Archive for Tháng Mười Một 2010

Dịch pháp luật đình công của Campuchia

Tháng Mười Một 29, 2010
Chương XIII

ĐÌNH CÔNG – ĐÓNG CỬA

Phần 1
Những quy định chung

Điều 318:

Đình công là việc một nhóm người lao động tiến hành tại một cơ sở lao động với mục đích được đáp ứng một yêu cầu nào đó từ người sử dụng lao động, được xem như là một điều kiện để làm việc trở lại.

Đóng cửa là việc đóng một phần hoặc toàn bộ một doanh nghiệp hoặc cơ sở lao động của người sử dụng lao động trong một vụ tranh chấp lao động.
Điều 319:

Quyền đình công và đóng cửa được đảm bảo thực hiện. Chúng có thể được thực hiện bởi một trong các bên tranh chấp trong trường hợp không đồng ý với quyết định của trọng tài. (more…)

Advertisements

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỊNH TRỌNG TÀI

Tháng Mười Một 7, 2010

Truong Hong Quang

1.1. Lịch sử hình thành chế định trọng tài trên thế giới

Khoa học pháp lý chưa khẳng định được chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này[1]. Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu.

Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610). Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697. Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công. Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây. Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới. hậm chí, trọng tài hiện nay còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường được biết đến với thuật ngữ ODR – online dispute resolution nghĩa là giải quyết tranh chấp trực tuyến). Trọng tài trực tuyến tiến hành khi có khiếu nại trực tuyến, thủ tục tố tụng diễn ra trên internet, trọng tài phân xử và ra phán quyết dựa vào hồ sơ do các bên xuất trình.

(more…)

Một số đánh giá pháp luật bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của các nước trên TG

Tháng Mười Một 4, 2010

Trương Hồng Quang

1. Về những nét tương đồng của pháp luật các quốc gia về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, Về nguồn của pháp luật. Đa số các nước được nghiên cứu đều sử dụng một nguồn luật quan trọng là án lệ trong xét xử các vụ án liên quan đến bồi thường thiệt hại. Đây là nguồn luật cơ bản và thiết yếu bên cạnh hệ thống pháp luật hiện hành của các quốc gia này. Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia khác như Trung Quốc – một quốc gia Châu Á vẫn chưa xem án lệ là nguồn luật cơ bản cho nên pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn là nguồn luật cơ bản nhất đối với chế định bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, Về nguyên tắc bồi thường.

– Pháp luật một số nước như Liên minh Châu Âu, Pháp, Nhật Bản đều thừa nhận nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” trên quan điểm coi trách nhiệm bồi thường thiệt hại là biện pháp nhằm khôi phục lại các quan hệ xã hội bị phá vỡ chứ không nhằm mục đích trừng phạt đối với người thực hiện hành vi xâm phạm, theo đó “Sự bồi thường thiệt hại phải toàn bộ trong tất cả các trường hợp và không được vượt quá tổng số thiệt hại. Và “những thiệt hại được bồi thường đối với nạn nhân phải khiến cho nạn nhân không mất đi, cũng như không được thêm ra các lợi ích”. Bên cạnh đó, nghiên cứu các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự Trung Quốc 1986, tại Điều 117 và 118 cũng quy định rõ:“nguyên tắc cơ bản để bồi thường thiệt hại trong các vụ án dân sự là sự bồi thường mang tính bù đắp thiệt hại hơn là sự bồi thường mang tính răn đe và trừng phạt”. Trong các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Trung Quốc, nguyên tắc được thể hiện rõ nhất trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nguyên tắc bồi thường toàn bộ những thiệt hại xảy ra trên thực tế. Toà phúc thẩm Liên Bang Đức cũng đã ra tuyên bố rằng: Sẽ không có hiệu lực ở Đức đối với các phán quyết của Mỹ về phần bồi thường thiệt hại mang tính trừng phạt dân sự vì phán quyết này vi phạm trật tự công cộng của Đức.

(more…)

Những vấn đề pháp lý về công ty hợp danh

Tháng Mười Một 4, 2010

PHẦN I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH


I. SỰ HÌNH THÀNH CÔNG TY HỢP DANH:
Công ty Hợp Danh (CTHD) là một trong những hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử hình thành công ty. Khái niệm về “hợp danh” bắt đầu xuất hiện và tồn tại từ khi con người bắt đầu hợp tác với nhau. Khái niệm hợp danh xuất hiện từ thời Babylone, Hy Lạp và La Mã cổ đại. Đạo Luật Hammurabi năm 2300 (TCN) cũng đã có chế định về hình thức hợp danh. Khái niệm hợp danh theo Đạo Luật Justinian của đế chế La Mã cổ đại vào thế kỷ VI, xét về bản chất không có sự khác biệt trong pháp luật hiện nay. Sau đó, đến các thời kì Trung đại, đến cuối thế kỉ XVII, rồi ở Thụy Điển, dần dần hình thành hình thức “hợp danh” rõ ràng hơn. Năm 1776, Mỹ giành được độc lập và áp dụng hệ thống luật thông lệ của Anh. Từ đó, luật pháp về CTHD bắt đầu được áp dụng ở Mỹ. Đến đầu thế kỷ XIX, CTHD trở thành loại hình kinh doanh quan trọng nhất ở Mỹ. Ngày nay, hệ thống pháp luật thông lệ điều chỉnh, CTHD được thay thế bằng đạo luật CTHD hay còn gọi là Luật thống nhất về CTHD (Uniform Partnership). Thêm nữa, CTHD được hình thành và phát triển từ những nguyên tắc của chế định đại diện (agency) xuất phát từ những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường về liên kết kinh doanh; tập trung và tích tụ tư bản ở những mức độ và dưới những dạng thức khác nhau.
Tại Việt Nam thì ngược lại. Loại hình công ty này ra đời muộn do điều kiện kinh tế, lịch sử, xã hội…Vốn là 1 nước trọng về nông nghiệp nên trước kia không coi trọng hoạt động thương mại và sau đó lại trải qua một thời gian dài thực hiện kinh tế tập thể. Cuối thế kỷ XIX, Pháp áp dụng 3 Bộ Luật: Dân Luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ vào Việt Nam cho nên xuất hiện các hình thức Doanh Nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn và hình thức, khái niệm CTHD đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam với hình thức Hội buôn. Năm 1954, trước Nghị quyết Đại hội lần VI của Đảng, miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo thì các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được thừa nhận. Pháp luật về công ty nói chung và CTHD nói riêng thời kỳ này không tồn tại, Nhà nước cũng chưa có những định hướng về lĩnh vực này. Ở Miền Nam, trước 1975, loại hình CTHD được ghi nhận trong Bộ Luật Thương Mại, cơ bản giống những quy định của Pháp luật Pháp. Đến thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần đến Nghị quyết lần VI của Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần 2 của BCH TW Đảng công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể và tư doanh trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân đã cho ra đời Luật công ty 1990, Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật doanh nghiệp 1999. Từ 4 điều luật cũ kỹ của Luật doanh nghiệp 1999 (ban đầu là 12 điều trong Dự thảo nhưng đã bị loại bỏ gần hết khi đưa ra Quốc hội thông qua, cũng bởi hình thức của nó quá mới mẻ) đến Luật doanh nghiệp 2005 với 11 điều, hi vọng cung cấp cho giới thương nhân thêm một mô hình để lựa chọn cho phù hợp với ý tưởng kinh doanh của họ.
(more…)

NHẬN DIỆN TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT

Tháng Mười Một 3, 2010

Chuyên đề nghiên cứu của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp. Tập thể tác giả:

1. TS. Dương Thanh Mai, Chuyên gia cao cấp Bộ Tư pháp

2.GS. TS. Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện KHPL

3. Ths. Nguyễn Văn Cương, Phó trưởng Ban NCPL Dân sự – Kinh tế, Viện KHPL.

4.ThS. Trần Thị Quang Hồng, Phó trưởng Ban NCPL DS-KT, Viện KHPL.

5. CN. Lê Thị Hoàng Thanh, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

6. CN. Trương Hồng Quang, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

7. CN. Chu Thị Hoa, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

8. CN. Phạm Văn Bằng, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

9. CN. Nguyễn Hoàng Nhật Thi, Cộng tác viên.

GIỚI THIỆU CHUNG
I. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT
1.1. Khái niệm Kinh tế học pháp luật
1.2. Đối tượng nghiên cứu
1.3. Phương pháp nghiên cứu
1.4. Ích lợi của việc nghiên cứu kinh tế học pháp luật
II. LƯỢC SỬ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT
2.1. Những người tiên phong của trường phái Kinh tế học pháp luật
2.2. Sự hình thành trường phái Kinh tế học pháp luật hiện đại
2.3. Các xu hướng nghiên cứu chính của Kinh tế học pháp luật
III. KHÁI QUÁT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT
3.1. Quan niệm về bản chất hành vi của con người
3.2. Kinh tế học về sở hữu và quyền tài sản
3.3. Kinh tế học về quyền sở hữu trí tuệ
3.4. Kinh tế học về hợp đồng
3.5. Kinh tế học về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
3.6. Kinh tế học về trách nhiệm sản phẩm
3.7. Kinh tế học về bảo vệ môi trường
3.8. Kinh tế học về kiện tụng dân sự
3.9. Kinh tế học tội phạm và luật hình sự
3.10. Kinh tế học về quá trình xây dựng pháp luật
IV. NHỮNG KẾT LUẬN SƠ BỘ 

GIỚI THIỆU CHUNG

Kinh tế học pháp luật (Law and Economics) được định hình như một trường phái lý luận pháp luật[1] từ khoảng giữa thế kỷ 20.[2] Tại thời điểm đó, trường phái này được coi là hướng nghiên cứu pháp luật mới theo đó, các nhà nghiên cứu dùng tri thức, phương pháp của khoa kinh tế học để phân tích quá trình hình thành, phát triển của pháp luật và thiết chế pháp luật, đánh giá, lượng hóa tương tác giữa pháp luật với xã hội.[3] Trường phái này gắn bó với nhiều nhà kinh tế có tên tuổi đã dành nhiều thời gian cho hoạt động nghiên cứu các vấn đề pháp lý trong đó phải kể đến Ronald Coase (người đã được giải thưởng Nobel năm 1991)[4] và Gary S. Becker (người đạt giải thưởng Nobel năm 1992).[5]

Nếu như ở giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu thuộc phái này chỉ sử dụng lý thuyết kinh tế để nghiên cứu các quy phạm pháp luật điều chỉnh những hoạt động mang tính thị trường như pháp luật cạnh tranh, thuế, quản trị doanh nghiệp, thì từ thập niên 1970, với sự đi tiên phong của giáo sư Richard Posner (Đại học Chicago) và nhiều đồng nghiệp khác[6], nghiên cứu pháp luật từ góc độ kinh tế đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác, kể cả lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hiến pháp, luật hành chính, luật hôn nhân, luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,… Trường phái này đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của giới nghiên cứu, học thuật, giảng dạy ở Hoa Kỳ sau đó lan nhanh sang giới pháp lý ở một số quốc gia ở châu Mỹ (Canada, châu Mỹ Latin), châu Âu (Anh, Ý, Đức,…). Một số quốc gia châu Á cũng đã bước đầu tiếp cận và quan tâm tới trường phái này. Có thể nói, lợi ích rõ nét nhất mà trường phái kinh tế học pháp luật mang lại cho giới luật gia chính là việc thúc đẩy hình thành một lối tư duy phân tích pháp luật mới – thứ tư duy dung hợp cả tư duy pháp lý với tư duy kinh tế (mà chúng tôi tạm gọi là tư duy pháp lý kinh tế). Tư duy pháp lý kinh tế có nội dung rộng và sâu hơn tư duy pháp lý thông thường. Tư duy pháp lý thông thường chủ yếu đánh giá, nhìn nhận hành vi, ứng xử của một chủ thể trong xã hội từ góc độ hợp pháp hay không hợp pháp, được phép hay không được phép. Tư duy pháp lý kinh tế không chỉ dừng ở đó mà còn đặt ra yêu cầu đánh giá tính hiệu quả của hành vi ứng xử ấy. Ở các nước phát triển, tư duy pháp lý kinh tế đang thâm nhập vào nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau từ xây dựng đến tổ chức thực thi. Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, tư duy pháp lý kinh tế đặt ra yêu cầu việc xây dựng chính sách, pháp luật phải trải qua quy trình đánh giá tác động kinh tế- xã hội để chứng minh tính hiệu quả về kinh tế-xã hội của chính sách, pháp luật ấy. Trong lĩnh vực áp dụng, thực thi pháp luật, tư duy pháp lý kinh tế đòi hỏi việc thiết kế cơ chế thực thi pháp luật phải đáp ứng yêu cầu đạt được mục đích đề ra cao nhất nhưng với mức chi phí cho xã hội là thấp nhất. Chính vì sự khác biệt này, có thể nói rằng, nền pháp luật được xây dựng trên cơ sở tư duy pháp lý kinh tế sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về phát triển kinh tế-xã hội.

(more…)

QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ VẬT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Tháng Mười Một 2, 2010

Tên đề tài: QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ VẬT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Người thực hiện: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Hương Liên (SV Khóa 33 Khoa PLHS, Đại học Luật Hà Nội)

Người hướng dẫn: TRƯƠNG HỒNG QUANG (Bộ Tư pháp).

Đề tài là 1 trong 3 đề tài được chọn dự thi cấp Bộ Cuộc thi SV NCKH năm 2010 của ĐH Luật HN, kết quả: Giải Nhất cấp Quốc gia.

Dưới đây là bản tóm tắt đề tài.

1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Cổ vật là những hiện vật cổ xưa, quý hiếm và chứa đựng nhiều điều ẩn chứa bên trong nên đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các ngành khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa,… Trên phương diện pháp lí, các quốc gia đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến di sản văn hóa vật thể nói chung và cổ vật nói riêng nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ cổ vật. Tại Việt Nam, cổ vật mới chỉ được quan tâm từ hai thập niên trở lại đây, đặc biệt là giai đoạn 2005-2008. Các vấn đề liên quan đến cổ vật như sưu tầm, khai quật, mua bán,… diễn ra rất sôi động và thu hút sự chú ý của các nhà sưu tập, các thương nhân trong và ngoài nước. Tuy nhiên, đi đôi với sự sôi động đó là hàng loạt các vấn nạn liên quan đến cổ vật như trộm cắp, khai quật trái phép, cổ vật lưu lạc ở nước ngoài, mua bán trái phép cổ vật quốc gia,… đã liên tục xuất hiện và gây khó khăn cho cơ quan quản lí cũng như ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa của dân tộc. Mặc dù Luật Di sản văn hóa đã được ban hành năm 2001 (sửa đổi năm 2009) nhưng thực sự vẫn chưa tạo ra được sự ổn định trong quản lí nhà nước về cổ vật. Một mặt, quản lí nhà nước về cổ vật tại Việt Nam vốn được quan tâm từ cách đây không lâu trong khi thế giới đã mở rộng quản lí cổ vật thông qua nhiều hình thức đa dạng. Mặt khác, đặc điểm hoạt động quản lí nhà nước về cổ vật có các đặc điểm chung của hoạt động quản lí nhà nước nhưng cũng có những đặc điểm riêng biệt và khó khăn hơn do đây là lĩnh vực quản lí di sản văn hóa. Bên cạnh đó, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay khiến cho hoạt động quản lí nhà nước về di sản văn hóa nói chung và cổ vật nói riêng đang phải đứng trước những yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hơn nữa. Do đó, nghiên cứu “Quản lí nhà nước về cổ vật tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” là một trong những yêu cầu cần thiết nhằm đưa ra được những giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này cũng như xây dựng được hệ thống những vấn đề chung về cổ vật và pháp luật về cổ vật.

(more…)

THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH, SỬ DỤNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THỂ CHẾ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI, QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI – ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang*

 

1. Khái quát về cộng đồng dân cư và thể chế xã hội

1.1. Khái niệm cộng đồng dân cư và đặc điểm

Một cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. Trong cộng đồng người đó có những kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng dân cư là một dạng của cộng đồng. Hiểu một cách đơn giản nhất, cộng đồng dân như là nhiều người, nhiều nhà, gia đình, cá thể, nhóm cùng sống trong một khoảng không gian hoặc là những người cùng sinh sống trong một khu vực lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính họ gắn bó, liên kết cùng nhau thực hiện lợi ích, nghĩa vụ,Khái niệm cộng đồng dân cư xuất hiện đồng thời với sự ra đời của một quốc gia, dân tộc, hay nói xa xưa hơn là của cả lịch sử loài người. Cộng đồng dân cư có thể tồn tại dưới các hình thức sau đây:

– Các cộng đồng theo khu vực địa lý: ví dụ như cộng đồng dân cư Bắc, Trung, Nam.

– Các cộng đồng dân cư theo vùng miền đặc thù: đô thị, nông thôn, dân tộc, miền núi,…

– Cộng đồng dân cư ở khu vực giao thoa: giao nhau giữa hai khu vực, vùng, miền,…

Đặc điểm của cộng đồng dân cư thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, cộng đồng dân cư mang tính chất đặc trưng cho một cộng đồng người, qua đó thực hiện các nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi của công dân, dân tộc.

Thứ hai, nói đến cộng đồng dân cư là nói đến một tập thể gắn kết cao, mang tính chất xã hội nhiều hơn so với các loại cộng đồng khác.

Thứ ba, về mặt kinh tế, cộng đồng dân cư là một tập hợp của nhiều thành phần kinh tế.

1.2. Khái niệm thể chế xã hội và đặc điểm

Kinh tế học thể chế mới không chỉ khảo sát trạng thái cân bằng mà tìm hiểu xem các thể chế nào tác động thuận lợi tới ổn định kinh tế và tăng trưởng kinh tế. Trong khi mở rộng kiến thức khoa học, đổi mới công nghệ tạo ra những cơ hội mới, song vấn đề là làm sao thực hiện những cơ hội đó với chi phí giao dịch thấp nhất trong một thế giới bất định và với nhận thức không hoàn hảo. Chính vì vậy mà kinh tế học thể chế mới nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thể chế chính thức, thể chế phi chính thức.

(more…)