính các yếu tố này đã phản ánh mức độ tham gia NCKH sinh viên của trường và sự tổ chức cuộc thi đạt chất lượng như thế nào.

(iii) Việc thông tin và tuyên truyền về quá trình cũng như thể lệ cuộc thi còn chưa đạt yêu cầu. Nhiều sinh viên không nắm rõ quy trình và thể lệ cuộc thi dẫn đến thực hiện sai quy định hình thức trình bày và những hiểu lầm không đáng có. Điều này xuất phát từ hai phía: công tác tuyên truyền của đội ngũ cán bộ Đoàn – Hội chưa tốt, đôi lúc không nhiệt tình và chưa có ý thức cao; nhiều sinh viên chưa chủ động tiếp cận, cập nhật thông tin về cuộc thi.

3.3. Về quá trình thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên

Qua thực tiễn một số năm tham gia cuộc thi Sinh viên NCKH và có tham khảo một số đánh giá tình hình NCKH sinh viên, người viết có một số nhận xét về quá trình thực hiện một đề tài NCKH của sinh viên như sau:

Thứ nhất, Chọn đề tài và định hướng đề tài nghiên cứu.

(i) Chọn đề tài. Tuy thời gian gần đây đã xuất hiện những đề tài mới, lạ hoàn toàn do sinh viên đề xuất nhưng bên cạnh đó vẫn có một số bất cập trong việc chọn đề tài của sinh viên như: quá phụ thuộc vào danh mục đề tài định hướng nghiên cứu do trường đưa ra; chọn đề tài quá rộng và quá tầm sinh viên, mang tính lý luận ở tầm vĩ mô quá cao (ví dụ như đánh giá hoạt động xây dựng pháp luật của Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới); đề tài mang tính sang trọng, lạ lẫm nhiều khi không có tính khả thi (ví dụ như cải tổ Quy chế hoạt động của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc); đề tài cũ về cả nội dung và hình thức hoặc không phù hợp với ngành luật[10]; thiếu chủ động trong việc chọn lựa đề tài nên tình trạng trùng đề tài, trùng nội dung nghiên cứu cũng như góc độ tiếp cận không phải là hiếm.

(ii) Định hướng đề tài nghiên cứu. Đây là công việc của các Khoa, Tổ bộ môn. Danh mục đề tài được xây dựng không phải là ít nhưng nhiều khi chưa hấp dẫn đối với sinh viên, chưa có nhiều đề tài thực tiễn đang đòi hỏi hay mang tính lý luận cao, những vấn đề đã cũ, đã có nhiều người viết,… Nhiều giảng viên chưa chủ động trong việc ra đề tài, đôi khi không mặn mà với NCKH của sinh viên nên ra đề qua loa, đại khái. Sinh viên không bắt buộc phải lựa chọn trong danh mục này nhưng nó cũng ảnh hưởng khá nhiều đến việc chọn đề tài của sinh viên.

Thứ hai, Tìm, phân loại, tổng hợp và đánh giá tài liệu.

Tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý có những đặc thù riêng, mang nhiều tính định tính hơn là định lượng; số liệu thực tế của ngành luật thường là những vụ việc hơn là những số liệu thống kê[11] nên thường vụn vặt, khó xử lý. Do đó, đòi hỏi người nghiên cứu cần có những kiến thức nền tảng và sự hướng dẫn cũng như kinh nghiệm của những người đi trước. Vấn đề xử lý tài liệu của sinh viên Luật hiện đang tồn tại những nhược điểm sau:

(i) Tìm kiếm tư liệu chiếm vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài của sinh viên. Nhưng có thể thấy hầu hết sinh viên chưa có kỹ năng tìm kiếm, tổng hợp và đánh giá tài liệu đúng đắn; chưa có kiến thức cơ bản về tìm kiếm, xử lý và phân tích tài lịêu. Đa số tiếp nhận các tư liệu một cách máy móc mà không phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm riêng của mình.

(ii) Việc tìm kiếm tài liệu đôi khi quá thiếu chiều rộng (tìm kiếm từ quá ít nguồn, ví dụ chỉ tìm tại thư viện mà không tìm ở nguồn khác) hay quá thiếu chiều sâu (khai thác quá ít tài liệu từ một nguồn, ví dụ như ở thư viện mà chỉ tìm các khoá luận, luận văn, luận án mà không tìm ở các bài viết khoa học trên các tạp chí, sách chuyên ngành,…).

(iii) Đa số sinh viên tìm tài liệu trước rồi mới làm đề cương cho đề tài. Điều này đã dẫn đến việc “bội thực” tài liệu, nhiều tài liệu không liên quan hay chỉ liên quan ít đến vấn đề nghiên cứu  nên thời gian tìm tài liệu vô hình chung đã bị kéo dài hơn so với cách thức làm đề cương trước, khoanh vùng vấn đề quan trọng rồi mới tiến hành đi tìm tài liệu.

(iv) Nhiều sinh viên quá phụ thuộc vào tài liệu, cho rằng không có nhiều tài liệu thì không hoàn thành được đề tài.

Thứ ba, Viết và trình bày một đề tài nghiên cứu khoa học.

Một trong những mục tiêu của nghiên cứu khoa học là giúp cho sinh viên rèn luyện kỹ năng viết ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học. Tuy nhiên, còn một số thực tế trong vấn đề này có thể kể đến như:

(i) Nhiều sinh viên vẫn đi theo lối mòn cũ với công trình phải tròn trĩnh 3 chương, đôi khi phần lý luận quá nhiều mà thực trạng và kiến nghị lại quá ít, không đủ độ sâu và chưa bàn trúng vấn đề đang nghiên cứu.

(ii) Nhiều sinh viên chưa có phương pháp nghiên cứu đúng đắn, phù hợp nên có trường hợp không cân đối được thời gian nghiên cứu và thời gian học tập, không nắm chắc các phương pháp nghiên cứu ngành khoa học xã hội.

(iii) Trong phần thực trạng của nhiều đề tài sinh viên liệt kê các thông tin, số liệu, vụ việc cụ thể nhưng không có phân tích và nhận định của tác giả; phần giải pháp hoàn thiện sinh viên nêu ra những kiến nghị to tát (ví dụ như xây dựng một văn bản mới, ban hành hẳn một Luật mới hoặc đưa ra những giải pháp chung chung, thiên về mặt quản lí nhà nước hơn là các vấn đề học thuật) và thường là không có tính thuyết phục, tức không dựa trên một sơ sở lý luận hoặc thực tiễn nào vì vậy thường là không khả thi.

(iv) Sinh viên chưa quan tâm đúng mức đến việc trình bày, hình thức của đề tài, không tuân thủ đúng thể lệ của cuộc thi; cách diễn đạt trong nhiều công trình còn kém, chưa hiểu đúng tầm quan trọng của chú thích (footnotes) nên hầu như trích dẫn mà không nêu nguồn tài liệu, danh mục tài liệu tham khảo còn sơ sài (ví dụ chỉ nêu chung chung Công báo năm 2001, 2002,…); chất lượng nhiều công trình chưa đạt mức trung bình.

3.4. Về các hình thức hỗ trợ, thu hút sinh viên tham gia cuộc thi Nghiên cứu khoa học

Hiện nay, tại các cơ sở đào tạo Luật, kinh phí cho nghiên cứu khoa học nói chung và NCKH sinh viên nói riêng còn ít, thậm chí có trường còn không có hỗ trợ kinh phí cho sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, mức thưởng cho các công trình đoạt giải còn chưa xứng tầm và chưa thu hút sinh viên (thậm chí có trường mức thưởng cho các giáo viên hướng dẫn sinh viên đạt các giải khác nhau là như nhau). Có lẽ nguyên nhân lớn nhất của tình trạng này là do sự nhận thức chưa đúng đắn, đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của NCKH sinh viên. Nhiều đơn vị chỉ hô hào, cổ động nhưng lại chưa có những hình thức cụ thể để hỗ trợ sinh viên và căn bệnh hình thức lẫn thành tích vẫn còn tồn tại.

Một điều bất cập khác là địa điểm thu thập tư liệu nghiên cứu như thư viện,… lại chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên học tập và thực hiện đề tài. Tất nhiên, việc tìm kiếm tài liệu là do bản thân sinh viên chủ động nhưng cũng cần có những hỗ trợ tối thiểu từ phía nhà trường để tạo cơ sở cho sinh viên thực hiện các ý định của mình. Một nhân tố quan trọng quan trọng quyết định không nhỏ đến chất lượng của đề tài là giáo viên hướng dẫn (GVHD). Có thể thấy một thực tế là các GVHD chỉ tiến hành công việc hướng dẫn theo những kinh nghiệm của chính mình hay kế thừa từ chính thầy, cô đã hướng dẫn mình[12]; một bộ phận giảng viên chưa nhiệt tình với công tác hướng dẫn sinh viên NCKH[13], còn dễ dãi trong hướng dẫn, bỏ qua những lỗi cơ bản của sinh viên trong việc thực hiện đề tài của sinh viên như: trích dẫn, chắp vá tài liệu,… dẫn đến những tư duy nghiên cứu lệch lạc về sau cho sinh viên.

3.5. Vấn đề sử dụng các công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên

Các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện với nhiều mục đích khác nhau nhưng đều có một mục tiêu chung là khám phá khoa học, phục vụ cho việc nghiên cứu tốt hơn. Từ trước đến nay, có một điều dễ nhận thấy là tình trạng “đắp chiếu” công trình sau nghiên cứu, công bố không phải là chuyện hiếm. Đối với cuộc thi Sinh viên NCKH, thông thường mỗi sinh viên được chọn dự thi cấp Bộ phải nộp 2 bản công trình của mình cho Bộ Giáo dục & Đào tạo. Thực tế, sau khi chấm, các công trình này đi đâu về đâu là một câu hỏi chưa có lời đáp, có lẽ nó chỉ dùng để chấm, rồi trao giải là xong. Còn ở trường, Phòng Quản lý khoa học (QLKH) cũng giữ một bản công trình của sinh viên đoạt giải cấp Bộ nhưng hầu như rất ít trường đưa lên thư viện cho các sinh viên khác tham khảo. Bên cạnh đó, như đã nêu ở phần trên, đề tài nghiên cứu khoa học ngành pháp lý có đặc điểm kết quá áp dụng trong thực tế không thể hiện ngay tức thì (ví dụ như việc đưa ra một kiến nghị hoàn thiện pháp luật không thể được áp dụng ngay vì còn phụ thuộc vào quy trình xây dựng, sửa đổi pháp luật của Quốc hội, quan điểm của các nhà làm luật). Cho nên, chính tình trạng không quan tâm đến hiệu quả sử dụng (chí ít về mặt phục vụ việc học tập, nghiên cứu) cũng như thiếu tính chủ động trong việc công bố, đưa các kết quả nghiên cứu vào áp dụng cũng vô hình chung tạo ra quan điểm cho rằng đề tài nghiên cứu chỉ có tính lí luận suông, thiếu thực tế và ngại làm NCKH cho sinh viên. Có thể thấy, chúng ta chưa có hình thức sử dụng công trình NCKH của sinh viên một cách đúng đắn và hữu ích.

4. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẶT RA

Những giải pháp được nêu ra dưới đây với mong muốn nâng cao chất lượng cuộc thi sinh viên NCKH nói riêng và hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Luật nói chung.

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hoạt động Nghiên cứu khoa học cho sinh viên.

Để làm được điều này, tổ chức Đoàn – Hội nên kết hợp với Bộ phận QLKH của trường để tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về hoạt động nghiên cứu khoa học, giúp cho sinh viên nhận thức được bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như lắng nghe ý kiến thắc mắc và đóng góp của sinh viên về các hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên. Từ đó, hình thành nên những nhận thức đúng đắn về hoạt động nghiên cứu khoa học, tạo nền tảng cho chất lượng của những hình thức nghiên cứu khoa học về sau của sinh viên. Hơn nữa, khi sinh viên được tham gia vào việc hoàn thiện sân chơi chung trí tuệ cho chính bản thân mình thì sẽ chủ động, tích cực tham gia một cách nghiêm túc.

Thứ hai, tổ chức cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp và quy mô hơn.

Cuộc thi Sinh viên NCKH cấp trường hàng năm nên được tổ chức vào thời gian hợp lý hơn cho sinh viên (tất nhiên phải phù hợp với lịch trình cuộc thi của Bộ Giáo dục & Đào tạo). Mô hình thời gian tốt nhất là phát động vào cuối tháng 9 hàng năm và nhận công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên vào đầu tháng 8 năm sau để chọn lựa tham dự cuộc thi Cấp Bộ của năm đó vào đầu tháng 9. Tất nhiên, để tránh bị động và có thể phân bổ thời gian hợp lý, sinh viên cũng nên chủ động tiến hành thực hiện đề tài, không nên chờ đến khi Trường phát động mới bắt đầu[14]. Bên cạnh đó, nhất thiết phải có Hội nghị NCKH sinh viên tổ chức sau khi đã chấm xong 2 vòng cuộc thi cấp trường. Tại Hội nghị, tác giả các công trình đạt chất lượng cao qua 2 vòng phải bảo vệ đề tài của mình để từ đó nhận ra được những nhược điểm còn tồn tại và hoàn thiện chúng. Điều này sẽ giúp cho chất lượng của các công trình dự thi cấp Bộ cao hơn, điều mà nếu không làm Hội nghị NCKH sinh viên sẽ ít khi có được. Cũng tại Hội nghị, các sinh viên có thể giao lưu, học hỏi lẫn nhau[15].

Việc xây dựng danh mục đề tài định hướng nghiên cứu cũng cần được chú trọng hơn nữa. Người viết cho rằng, nên xây dựng danh mục đề tài theo cách thức: giảng viên nào muốn hướng dẫn sinh viên NCKH thì tự ra đề tài để sinh viên lựa chọn, đăng ký và hướng dẫn luôn cho sinh viên đó. Điều này sẽ tiết kiệm được thời gian cho sinh viên đi liên hệ GVHD cũng như hình thành những đề tài nghiên cứu có chất lượng, tránh tình trạng như hiện nay nhiều sinh viên không “nhờ” được ai hướng dẫn nên không được định hướng và phản biện.

Công tác thông tin về thể lệ, cách thức tham dự, quy trình thực hiện đề tài NCKH cần được nâng cao hơn nữa, phổ biến chi tiết đến từng Chi đoàn trong trường. Để thực hiện tốt mục đích này, đội ngũ cán bộ Đoàn – Hội cần được tập huấn kỹ năng tuyên truyền và tinh thần trách nhiệm cao hơn nữa bởi đây là lực lượng quan trọng trong việc nâng cao thông tin cuộc thi đến các sinh viên khác. Đẩy mạnh hoạt động NCKH phải là nhiệm vụ của mọi thành phần đoàn thể, trong đó Đoàn thanh niên và Hội sinh viên là những hạt nhân chủ đạo. Tuy nhiên, ngược lại, sinh viên chúng ta cũng nên chủ động tiếp cận, tìm hiểu thông tin về cuộc thi cũng như quy trình để thực hiện một cách tốt nhất. Nếu thông tin tốt, đầu tiên, chúng ta sẽ có được những công trình đáp ứng được về mặt hình thức – vốn là một điều quan trọng trong một cuộc thi có tính ganh đua cao.

Thứ ba, giải pháp thu hút sinh viên tham gia cuộc thi sinh viên Nghiên cứu khoa học.

Ngành Luật về bản chất là một ngành khó, sự đòi hỏi chính xác cao trong ngành khoa học này đã khiến cho số lượng sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học khá khiêm tốn. Tuy nhiên, có những lý do chủ quan khác cũng góp phần dẫn đến thực trạng trên, đó là: kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và NCKH sinh viên nói riêng còn ít như đã phân tích ở trên. Thiết nghĩ, có thể đổi mới theo hình thức: hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cho sinh viên với điều kiện phải hoàn thành công trình nộp về trường và phải đạt chất lượng trung bình/khá trở lên. Nên có chế độ cộng điểm trung bình chung học tập cho những sinh viên đạt giải cấp Bộ. Việc nâng cao mức thưởng cho sinh viên và GVHD là một biện pháp để kích thích sự tham gia của sinh viên vào cuộc thi này. Bên cạnh đó, có thể quy định tham gia cuộc thi sinh viên NCKH là một trong những yếu tố để xét điều kiện viết khóa luận tốt nghiệp. Biện pháp này buộc sinh viên phải tiến hành làm quen với NCKH để tập luyện những kỹ năng cho việc viết khóa luận sau này[16]. Đây là những biện pháp đã được một số trường (không phải ngành luật) áp dụng và đã đạt được những kết quả nhất định. Nhìn chung, phải nhìn nhận đúng bản chất và vai trò của hoạt động NCKH sinh viên mới có thể sử dụng những biện pháp này thực sự có hiệu quả.

Thứ tư, phát huy các yếu tố góp phần nâng cao chất lượng đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên.

Tư liệu và GVHD là hai trong số những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của một đề tài NCKH sinh viên. Đối với vấn đề tư liệu, thư viện là một trong những nơi mà sinh viên thường nghĩ đến đầu tiên cho quá trình nghiên cứu khoa học của mình. Do đó, cần có những sự đổi mới, cập nhật những tài liệu mới, phong phú hơn nữa để đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Với một thư viện, tính đủ – đa dạng – hữu ích là những yêu cầu cần có cho một nghiên cứu tốt. Đối với vấn đề GVHD, không thể phủ nhận rằng hơn 95% nội dung của nghiên cứu khoa học là lao động của sinh viên, song không thể xem thường phần 5% còn lại, bởi thiếu nó thì một nghiên cứu khoa học không thể thành công và đi đúng hướng[17]. Thiết nghĩ, hàng năm nên tổ chức những buổi tọa đàm về cách thức, phương pháp, công việc của một giáo viên hướng dẫn bên cạnh những buổi tọa đàm về phương pháp giảng dạy; quy định hướng dẫn NCKH cho sinh viên là một nghĩa vụ của giảng viên. Những biện pháp này sẽ giúp cho GVHD phát huy được vai trò định hướng, tư vấn, trợ giúp và huấn luyện của mình[18]. Ngược lại, sinh viên cũng nên chủ động hơn trong việc nhờ GVHD, ví dụ như nên làm đề cương trước khi đến nhờ giáo viên (cho dù chưa hoàn chỉnh) vì qua đó, giáo viên sẽ dễ đồng ý hơn bởi thấy sinh viên đã có sự tìm tòi, nghiên cứu nhất định về vấn đề sắp nghiên cứu so với những sinh viên chưa tìm hiểu gì về vấn đề đó.

Thứ năm, thay đổi một số quan niệm về đề tài nghiên cứu khoa học.

Vấn đề này cần sự nhìn nhận từ nhiều phía: sinh viên, GVHD, giáo viên chấm, độc giả,… Cần thay đổi những quan niệm như: một công trình phải tròn trĩnh ba chương mà không nên là hai chương hay phân vấn đề ra làm nhiều phần nhỏ để trình bày; thay đổi thứ tự các chương như Thực trạng – Lý luận – Giải pháp thay cho Lý luận – Thực trạng – Giải pháp; không nên đưa ra các yêu cầu cao về lý luận mà nên tập trung nghiên cứu thực trạng phân tích, lý giải được thực trạng chỉ ra được các vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện, tuân thủ pháp luật; hiểu đúng đắn về tính thực tiễn của một đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp lý (không thể có kết quả áp dụng thực tiễn ngay tức thì như các ngành khoa học tự nhiên – kỹ thuật).

Thứ sáu, đa dạng hóa các hình thức bổ trợ nghiên cứu khoa học sinh viên.

Các hình thức bổ trợ NCKH sinh viên ở đây cũng có thể hiểu là các hình thức NCKH sinh viên đặt nền tảng cho sinh viên tham gia cuộc thi sinh viên NCKH. Phòng QLKH nên đưa những công trình NCKH của sinh viên có chất lượng hàng năm lên thư viện để các sinh viên khác có thể tham khảo và học hỏi, giao lưu[19]. Ở một số cuộc thi khác như cuộc thi Euréka của Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh có kế hoạch sử dụng công trình NCKH sinh viên để làm ngân hàng đề tài NCKH cho sinh viên tham khảo, học hỏi. Ngày 10/12/2008, ngân hàng NCKH sinh viên ra đời cùng với thư viện nghiên cứu khoa học tại trụ sở Thành đoàn TP.HCM, sẽ là nơi đăng tải và lưu giữ những nghiên cứu khoa học được vào chung kết cuộc thi Euréka trong suốt 10 năm qua. Có thể kể đến một số hình thức bổ trợ khác như: các buổi thảo luận chuyên đề, tọa đàm kỹ năng viết và thực hiện một đề tài NCKH (chú trọng đến những cách thức viết, trình bày đề tài mới, mang tính sáng tạo cao); đẩy mạnh các hoạt động của các Câu lạc bộ học thuật trong trường, tạo môi trường cho sinh viên tham gia trình bày những nghiên cứu ban đầu của mình; có những sân chơi quy mô nhỏ như nội san[20], diễn đàn,… Sẽ không có những công trình NCKH sinh viên có chất lượng nếu không có sự say mê, tìm tòi nghiên cứu từ những khởi đầu nhỏ bé, giản đơn này.

5. KẾT LUẬN

Luật học là một ngành có tầm ảnh hưởng lớn. Pháp luật quy định những quy tắc xử sự chung được áp dụng cho mọi công dân của một quốc gia, vì thế nghiên cứu khoa học pháp lý rất quan trọng và có nhiều nét khác biệt với những NCKH khác. Từ đó dẫn đến nhiều sinh viên Luật rất ngại làm NCKH. Qua những phân tích ở trên, chúng ta có thể khẳng định rằng (i) nghiên cứu khoa học là hoạt động không phải lúc nào cũng to tát, chỉ dành cho những sinh viên giỏi; (ii) cuộc thi Sinh viên NCKH là một sân chơi trí tuệ đầy bổ ích và lý thú cho các cử nhân luật tương lai rèn luyện một số kỹ năng cần thiết cho nghề nghiệp tương lai; (iii) cần có những giải pháp mạnh dạn hơn nữa để thúc đẩy hoạt động NCKH nói chung và cuộc thi Sinh viên NCKH phát triển hơn nữa, để thay đổi quan niệm “NCKH sinh viên chỉ mang tính chất phong trào”. Khoa học là sáng tạo và không có một công thức chung hoặc một phương pháp chuẩn mực nào cho hoạt động NCKH[21]. Tuy nhiên, chuẩn bị cho sinh viên một nhìn nhận sơ khai ban đầu về NCKH, đồng thời khơi nguồn cho niềm đam mê nghiên cứu cho sinh viên là điều cần thiết. Cuộc thi sinh viên NCKH đã góp phần lớn trong mục tiêu nhận thức đầu đời đó cho sinh viên nói chung và sinh viên Luật nói riêng. Hy vọng sẽ có nhiều trao đổi hơn về vấn đề này để thực hiện được những mục đích của NCKH sinh viên./.


[1] Ví dụ như Câu lạc Luật Gia Trẻ (Hội Sinh viên Đại học Luật Hà Nội, Đoàn Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội), Câu lạc bộ Khoa học pháp lý (Hội sinh viên Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh – đang trong đề án thành lập).

[2] Các cuộc thi Olympic các môn Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tư pháp quốc tế, Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự,…, cuộc thi Chân dung người bảo vệ pháp luật,… của Đại học Luật Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.

[3] Các buổi diễn án Luật Kinh tế, Dân sự, Lao động,… của ĐH Luật Hà Nội hay Cuộc thi Moot Competition 2009 do ĐH Luật Hồ Chí Minh đăng cai tổ chức.

[4] TS. Bùi Đăng Hiếu, Kỹ năng nghiên cứu khoa học dành cho Sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội, Nội san Luật Gia trẻ (Hội sinh viên ĐH Luật Hà Nội), 02/2008, tr.18.

 

[5] Đây chỉ là những nhận định được rút ra từ hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành Luật nên có thể có một số điểm không giống với các ngành khác.

[6] TS. Nguyễn Văn Vân, Mấy suy nghĩ về hoạt động nghiên cứu khoa học của Sinh viên Trường ĐH Luật TP.HCM, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2003, nguồn: hcmulaw.edu.vn

[7] TS. Nguyễn Văn Vân, Mấy suy nghĩ về hoạt động nghiên cứu khoa học của Sinh viên Trường ĐH Luật TP.HCM, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2003, nguồn: hcmulaw.edu.vn

[8] Ví dụ như Trường Đại học Luật Hà Nội qua 8 năm tham gia cuộc thi Cấp Bộ (2001-2008) với 50 công trình thì có 48 công trình đạt giải.

[9] Số lượng công trình mỗi trường tham dự do Bộ Giáo dục & Đào tạo phân bổ dựa trên tổng số sinh viên của trường. Ví dụ như ở đại học Luật Hà Nội, từ năm 2006 trở về trước được phép gửi 6 công trình, từ năm 2007 được phép gửi 8 công trình.

[10] Trong Cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học năm 2008 của ĐH Luật Hà Nội đã có 1 sinh viên thực hiện đề tài thuộc môn Đại cương văn hoá Việt Nam.

[11] TS. Lê Nết, Hướng dẫn Phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, nguồn: Phòng Quản lý Nghiên cứu khoa học và Hợp tác quốc tế, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, hcmulaw.edu.vn.

[12] TS. Nguyễn Văn Vân, Mấy suy nghĩ về hoạt động nghiên cứu khoa học của Sinh viên Trường ĐH Luật TP.HCM, tlđd.

[13] Thậm chí, ở một số trường, có sinh viên từ lúc làm công trình đến khi đạt giải cấp Bộ chưa một lần được gặp giáo viên hướng dẫn, mọi trao đổi nếu có cũng chỉ qua hình thức gián tiếp khác (email,…) còn không thì chỉ lấy tên người hướng dẫn nhưng thực sự không có “sự  hướng dẫn” trong quá trình NCKH.

[14] Điều này sẽ hữu ích đối với những cơ sở đào tạo có thời gian phát động cuộc thi và nhận đề tài của Sinh viên quá gần nhau.

[15] Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở đào tạo luật thực hiện thường xuyên mô hình Hội nghị nghiên cứu khoa học Sinh viên này.

[16] Giải pháp này đã được Trường ĐH Lao động & Xã hội (Hà Nội) áp dụng trong nhiều năm qua.

[17] TS. Nguyễn Văn Vân, Mấy suy nghĩ về hoạt động nghiên cứu khoa học của Sinh viên Trường ĐH Luật TP.HCM, tlđd.

[18] TS. Bùi Đăng Hiếu, Kỹ năng nghiên cứu khoa học dành cho Sinh viên Trường ĐH Luật Hà Nội, Nội san Luật Gia trẻ (Hội sinh viên ĐH Luật Hà Nội), 02/2008, tr.19.

[19] Phòng Quản lý khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội là một trong những đơn vị đã thực hiện điều này, mang lại nhiều hiệu ứng tốt cho sinh viên.

[20] Hiện nay, Nội san Luật Gia trẻ của Câu lạc bộ Luật Gia trẻ (Hội sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội) là một mô hình mới với nhiều sự thay đổi mới, thực sự là sân chơi trí tuệ cho sinh viên đam mê NCKH trong Trường.

[21] TS. Nguyễn Văn Vân, Mấy suy nghĩ về hoạt động nghiên cứu khoa học của Sinh viên Trường ĐH Luật TP.HCM, tlđd.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học

Nhãn:

You can comment below, or link to this permanent URL from your own site.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: