THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang


I. NÔNG THÔN VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm nông thôn

Khác với vấn đề đô thị, nông thôn là một hiện tượng xuất hiện đồng thời với sự ra đời của nước Việt. Các chặng đường lịch sử đã chứng kiến những biến đổi cũng như các cuộc cách mạng lịch sử liên quan, xuất phát từ nông thôn. Tại Việt Nam, nông thôn dường như mang những nét rất đặc thù so với các nước khác trên thế giới, thể hiện ở văn hóa làng xã và các đặc điểm xã hội tiềm ẩn trong mỗi chặng đường phát triển. Nếu như khái niệm đô thị được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì khái niệm nông thôn dường như được quan tâm một cách khiêm tốn hơn. Các nghiên cứu từ trước đến nay đã cho thấy một điều rằng, các nhìn nhận về nông thôn luôn đi theo hướng xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đưa ra một định nghĩa chung cho khái niệm nông thôn.

Theo quan điểm chung, nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân sư tương đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị[1]. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Ở Việt Nam, cho đến năm 2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này vào năm 1999 là 76,5%. Con số đó những năm trước còn lớn hơn nhiều. Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội. Ngay cả những Việt kiều sống ở các nước văn minh, tiên tiến nhất thế giới, vẫn giữ nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam.

Về vấn đề tổ chức nông thôn Việt Nam, xét về mặt tổ chức xã hội, làng xã và quốc gia Việt Nam là hai đối tượng quan trọng nhất đối với người Việt và được tổ chức chặt chẽ nhất. Chính vì thế mà người Việt thường nói làng với nước đi đôi với nhau. Các hệ thống trung gian như huyện, tỉnh không có vai trò quan trọng như thế. Việt Nam có câu nói: “lệnh vua thua lệ làng” vì nghĩa này.

2. Đặc điểm nông thôn Việt Nam[2]

Có thể nhận thấy đặc trưng cơ bản của cộng đồng dân cư nông thôn khác thành thị ở những điểm sau:

– Dân cư là nông dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) chiếm tỷ trọng lớn.

– Mật độ dân cư thấp, sống gắn bó chặt chẽ với môi trường tự nhiên.

– Tính cố kết cộng đồng cao. Ngoài sự gắn bó thong qua quan hệ làng xã, cư dân nông thôn còn gắn bó nhau thông qua quan hệ thân tộc (dòng họ().

– So với cộng đồng dân cư thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn tiếp cận với thong tin ít hơn, chậm hơn; tiếp cận với các dịch vụ giáo dục y tế, văn hóa,… thấp hơn, phong tục tập quán lạc hậu hơn.

– Ở nông thôn, quan hệ ứng xử xã hội của các thành viên trong cộng đồng nặng về tục lệ truyền thong hơn là pháp lý được quy định bởi nhà nước.

– So với thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn thường mang tính thuần nhất hơn; hướng dịch chuyển xã hội cũng khác hơn. Những người có học vấn cao, chuyên môn giỏi thường di động dọc và ra các thành phố. Số còn lại di động ngang giữa các vùng và giữa các ngành, nghề.

– Về văn hóa, ở nông thôn văn hóa của cộng đồng dân cư mang đậm nét dân gian. Đây là cái nôi nuôi dưỡng và lưu truyền những tập tục, tín ngưỡng, văn hóa truyền thống.

Nông thôn Việt Nam ngoài những đặc trưng trên còn những điều khác biệt như sau:

– Dân cư nông thôn Việt nam chủ yếu là nông dân trồng lúa nước. Bình quân ruộng đất thấp. Sản xuất trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Giai cấp nông dân và dân cư nông thôn luôn phải đấu tranh khắc phục những hậu quả thiên tai như gió bão, hạn hán,…

– Việt Nam là nước phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, tàn khốc. Chính xã hội nông thôn với cộng đồng làng xã đã tạo thành những pháo đài kháng chiến bất khả xâm phạm, bảo tồn cả những giá trị văn hóa truyền thống của xã hội Việt Nam.

– Cộng đồng dân tộc Việt Nam bao gồm cả cộng đồng dân cư nông thôn là cộng đồng đa sắc tộc và đa tôn giáo. Đây là cộng đồng dân cư có truyền thống đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

– Xã hội truyền thống ở nông thôn Việt Nam là xã hội của những người tiểu nông, sản xuất nhỏ, ruộng đất ít, tư liệu sản xuất thủ công, lạc hậu,.. do vậy tư tưởng ít nhiều bảo thủ, tầm nhìn hạn chế.

– Xã hội nông thôn Việt nam đang được chia thành những khu vực có đặc điểm phát triển kinh tế xã hội khá khác nhau, mỗi vùng có trình độ phát triển khác nhau.

3. Khái lược thực trạng nông thôn Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, nông dân muốn thoát nghèo vẫn phải gắn bó với nông nghiệp. Theo báo cáo Phát triển Thế giới 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB) ngày 11/12/2007 với tựa đề “Tăng cường nông nghiệp cho phát triển”cho rằng Đông Á và ĐNA, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị hóa như Việt Nam, thì nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho nông dân. Hay nói cách khác, nông dân muốn thoát nghèo vẫn phải gắn với nông nghiệp[3]. Các số liệu thống kê cho thấy, đã có 200 triệu người thoát nghèo nhờ nghề nông; việc di dân ra thành thị cũng là nguyên nhân chiếm 20% trong việc giảm số người nghèo có thu nhập 1 USD/ngày ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á; tới năm 2040 vẫn còn 75% người nghèo và đa số họ vẫn sống ở nông thôn.

Thứ hai, Ở Việt Nam, nông nghiệp còn mở đường cho các chính sách đổi mới. Thực tiễn trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam đã đem lại lợi ích cho cả vùng đô thị và nông thôn. Năm 1993 có tới 2/3 số dân nông thôn được coi là nghèo thì ngày nay con số này chỉ còn 1/5. Nhưng khi Việt Nam chuẩn bị bước vào vị thế là nước có mức thu nhập trung bình và cao hơn, vấn đề là liệu sự phát triển có lợi cho tất cả mọi người còn tồn tại được nữa không? Cải thiện năng suất nông nghiệp và tạo cơ hội cho người nghèo ở nông thôn và các dân tộc thiểu số vẫn là vấn đề lớn cần phải quan tâm đúng mức. Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam đã làm tốt việc tạo điều kiện cho sản xuất tiếp cận tốt nhất với tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nước… giao đất cho nông dân sản xuất cùng với tự do hoá thương mại và đầu tư mạnh về thuỷ lợi.

Thứ ba, nông thôn Việt Nam hiện nay còn một số tồn tại.

Tại cuộc hội thảo “Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông thôn Việt Nam – Đài Loan”, do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Trung ương Đài Loan tổ chức ngày 17/12/2007, và cuộc hội thảo “Nông dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn tổ chức ngày 18/12/2007, các chuyên gia đã liệt kê ra những vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong 20 năm qua. Đó là vấn đề khoảng cách giàu – nghèo và bất bình đẳng xã hội; tình trạng thiếu việc làm, di dân tự phát; xung đột xã hội gia tăng; dân trí và quan trí thấp; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe yếu kém; đời sống văn hóa có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp; năng lực quản lý xã hội, kết cấu hạ tầng thấp kém; môi trường bị ô nhiễm và suy thoái ở mức báo động.

Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam tiến bộ liên tục. Tuy nhiên, xu hướng phân hóa giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, đặc biệt là giữa nông thôn với đô thị. Nhiều chuyên gia còn đưa ra con số về chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn – thành thị lên tới trên 6,9 lần (2004) chứ không phải con số 3,5 lần như vẫn nhắc đến. Có thể nhận thấy một vấn đề đó là, sự cách biệt giàu nghèo làm tăng nguy cơ xuất hiện bất ổn xã hội. Bên cạnh nguyên nhân về sắc tộc, về tôn giáo, thì sự chênh lệch về cuộc sống, về cơ hội phát triển của cư dân nông thôn và cư dân đô thị là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự bất ổn xã hội, dẫn đến bất ổn về môi trường. Ở Việt Nam, chúng ta nhìn nhận rằng đối với nông dân nông thôn vấn đề cơ hội, vấn đề công bằng của họ trong quá trình phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề ổn định chính trị xã hội và môi trường. Tuy nhiên về mức độ thì tình hình ở Việt Nam là khá tốt. Có thể nói là sự ổn định chính trị xã hội đã giúp cho Việt nam trong thời gian vừa qua thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài (Việt Nam là nước đứng thứ 6 về thu hút đầu tư nước ngoài). Trong sự ổn định chính trị xã hội này, vấn đề công bằng xã hội ở nông thôn phải luôn luôn chú ý, nếu lơ là hay nếu làm không đúng thì nó sẽ là nguy cơ gây bất ổn.

Một vấn đề nữa là người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do xu thế tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua, 300.000 héc-ta đất nông nghiệp bị mất đi do quá trình này). Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông thôn và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi. Đây là xu thế của một xã hội phát triển là giảm tương đối cơ cấu của nông nghiệp trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

Thiếu hụt nhất ở khu vực này là tri thức và thông tin khoa học hiện đại không được chuyển giao một cách có hệ thống. Người nông dân thiếu kiến thức, nên khó chuyển giao được khoa học công nghệ để họ thực sự làm chủ. Điều này tiếp tục đặt họ và thế bất lợi hơn nữa.

Một thách thức to lớn nữa của khu vực nông thôn là sức ép trong chi tiêu cho giáo dục, áp lực của tình trạng gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường đến mức báo động. Làng nghề và các khu công nghiệp nông thôn gây ô nhiễm đất, nước và không khí rất nặng, làm suy thoái tài nguyên môi trường do khai thác tự phát, không theo quan điểm phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Khu vực đô thị – công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm và suy thoái môi trường nặng nề hơn và cư dân ven đô lại là những người trực tiếp chịu hậu quả.

Thứ tư, các khó khăn chính của nông dân nông thôn Việt Nam hiện nay.

– Xuất phát điểm thấp, về thu nhập về hạ tầng, cả về hệ thống môi trường pháp luật, chính sách.

– Cuộc cạnh tranh không công bằng trong tự do hóa toàn cầu hiện nay, đặc biệt là thương mại và nông nghiệp vẫn chưa đi đến thống nhất được với nhau.

– Bản thân người nông dân bước ra kinh tế thị trường với cái sản xuất nhỏ, chưa tập trung lại với nhau chưa có năng lực để vươn lên, bản thân họ phải tự lột xác để vươn lên.

Thứ năm, hoạt động phát triển nông thôn tại Việt Nam đạt được những kết quả đáng khích lệ[4]. Hoạt động Phát triển nông thôn được thực hiện bởi các cơ quan của Chính phủ, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước thông qua các chương trình, dự án PTNT. Trong giai đoạn 2001-2006, tổng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước đầu tư thông qua các chương trình này là 32.386 tỷ đồng, chủ yếu tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng (chiếm 67%), trong khi đó các chương trình dành cho phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo chỉ chiếm 12% tổng vốn đầu tư; còn lại là cho các chương trình an sinh xã hội 4% và các chương trình đầu tư khác chiếm 17%. Các nguồn kinh phí này được sử dụng cho một số Chương trình dự án quan trọng như: các chương trình mục tiêu quốc gia 132, 134, 135 (từ 1998); Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và tạo việc làm; Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và VSMT nông thôn; Dự án 5 triệu hecta rừng; Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Chương trình “Thực hiện quy chế dân chủ và cải cách thủ tục hành chính ở cơ sở”; Phong trào “Xây dựng CSHT ở nông thôn”; Chương trình vay vốn tín dụng ưu đãi.

Chương trình phát triển nông thôn cộng đồng thực sự được quan tâm khi Bộ NN và PTNT triển khai Chương trình PTNT theo hướng CNH, HĐH, hợp tác hóa, dân chủ hóa (còn gọi là Chương trình xây dựng mô hình NTM cấp xã, 2001 – 2005) và Chương trình thí điểm xây dựng mô hình NTM cấp thôn, bản (2007 – 2009). Tại Việt nam hiện có hơn 300 tổ chức phi chính phủ họat động. Phần lớn hoạt động của các NGOs đều liên quan đến PTNT. Do vậy, nông thôn đón nhận rất nhiều các dự án được thực hiện bởi các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Trong cách tiếp cận, tác tổ chức này thường áp dụng phương pháp tiếp cận từ dưới lên, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở cho mọi tác động. Các nội dung tác động thường là mở rộng các dịch vụ xã hội cho người nghèo ở nông thôn, an ninh lương thực trên cơ sở hỗ trợ phát triển hệ thống sản xuất tại chỗ, cứu trợ trong trường hợp hạn hán, thiên tai, phát huy các hoạt động có sự tham gia của người dân nhằm nâng cao nhận thức và năng lực cho người dân địa phương… Một số dự án quốc tế lớn về phát triển cộng đồng của WB, ADB, AFD, EU, các tổ chức phi chính phủ với sự tham gia của các đối tác Việt nam đã triển khai tương đối thành công tại nhiều địa phương trong cả nước. Điển hình là: dự án CSHT nông thôn dựa vào cộng đồng (CBRIP – Community Based Rural Infrastructure Project, vốn vay World Bank); Dự án PTNT dựa vào cộng đồng theo mô hình Saemaul Undong của Hàn Quốc; Dự án PTNT theo vùng của tổ chức AECI – Tây Ban Nha (Agencia Española de Cooperación Internacional); Dự án nâng cao năng lực cộng đồng của tổ chức CORDAID – Hà Lan (Catholic Organization for Relief and Development AID); Các dự án phát triển cộng đồng của tổ chức MCNV – Hà Lan (Medical Committee Netherland – Vietnam); Dự án phát triển thể chế và các hiệp hội địa phương nhằm nâng cao năng lực các hoạt động tập thể (DIALOG – EU)… Mỗi nhà tài trợ, cơ quan triển khai đều có cách thức tiếp cận, cơ chế hoạt động phát triển nông thôn và phương thức tổ chức riêng của mình. Những cơ chế tiếp cận PTNT thường được sử dụng trong khuôn khổ dự án, chương trình PTNT, nhưng ít khi được thể chế hóa thành cơ chế chính sách chung trong PTNT. Chính hạn chế này đã làm cho ảnh hưởng hạn chế của các dự án, cũng như tính bền vững của các kết quả trong họat động PTNT còn hạn chế. Có thể nói, mặc dù có hàng trăm tổ chức phi chính phủ (NGOs) hỗ trợ PTNT tại Việt nam, nhưng hầu như rất ít kết quả của họ được thể chế hóa và nhân rộng ra ngoài khuôn khổ các dự án. Sự kết nối chưa chặt chẽ của các dự án quốc tế với hệ thống thể chế chính sách của Việt nam là một trong các nguyên nhân làm cho hiệu quả về mặt xã hội của hoạt động PTNT chưa được sâu rộng. Những năm trước đây, do phần lớn số tiền viện trợ cho các tổ chức phi chính phủ là tiền cho, tặng, hay viện trợ không hoàn lại. Do đó, nhiều tổ chức NGOs cũng muốn làm độc lập theo cách thức mà họ cho là hiệu quả, ít chịu sự định hưởng của chính phủ, các bộ ngành, địa phương và các tổ chức Việt nam. Các cơ quan Việt nam thì cho rằng đó là tiền của quốc tế nên cũng để họ tự do triển khai dự án, ít có sự phối hợp. Ví dụ như kết quả nghiên cứu của một dự án quốc tế hàng triệu USD lại không được xem xét như một đề tài khoa học 200 triệu đồng. Nhưng tình hình đã thay đổi, với việc Việt nam ra khỏi danh sách nghèo nhất, các khoản tiền cho tặng sẽ hầu như không còn, các dự án hoạt động PTNT của các NGOs, kể cả các tổ chức của Liên hợp quốc sẽ đều là tiền vay của chính phủ Việt nam. Do đó, nếu sự kết nối giữa họat động của các tổ chức quốc tế, NGOs không tốt, dẫn đến hiệu quả kém thì sự thiệt thòi không chỉ cho người dân và Chính phủ Việt nam mà ngay cả các NGOs cũng khó thuyết phục được Chính phủ Việt nam tiếp tục sử dụng các khoản vay trong hỗ trợ phát triển.

4. Các vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thể chế xã hội của khu vực nông thôn

Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này, tác giả đề cập đến các vấn đề về thể chế xã hội của khu vực nông thôn như sau:

– Thực trạng vấn đề nông thôn tại Việt Nam hiện nay.

– Thực trạng thể chế xã hội khu vực nông thôn, với những nội dung:

+ Mối quan hệ và tác động qua lại giữa pháp luật và các thể chế xã hội khác (phong tục, tập quán, đạo đức, tôn giáo,…) trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội ở nông thôn và cơ chế tác động của các loại thể chế trong lĩnh vực này.

+ Vị trí, vai trò của các chủ thể trong phát huy vai trò tích cực từng loại thể chế xã hội trong phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội ở nông thôn (Nhà nước, Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị, Tổ chức xã hội nghề nghiệp khác, Xã hội dân sự, Dư luận xã hội, phản biện xã hội).

– Một số quan điểm, định hướng hoàn thiện thể chế xã hội khu vực nông thôn.

II. THỰC TRẠNG THỂ CHẾ KHU VỰC NÔNG THÔN

1. Khái quát hệ thống chính sách và pháp luật về nông thôn tại Việt Nam

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra rất nhiều chính sách liên quan đến nông thôn và phát triển nông thôn. Điều này xuất phát từ quan điểm đúng đắn về đặc điểm của khu vực nông thôn, đó là nơi chiếm diện tích lớn của cả nước, sản xuất nông thôn chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia,… Một số văn bản có thể đề cập đến như:

–                           Chỉ thị số 100/CT-TW của Ban Bí thư trung ương Đảng về cơ chế khoán đến nhóm và người lao động.

–                           Văn kiện Đại hội Đảng lần VI năm 1986

–                           Nghị quyết số 10 ban hành ngày 5/4/1988 về đổi mới quản lý nông nghiệp để thực hiện Nghị quyết ĐH VI.

–                           Văn kiện ĐH Đảng lần VIII tháng 12/1996.

–                           Nghị quyết số 6 của Bộ Chính trị tháng 11/1998 về một số vấn đề nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

–                           Văn kiện ĐH Đảng IX (4/2001) , X (4/2006).

–                           Nghị quyết 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tháng 7/2008.

Nhìn chung, các Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng như của Chính phủ trong thời gian qua đã đặt ưu tiên các vấn đề:

– Yếu tố con người ở nông thôn.

– Yếu tố thu nhập.

– Yếu tố cải thiện đời sống kinh tế xã hội và tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn.

Nghị quyết 26 năm 2008 của Đảng về Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân làm cơ sở cho sự thay đổi định hướng hoạt động phát triển nông thôn (PTNT). Ban bí thư TW Đảng cũng đang chỉ đạo mô hình 11 xã điểm mô hình nông thôn mới. Chính phủ đang chỉ đạo xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia. Bộ NN và PTNT đang triển khai chương trình mô hình PTNT cấp thôn bản. Những họat động PTNT này cho thấy sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, Bộ NN và PTNT về cách thức tiếp cận, cơ chế tiếp cận trong PTNT. Trong bối cảnh các chương trình mục tiêu quốc gia hiện đang triển khai sẽ kết thúc vào năm 2010, một định hướng mới cần được xây dựng nhằm: 1) phát triển nông thôn có định hướng và nguyên tắc chung; 2) phù hợp với đặc điểm và điều kiện của vùng, miền. Đứng trước những câu hỏi: cách thức nào, chính sách nào, cơ chế nào để thúc đẩy sự năng động của người dân, toàn xã hội trong phát triển nông thôn, xây dựng được một nông thôn văn minh hiện đại trong bối cảnh có sự đa dạng về trình độ phát triển nông thôn nước ta. Trong khi đó, việc tổng kết các cách thức tiếp cận, cơ chế hoạt động phát triển nông thôn hầu như chưa được quan tâm trong các đề tài nghiên cứu. Do vậy, chúng tôi cho rằng nghiên cứu tổng kết các cơ chế tiếp cận họat động PTNT đã và đang triển khai ở Việt nam là hết sức cần thiết, nhằm đề xuất nhân rộng và thể chế hóa, tạo sự kết nối giữa các tổ chức NGOs, quốc tế với các cơ quan Việt nam. Trong khuôn khổ dự án Dự án ARD SPS-Danida, chủ đề này đã được quan tâm và ưu tiên, nhất là đối với vùng Tây nguyên và miền núi phía Bắc là vùng họat động Dự án, do vậy họat động nghiên cứu này được triển khai tại hai vùng này.

Chính sách trao quyền tự chủ kinh doanh (bắt đầu từ Khoán 10) đã cho phép nông dân tiếp cận với đất đai và các tài nguyên khác như rừng, biển, mặt nước… và chính sách tự do hoá thương mại và đầu tư, đặc biệt đầu tư mạnh về thuỷ lợi đã tạo cú hích ban đầu cho nền nông nghiệp hàng hoá: từ chỗ thiếu đói và khủng hoảng lương thực trong những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chúng ta đã vươn lên đủ ăn và trở thành nước đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo, đứng vào một trong những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu các nông phẩm nhiệt đới như cà phê, cao su, hạt tiêu, điều… và gần đây, xuất khẩu thuỷ sản cũng chiếm vị trí cao[5]. Tuy nhiên, về cơ bản, sản xuất nông nghiệp nước ta còn phát triển thiếu bền vững, manh mún và tự phát, kém sức cạnh tranh và chưa đủ tầm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Yêu cầu bức thiết hiện nay là nhanh chóng chuyển từ nền nông nghiệp trình độ thấp sang trình độ cao. Điều đó đòi hỏi phải có bước đột phá về chính sách để giải quyết các mâu thuẫn và rào cản phát triển, đưa nền nông nghiệp truyền thống chuyển sang quỹ đạo hàng hoá và thị trường hiện đại; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, tạo ra nền nông nghiệp giá trị cao và chất lượng cao dựa trên việc ứng dụng phổ biến các thành tựu khoa học công nghệ và phát triển bền vững.

Về chính sách xã hội nông thôn. Trong hệ thống chính sách xã hội chung của cả nước, chính sách xã hội nông thôn có vị trí quan trọng và có đặc trưng riêng về tính chất, mức độ, cơ chế vận hành. Thời gian qua, chính sách này đã và đang đi vào thực tiễn, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở nông thôn nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh đó nó cũng còn không ít những tồn tại, hạn chế, đòi hỏi phải được khẩn trương hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển nông thôn trong tình hình mới. Những tác động tích cực của chính sách xã hội nông thôn hiện nay:

– Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống người dân nông thôn. Trong những năm qua, dân số và lực lượng lao động nông thôn về mặt tỷ trọng tuy có giảm, nhưng vẫn chiếm số lượng khá lớn trong tổng dân số và lực lượng lao động xã hội và là nguồn nhân lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nông thôn. Tính đến năm 2005, dân số nông thôn chiếm 73,25% tổng dân số và 75,06% tổng lực lượng lao động của cả nước. Mặc dù tốc độ tăng trưởng nông nghiệp thấp hơn công nghiệp và dịch vụ, nhưng yếu tố lao động tham gia vào tăng trưởng rất lớn, nhất là khu vực nông thôn. Giai đoạn 2001-2005, tăng trưởng kinh tế cả nước đạt bình quân 7,5%/năm, trong đó, nông, lâm, ngư đạt 3,66%/năm; đặc biệt, sản lượng lương thực có hạt từ 34,27 triệu tấn (năm 2001) đã tăng lên 39,55 triệu tấn (năm 2005), bình quân mỗi năm tăng 1,32 triệu tấn, là thành tựu rất to lớn, chẳng những đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, mà còn phục vụ tốt cho xuất khẩu (đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo).

Yếu tố lao động tham gia vào tăng trưởng nói chung, theo các nhà kinh tế, chiếm khoảng 20%, yếu tố vốn chiếm 57,5% và các yếu tố tổng hợp chiếm khoảng 22,5%. Tuy nhiên, trong nông nghiệp, yếu tố lao động tham gia vào tăng trưởng rất lớn vì đầu tư cho nông nghiệp thấp hơn cho công nghiệp, đặc biệt trong sản xuất lương thực, yếu tố lao động đóng góp khoảng 50%. Tăng trưởng kinh tế góp phần quan trọng nâng cao đời sống người dân nông thôn. Theo kết quả điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân 1 nhân khẩu/tháng của khu vực nông thôn năm 2001-2002 là 275,13 nghìn đồng, đến năm 2003-2004 tăng lên 378,09 nghìn đồng, tăng 37,42% (cao hơn mức tăng của khu vực thành thị – 31,09%). Mức chi tiêu cũng tăng từ 232,1 nghìn đồng/tháng năm 2001-2002 lên 314,3 nghìn đồng/tháng năm 2003-2004, tăng 35,42% (cao hơn mức tăng của thành thị – 31,06%). Một bộ phận người dân nông thôn bước đầu có tích luỹ (nhất là nhóm 4, 5), trên 2 triệu hộ dân nông thôn đạt mức thu nhập 30 triệu đồng/hộ/năm. Đối với nhóm nghèo nhất, mức thu nhập bình quân 1 khẩu/tháng năm 2003-2004 so với năm 2001-2002 cũng tăng (31,65% ở nhóm 1 và 35% ở nhóm 2 trong 5 nhóm dân cư).

– Tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) và hội nhập. Trong 5 năm (2001-2005), chúng ta đã đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, đầu tư toàn xã hội bình quân đạt trên 35,1% GDP (năm 2005 đạt 36,5%), xuất khẩu được mở rộng và nhiều ngành nghề, lĩnh vực mới được mở mang, đã tạo thêm được nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động, từng bước khắc phục tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn, nâng cao hiệu quả và chất lượng việc làm. Trong 5 năm này, bình quân mỗi năm khu vực nông thôn tạo việc làm mới cho 938.555 người, chiếm 62% tổng số vị trí làm việc mới được tạo ra. Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn tăng liên tục từ 74,37% (năm 2001) lên 80,65 % (năm 2005), cũng có nghĩa là tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn đã từng bước được cải thiện. Cơ cấu lao động được chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ lệ lao động nông nghiệp liên tục giảm từ 62,76% năm 2001 xuống 56,8% năm 2005, tương ứng lao động công nghiệp và xây dựng tăng lên 17,9% và dịch vụ 25,3%. Trong nông thôn, lao động làm nông nghiệp cũng đang giảm, đồng thời lao động làm ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ tăng; làng nghề phát triển với tốc độ 11%/năm, hiện có khoảng 2.017 làng nghề với 1,4 triệu hộ, cả nước có khoảng 1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn thu hút khoảng 10 triệu lao động (kể cả kiêm nghề), chiếm 29% lực lượng lao động nông thôn.

– Xoá đói giảm nghèo nhanh hơn, hạn chế tốc độ gia tăng chênh lệch giàu nghèo, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nông thôn. Chính sách xoá đói giảm nghèo ở nước ta được triển khai từ năm 1992 và đến năm 2005 đã đạt được kết quả cao (từ 58,1% hộ nghèo giảm xuống còn dưới 22% – tính theo chuẩn nghèo của WB), được cộng đồng quốc tế đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới (so với mục tiêu thiên niên kỷ về xoá đói giảm nghèo, chúng ta đã về đích trước 10 năm). Chênh lệch thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn năm 1993 là 1,96 lần, đến năm 1998 tăng lên 3,66 lần, năm 2002 lại giảm xuống còn 2,26 lần và đến năm 2004 giảm còn 2,16 lần. Đó là một sự chênh lệch tất yếu được người dân chấp nhận, đồng thuận; chưa trở thành vấn đề xã hội bức xúc, gây mất ổn định xã hội.

– Người dân nông thôn được tiếp cận tốt hơn với hệ thống chính sách an sinh xã hội. Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, ngoại trừ chính sách bảo hiểm xã hội người dân nông thôn đến nay chưa được tham gia, còn lại các chính sách khác liên quan đến bảo trợ xã hội chủ yếu đều đã đến với các đối tượng xã hội ở nông thôn. Với sự quan tâm của Nhà nước, của cộng đồng trong chủ động dự phòng cứu trợ khẩn cấp với phương châm 4 tại chỗ, hàng năm đã cứu trợ đột xuất cho 1-1,5 triệu người ổn định cuộc sống do thiên tai, bão lụt, mất mùa, giảm thiểu thiệt hại về người và của. Số đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội ngày một tăng, từ 205.314 người (năm 2001) lên 300.000 (năm 2004) và 360.000 người (2005). Trong 5 năm qua, đã cai nghiện cho 184.277 lượt người, giáo dục chữa trị, phục hồi chức năng cho 25.420 đối tượng mại dâm; dạy nghề cho 10.000 đối tượng và 3.468 đối tượng được tạo việc làm, hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng. Trong tổng số đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội, 80% là ở nông thôn.

– Dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là giáo dục, y tế, nước sạch sinh hoạt đã chú ý hơn đến khu vực nông thôn. Năm 2000, nước ta đã công bố xoá xong nạn mù chữ và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đầu phổ cập bậc trung học cơ sở. Đặc biệt, con em các hộ gia đình nghèo đã được Nhà nước hỗ trợ để có điều kiện đến trường. Hàng năm, có trên 3 triệu lượt học sinh nghèo và học sinh dân tộc thiểu số được miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường. Người dân nông thôn đã được chăm sóc tốt hơn về sức khoẻ nhờ củng cố và phát triển được mạng lưới y tế rộng khắp trong cả nước, đến nay hầu hết các xã đã có trạm y tế, cả nước có 96.604/116.359 thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động (đạt 83%), 61,4% số xã có bác sỹ. Bảo hiểm y tế không ngừng mở rộng, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ người nghèo trong khám chữa bệnh, nhất là cấp thẻ, sổ khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đến nay, 14 triệu lượt người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí (3,5 triệu lượt người/năm). Dịch vụ cấp nước sạch sinh hoạt đã hướng mạnh về nông thôn. Năm 2005, trong tổng số công trình đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở ở nông thôn ở các xã đặc biệt khó khăn có 12% số công trình về cấp nước sạch sinh hoạt.

Những hạn chế trong chính sách xã hội của nông thôn hiện nay. Mặc dù đã có những đóng góp tích cực nhưng tác động của hệ thống chính sách xã hội đến phát triển nông thôn vẫn chưa tương xứng và ngang tầm với yêu cầu, nhiều vấn đề bức xúc về xã hội nông thôn có xu hướng gia tăng, biểu hiện trên các mặt sau:

– Một là, chính sách xã hội nông thôn mặc dù đem lại kết quả rất tích cực, nhất là xoá đói giảm nghèo nhưng còn thiếu bền vững và chưa gắn chặt với phát triển. Lao động tham gia vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là do số lượng mà chưa phải là do chất lượng lao động. Cụ thể là, lao động nông thôn đóng góp làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tới 50%, nhưng chủ yếu là lao động cơ bắp, hầu hết chưa qua đào tạo nghề; năng suất nông nghiệp còn thấp: Bình quân 1 lao động nông nghiệp tạo ra giá trị chỉ bằng 22,7% so với dịch vụ và 16,3% so với công nghiệp (năm 2004). 1 héc ta đất nông nghiệp tạo ra giá trị chỉ khoảng 22,5 triệu đồng (năm 2005). Công tác xoá đói giảm nghèo chủ yếu mới giải quyết được vấn đề nghèo lương thực, thực phẩm (thực chất là xoá đói); phần lớn người thoát nghèo nằm sát chuẩn nghèo (cận nghèo) và tỷ lệ tái nghèo còn cao (7-10%). Chúng ta cũng chưa có chính sách khuyến khích thoát nghèo, vươn lên làm giàu cho người dân nông thôn.

– Hai là, sức lao động nông thôn chưa được giải phóng triệt để và chưa tạo ra được động lực mới trong việc sử dụng có hiệu quả lao động nông thôn, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn còn xảy ra nghiêm trọng. Lao động nông thôn chủ yếu vẫn là tự làm trong kinh tế hộ gia đình (90%). Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại tuy đã phát triển song còn chiếm tỷ lệ thấp (hiện nay cả nước có khoảng 80 nghìn trang trại, bình quân 1 trang trại sử dụng 6,04 lao động, trong khi có tới 14 triệu hộ nông thôn). Các ngành nghề ở nông thôn còn phát triển chậm, đến nay cả nước có khoảng 2.017 làng nghề, thu hút khoảng 27% số hộ nông dân sản xuất nông nghiệp kiêm nghề, 13% hộ chuyên nghề. Thị trường lao động nông thôn còn rất sơ khai, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng xa hầu như chưa phát triển quan hệ lao động. Giá tiền công trong khu vực nông thôn thường thấp hơn khu vực thành thị 15-20%. Khả năng cạnh tranh của lao động nông thôn rất yếu, lực lượng lao động này di chuyển đến các khu công nghiệp, đô thị, các thành phố lớn tìm việc làm ngày càng tăng, nhưng chỉ tham gia được thị trường lao động có trình độ thấp hay những khu vực phi kết cấu với việc làm không ổn định, thu nhập thấp và có nhiều rủi ro. Cũng vì vậy, nhiều vấn đề xã hội của lao động nhập cư từ nông thôn nổi lên gay gắt như: Vấn đề nhà ở, phúc lợi xã hội, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Quá trình CNH, đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở nước ta, kéo theo đó là tình trạng mất việc làm trong nông nghiệp của một bộ phận lớn nông dân cũng gia tăng. Trong giai đoạn 2000-2004, cả nước có số diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng sang công nghiệp, đô thị là 157.000 ha và cứ mỗi héc ta đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng có 13 lao động nông thôn mất việc làm. Do vậy, tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một trong những vấn đề lớn nhưng chưa được giải quyết.

– Ba là, vấn đề công bằng xã hội đối với nông thôn còn nhiều bất cập. Chất lượng và giá trị việc làm của lao động nông thôn thấp và cơ hội tiếp cận các nguồn lực sản xuất (tín dụng, công nghệ, thị trường…) rất hạn chế nên hiệu quả việc làm không cao, còn phổ biến tình trạng lấy công làm lãi. Lao động nông thôn chủ yếu là tự làm trong hộ gia đình, tham gia thị trường lao động rất ít và thường ở thị trường lao động bậc thấp; còn khu vực thành thị có tỷ lệ lao động làm công ăn lương cao (30-40%) và tham gia thị trường lao động trình độ cao, do đó, tiền công bình quân cao hơn lao động nông thôn. Ở nông thôn, trong khu vực nông nghiệp, tình hình mất an toàn vệ sinh lao động rất nghiêm trọng: Khoảng 30% số người trực tiếp phun thuốc bảo vệ thực vật có dấu hiệu nhiễm độc.

Bốn là, việc mở rộng xã hội hoá trong huy động nguồn lực để thực hiện chính sách xã hội nói chung, chính sách xã hội nông thôn nói riêng là chủ trương đúng đắn, tuy nhiên, do nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách xã hội nông thôn nên đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các chính sách xã hội chưa tương xứng với mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra và chưa đáp ứng yêu cầu của đối tượng. Đầu tư cho dạy nghề, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội… đều thấp xa so với mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra (năm 2005, đầu tư cho giáo dục, đào tạo chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước nhưng đầu tư cho dạy nghề chỉ chiếm 6,5% tổng chi ngân sách cho giáo dục, đào tạo; vốn vay cho tạo việc làm và xoá đói giảm nghèo chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu…). Từ đó, độ bao phủ của chính sách xã hội cho đối tượng còn rất hạn chế, lao động nông thôn hầu như chưa được tham gia bảo hiểm xã hội, chỉ một bộ phận nhỏ, chủ yếu là người rất nghèo mới được cấp thẻ bảo hiểm y tế; việc hỗ trợ khắc phục hậu quả do thiên tai mới đáp ứng được 17,63% tổng thiệt hại; tỷ lệ đối tượng được trợ cấp xã hội còn thấp (năm 2005 khoảng 53%); các cơ sở cai nghiện tập trung mới đảm bảo 30% nhu cầu của đối tượng…

2. Mối quan hệ qua lại giữa pháp luật và các thể chế xã hội khác trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở nông thôn

Như đã nêu ở phần I, nông thôn Việt Nam có những đặc điểm rất riêng biệt và điển hình của văn hóa làng xã. Do vậy, hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội tại khu vực này đi vào nền nếp. Tuy nhiên, có thể nhận thấy một số điểm như sau:

– Đôi khi người dân nông thôn coi trọng lệ làng, phong tục, truyền thống hơn là các quy định pháp luật. Điều này xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của lịch sử phát triển nông thôn ở Việt Nam có tính cố kết cao, coi trọng truyền thống hơn các quy định của Nhà nước.

– Cho đến thời điểm phát triển hiện đại như ngày nay, các hủ tục, phong tục cũ của làng xã vẫn còn tồn tại, đi ngược lại đạo lí thông thường, đi ngược lại các quy định pháp luật hiện hành (như tục bắt vợ, tảo hôn,…).

– Ảnh hưởng của văn hóa làng xã đến nay vẫn còn rất lớn. Ngay cả ở những khu vực của đô thị cũng vẫn còn lệ làng, vẫn tiếp diễn những tục lệ đôi khi đi ngược lại văn hóa đô thị, văn hóa văn minh mới.

– Trong một số lĩnh vực của khu vực nông thôn, pháp luật hầu như không thể can dự hay điều chỉnh được, đó là truyền thống gia đình nông thôn, lệ làng,… Các mối quan hệ đạo đức, tôn giáo, phong tục có nền tảng từ rất lâu và chiếm vị trí quan trọng trong quan niệm của người dân nông thôn.

3. Vị trí, vai trò của các chủ thể đối với việc phát huy tích cực thể chế xã hội trong phát triển xã hội tại nông thôn

3.1. Nhà nước

Trong vòng năm thập kỷ vừa qua, thế giới đã từng trăn trở tìm tòi con đường phát triển nông thôn. Trước hết là cuộc “cách mạng xanh”, thành tựu của việc phát triển nông thôn gắn với phát triển nông nghiệp, hướng mọi cố gắng vào phát triển công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp và sử dụng hợp lý tài nguyên của thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Bước sang thập kỷ 70, người ta tập trung chú ý đến việc làm và thu nhập, tăng trưởng và sự công bằng. Các chương trình phát triển nông thôn ra đời chú ý đến phân phối thu nhập, việc làm, thị trường, năng suất lao động, hệ thống nông trại, kinh tế hộ nông dân. Thành công của chiến lược này làm xuất hiện một số nước công nghiệp mới, nhất là ở Đông Á. Lúc này nổi lên khái niệm phát triển nông thôn tổng hợp. Sang thập kỷ 80 tại các nền kinh tế công nghiệp phát triển như Nhật Bản, châu Âu,… người ta đề cao quan niệm phát triển nông thôn để xây dựng một nền nông nghiệp, phát triển nông thôn đa chức năng: nông thôn không chỉ là địa bàn cư trú của cư dân nông thôn và sản xuất nông nghiệp mà còn đảm nhiệm những chức năng mà thành phố không đáp ứng được, trong đó nổi lên vấn đề bảo vệ môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái, bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa truyền thống, các giá trị nhân văn và nguồn vốn con người… trong suốt hai thập kỷ tiếp theo. Đối với các nước đang phát triển, quan điểm phát triển nông thôn đa chức năng nhấn mạnh vào khía cạnh phát triển bền vững, phát triển tổng hợp cả kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, môi trường nông thôn.

Nhận thức được những vấn đề trên, Nhà nước ta đã có xây dựng các chương trình hành động cũng như ban hành các văn bản pháp luật góp phần phát triển khu vực nông thôn. Nhìn chung, các loại thể chế xã hội tại khu vực nông thôn, đặc biệt là vấn đề tôn giáo, phong tục, tập quán,.. đã được Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện phát triển. Do vậy, có thể nhận thấy Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các loại thể chế xã hội khu vực nông thôn. Hơn nữa, các loại thể chế xã hội này ở nông thôn mang những nét đặc thù riêng nên việc quản lý cũng như phát triển có những nét rất riêng biệt.

3.2. Đảng và các tổ chức xã hội[6]

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế- xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị-xã hội bảo đảm an ninh quốc phòng; giữ gìn phát huy bản sác văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn, nông dân gắn với sự phát triển đất nước.

Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân, xuất phát từ tình hình đặc điểm xã hội Việt Nam và yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng( 2/1930) đã xác định phải “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản”. Để thực hiện được mục tiêu đó trước hết phải “xây dựng chính phủ công nông binh” và”thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo” ,”bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo”. Như vậy, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác đinh vấn đề nông dân và ruộng đất là một trong những vấn đề cốt lõi của các mạng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi hoàn toàn khi giải quyết được vấn đề nông dân và ruộng đất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét vấn đề nông dân một cách toàn diện, nghĩa là không dừng lại ở vấn đề chính trị mà gắn liền với vấn đề kinh tế, vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, khi xem xét về mặt chính trị của vấn dề nông dân là cơ sở để xây dựng khối liên minh công nông và trí thức, cơ sở để xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống Pháp. Sau khi gìành được độc lập dân tộc, liên minh công nông trí thức là nền tảng của chính quyền, là công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và bảo về chủ nghĩa xã hội.

Sau khi mền Bắc được giải phóng (1954), diện tích đất trồng trọt miền Bắc chỉ khoảng 2 triệu ha. Trong đó, hơn một nửa diện tích thuộc về địa chủ, phong kiến, nhà thờ…còn 44,5% thuộc về số hộ nông dân. Sau năm 1955, việc ban hành và thực thi chính sách nông nghiệp của Nhà nước, nông nghiệp miền Bắc bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, sản phẩm hàng hoá tăng, đời sống nông dân được ổn định. 81 vạn ha ruộng đất đã được đưa về 2,1 triệu hộ nông dân, chính sách giảm thuế nông nghiệp góp phần thúc đấy kinh tế-xã hội phát triển.

Tuy nhiên, phải thấy rằng, trong một thời gian dài, do phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ phải thực hiện chế độ bao cấp, thực hiện tất cả cho tiền tuyến nên những chỉ đạo về nông nghiệp, nông thôn, nông dân cùng còn những hạn chế nhất định. Thực hiện biện pháp cải tạo xã hội chủ nghĩa, nông nghiệp chỉ còn tồn tại dưới hình thức sở hữu hợp tác xã và nông trường quốc doanh. Các nguyên tắc hợp tác hoá theo tư tưởng của Lênin và Hồ Chí Minh như: tự nguyện, quản lý dân chủ, đi từng bước vững chắc đã được thay thế bằng phương pháp tập thể hoá với quy mô lớn, tốc độ nhanh nhưng chưa phát huy hết tính tự nguyện,tính sáng tạo tích cực của nông dân. Do quá chú trọng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nên chưa thật sự coi trọng công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Trong công tác quản lý còn nhiều thiếu sót, duy trì quá lâu mô hình kinh tế quan liêu bao cấp làm cho nền nông nghiệp Việt Nam chậm được phục hồi sau chiến tranh và rơi vào tình trạng khủng hoảng, đời sống của các tầng lớp nhân dân trước hết là nông dân vô cùng khó khăn.

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển đất nước. Nông nghiệp nông dân ,nông thôn có mối quan hệ hữu cơ cần phải có sự nhận thức đúng đắn để đề ra đường lối chính sách đúng đắn nhằm phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, không phải ngay từ đầu chúng ta đã nhận thức được một cách thấu đáo mà phải trải qua quá trình trải nghiệm thực tiễn, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để phát triển. Thực tiễn khách quan này đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới tư duy lý luận, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.

Từ Đại hội V (1981), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đặc biệt phải vượt qua cửa ải lương thực. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta chủ trương đổi mới toàn diện về kinh tế. Đây là cuộc cách mạng thật sự trong nhận thức, trong tư duy lý luận của Đảng về kinh tế. Nổi bật nhất của tư duy mới về cơ cấu kinh tế lúc bấy giờ là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cho phép và khuyến khích kinh tế tư nhân, cá thể phát triển, chú ý kích thích kinh tế tư nhân, cá thể phát triển, chú ý kích thích lợi ích cá nhân làm động lực cho phát triển kinh tế, điều chính việc xây dựng cơ cấu kinh tế ngành. Đại hội VII đã xác định nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ; phát triển nông – lâm- ngư nghiệp gắn với công nghệ chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình phát triển kinh tế-xã hội. Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát huy vai trò quan trọng của nông dân trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

Tiến trình đổi mới ở Việt Nam được bắt đầu từ đột phá nông nghiệp với chính sách cơ chế khoán, từ khoán sản phẩm trong nông nghiệp, lợi ích cá nhân của người nông dân được coi trọng và kinh tế hộ gia đình nông dân được xác định là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường để khơi dậy được tiềm năng sáng tạo ở nông thôn, giải phóng mọi năng lực sản xuất, tạo động lực thực sự cho nông dân bằng việc giải quyết hợp lý các quan hệ lợi ích trong nông nghiệp và nông thôn. Trước yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, thực trạng kinh tế-xã hội nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc như :thiếu việc làm, thu nhập thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao, chênh lệch mức sống ngày càng tăng…hiện đang là những thách thức, cản trở cho sự phảt triển nhất là trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, vấn đề nông nghiệp nông dân, nông thôn là vấn đề chiến lược cần được đặc biệt quan tâm như Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: “Phát triển nông-lâm-ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội”[7].

Hội nghị làn thứ Bảy của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Đảng ta khẳng định, trong mối quan hệ của nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì nông dân là chủ thể của quá trình phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Xây dựng nông thôn mới gắn với việc xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hoá nông nghiệp là then chốt.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết sau:

– Nông nghiệp và kinh tế nông thôn là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho công nghiệp và xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập, ổn định đời sống cho đa số nhân dân. Nông thôn là môi trường sống, nơi bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống văn hoá dân tộc.

– Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tôc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua các thời kỳ cách mạng, giai cấp nông dân luôn là lực lượng hùng hậu nhất đi theo Đảng, là nền tảng chính trị của cách mạng, đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

– Phát triển nông nghiệp, nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân là nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở góp phần đảm bảo ổn định chính trị- xã hội, phát triển dất nước hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong điều kiện đẩy mạnh công nghiêp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều cơ hội cũng như những thách thức mới. Đảng cần phải xem xét đánh giá đúng tình hình và có những quyết sách mạnh mẽ giải quyết kịp thời những vấn đề đang đặt ra.

Để thực hiện tốt Nghị quyết của Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển cần thực hiện chiến lược công nghiệp hoá rút ngắn để chuyển từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Thực tế 20 năm đổi mới ở Việt Nam cho thấy tầm quan trọng của nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế của cả nước. Định hướng về phát triển nông thôn phải bắt đầu từ đổi mới nhận thức về vai trò của nông thôn theo hướng phát triển toàn diện các ngành nghề, dịch vụ trên địa bàn nông thôn,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn theo hướng phát triển toàn diện và vững chắc gắn với công nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu nông sản. Do vậy, cần đổi mới quan điểm và nhận thức về vai trò và vị trí của nông thôn trong sự nghiệp đổi mới.

Việt Nam là một nước đang phát triển, cho đến năm 2007, Việt Nam có 73% dân số sống ở nông thôn với 10,46 triệu hộ làm trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 71%số hộ . Số hộ nông dân làm nông nghiệp có 9,74 triệu hộ chiếm 93,5% số hộ nông lâm thuỷ sản. Về lao động cả nước có 55,7% số lao động trực tiếp làm nông lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 20% GDP trong toàn bô nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, tốc độ phát triển của nông nghiệp theo nghĩa rộng nông dân có tầm quan trọng đặc biết đối với sự phát triển chung của nền kinh tế.

Sau hơn 20 năm đỏi mới (từ 1986 đến nay), tuy tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và lao động nông nghiệp giảm dần nhưng tầm quan trọng của nó và vai trò của nông dân trong nền kinh tế quốc dân vẫn không ngừng được tăng lên. Nông nghiệp và nông dân đã cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của hơn 85 triệu dân với mức tăng trên 1,2 triệu người trên một năm, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp, chế biến và xuất khẩu nông sản với số lượng và chất lượng ngày càng tăng.

Trong hơn 20 năm qua, sản xuất hát triển toàn diện, trồng trọt và chăn nuôi đếu tăng trưởng liên tục với tốc độ tăng bình quân từ 2001 đến 2008 khoản 3,6%. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi để tăng giá trị và hiệu quả kinh tế, tăng năng xuất lao động nông nghiệp

Quan điểm đúng đắn của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cho thấy tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân và đã được khẳng định bằng kết quả cụ thể trong từng ngành và từng lĩnh vực:

Nhờ có đường lối, chính sách nông nghiệp đúng đắn nên đã phát huy được vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân đối với nền kinh tế quốc dân. Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước. Báo cáo phát triển do WB công bố tháng 12/2007 “Tăng cường nông nghiệp cho phát triển” đã khẳng định đói với một nướ có nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị hoá như Việt Nam, nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo và tăng nguồn thu nhập cho nông dân. Việt Nam là một nước xoá đói giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Nông nghiệp ở Việt Nam còn mở đường cho các chính sách đổi mới kinh tế nói chung bắt nguồn từ khoán 100 (năm 1981) và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (năm 1988).

Đường lối đúng đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, biến Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 hoặc thứ 3 trên thế giới liên tục từ 1989 đến nay. Sản lượng lương thực từ 18,3 triệu tấn năm 1986 tăng lên 21,5 triệu tấn năm 1990; 27,5 triệu tấn năm 1995; sản lượng lương thực có hạt từ 34,5 triệu tấn năm 2000 tăng lên 39,6 triệu tấn năm 2007gấp 2,22 lần so với năm 1986. Đánh giá khái quát, Việt Nam đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch của sản xuất lương thực năm 2010 trước 2 năm theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2006-2010

Sản phẩm nông nghiệp Việt Nam sản xuất hơn 20 năm qua đã đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản trong cả nước. Từ năm 2006 đến nay, lượng cà phê nhân đạt bình quân trên 850 nghìn tấn tăng gấp 9,3 lần so với năm 1990; tương tự, cao su đạt 546 nghìn tấn mủ khô tăng gấp 9,5 lần; chè đạt 612 nghìn tấn tăng 4,2 lần; hồ tiêu đạt 86,2 nghìn tấn, hạt điều đạt 235 nghìn tấn tăng gấp 10 lần và dừa đạt 982 nghìn tấn tăng 10%.

Nông nghiệp đã đóng góp quan trọng trong hoạt động xuất khẩu nông sản cả nước. Năm 2007. kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản lên tới gần 6,5 tỷ USD. đã hình thành những vùng sản xuất nông sản hàng hoá xuất khẩu quy mô lớn, chất lượng cao như: vùng lúa Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cà phê Tây Nguyên, vùng cao su, hạt điều, hạt tiêu vùng Đông Nam Bộ. Đặc biệt, năm 2007 sau khi vào WTO, uy tín Việt Nam được nâng lên một bước. Sau một năm vào WTO, nông sản xuất khẩu Việt Nam đã mở rộng được thị trường theo hướng tăng chất lượng đảm bảo an toàn thực phẩm. Giá cả hàng nông sản xuất khẩu tăng lên, thị trường mở rộng kể cả thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Mỹ.

Trong tiến trình đỏi mới, trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam đã hình thành và hoàn thiện mô hình sản xuất mới, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều mô hình tổ chức sản xuất và quản lý mới theo hướng hàng hoá trong nông nghịêp đã hình thành. các doanh nghiệp nông nghiệp phát triển theo hướng đa thành phần: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ruộng đất dược giao cho hộ nông dân, hộ công nhân nông trường được sử dụng lâu dài theo Luật đất đai. Kinh tế nông hộ và trang trại gia đình lấy sản xuất hàng hoá làm mục tiêu phát triển mạnh. Đến đầu năm 2007, cả nước đã có 113.730 trang trại trong đó: 72.237 trang trại nông nghiệp, 2661 trang trại lâm nghiệp, 34.202 trang trị thuỷ sản, 4.636 trang trại kinh doanh tổng hợp.

Khoa hoc kỹ thuật phục vụ nông nghiệp đã đáp ứng khá đầy đủ các yêu cầu của nền nông nghiệp hàng hoá xuất khẩu. Công nghệ sinh học, tưới tiêu, làm đất, phân bón, bảo quản sau thu hoạch ngày càng tiến bộ. Năng xuất lúa của Việt Nam những năm gần đây đã gấp 2 lần của Thái Lan, Philiphin và Indonesia.

Như vậy, Nghị quyết của Đảng đã đi vào đời sống thực tiễn và làm thay đổi thực tiễn. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản đã tạ ra bước chuyển từ nền sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, thuần nông năng suất thấp sang nền sản xuất đa ngành, đa canh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu lao động trong cả nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt đươc, nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam còn có những hạn chế yếu kém, bất cập và những vấn đề phát sinh cần phải giải quyết. Hội nghị Trung ương lần thứ Bảy khoá X về nông nghiệp nông dân, nông thôn đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém sau:

– Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm so với yêu cầu. Nông nghiệp vẫn nặng về trồng trọt, lúa đóng vai trò chủ yếu trong cơ cấu cây trồng, tỷ trọng giá trị chăn nuôi mới vượt ngưỡng 20%, sản xuất phân tán năng xuất thấp.

– Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu chuyển giao khoa học-công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến là sản xuất nhỏ, phân tán.

– Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Trình độ công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn thấp, công nghệ sau thu hoạch chưa phát triển. Nhiều cơ sở chế biến lạc hậu về công nghệ gây ô nhễm môi trường. Theo báo cáo của Hội Nông dân Việt Nam năm 2007 có đến 80% làng nghề không đủ vốn mở rộng sản xuất, đổi mới kỹ thuật; 35% thiếu nguyên liệu để sản xuất. Chất lượng sản phẩm chậm được cải thiện, giá thành cao, sức cạnh tranh yếu.

– Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất hàng hoá. Sản xuất và tiêu thu sản phẩm nông nghiệp chịu tác động của những biến động giá nông sản và vật tư trên thị trường thế giới nên tính rủi ro cao, tiềm ẩn nguy cơ kém bền vững.

– Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn yếu, môi trường ô nhiễm, năng lực thích ứng đối phó với thiên tai còn hạn chế. Nếu không có những giải pháp chủ động đối phó với dự báo của khí tượng thuỷ văn, nếu băng tan mực nước biển dâng cao thì đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập mặn mất đi 38% diện tích đất canh tác.

– Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo gữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, Việt Nam về cơ bản vẫn là một nước nghèo, kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp sản xuất nhỏ. Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu năm 2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành một nước công nghiệp, GDP bình quân nhân khẩu đạt trên 2000 USD. Đây là mục tiêu rất cao, muốn đạt được cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ của các ngành sản xuất và dịch vụ, trong đó nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng. Đó là vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia góp phần đảm bảo an ninh lương thực thế giới, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của nông dân, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và lao động xã hội.

III. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ XÃ HỘI KHU VỰC NÔNG THÔN

1. Quan điểm, định hướng chung phát triển thể chế xã hội đối với khu vực nông thôn Việt Nam

Thứ nhất, bắt đầu từ công tác quy hoạch.

Thực tiễn xây dựng nông thôn những năm trước đây cho thấy, thiếu quy hoạch, nặng về xây dựng hạ tầng thuần túy đã làm quá trình thực hiện hiệu quả không cao. Các xã không quy hoạch tổng thể, cần đâu làm đấy, giải quyết tạm thời những bức xúc trước mắt mà chưa phục vụ cho lâu dài. Có thể nói, nút thắt đầu tiên của việc xây dựng nông thôn chính là quy hoạch. Không có quy hoạch cũng như phải dò đường trong bóng tối, dẫn đến chắp vá, thiếu đồng bộ.

Xây dựng nông thôn mới là vấn đề chiến lược nhưng cấp bách. Muốn đạt được điều đó thì công tác quy hoạch phải đi trước một bước, mở đường, để phát triển dài hạn một cách có hệ thống, qua đó tạo sự đồng bộ, hơn nữa là căn cứ để địa phương dễ thực hiện, nhất là trong điều kiện trình độ cán bộ cơ sở về quy hoạch, xây dựng còn hạn chế.

Thứ hai, hiện đại trong lòng truyền thống.

Quan điểm trong xây dựng nông thôn mới là bảo đảm tính kế thừa, phát triển bền vững, vừa mang tính hiện đại, vừa giữ gìn đặc trưng, bản sắc văn hóa của mỗi địa phương. Có giai đoạn, xây dựng nông thôn mới được nhiều cán bộ, người dân đồng nhất với việc xây dựng hạ tầng, thiếu các nội dung khác, quan niệm nông thôn mới là cuộc cách mạng “bê-tông hóa”, từ đó làm phá vỡ cảnh quan, môi trường sinh thái. Cái hồn làng quê Việt vốn kết tinh hàng nghìn năm và thẩm thấu trong nếp ăn, nếp ở, phong tục, tập quán, kiến trúc, những thiết chế văn hóa làng xã…, tạo nên bản sắc riêng có mỗi vùng, miền.

Giống như một cuộc “đại phẫu”, nhưng không phải là cắt gọt, loại bỏ hoàn toàn, mà chỉ lược bỏ những điều lạc hậu, bổ sung những cái còn thiếu, xây dựng nông thôn mới nên đan xen giữa yếu tố mới và truyền thống, hiện đại nằm trong lòng cổ truyền. Vẫn bên dưới những mái nhà truyền thống, nhưng cuộc sống người dân được nâng cao hơn, thụ hưởng các tiện nghi, trang thiết bị sinh hoạt đầy đủ hơn. Nông thôn mới không theo nghĩa phủ định sạch trơn quá khứ, mà ngược lại chính là sự kế thừa truyền thống để phát huy, phát triển, cốt lõi là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người dân, giảm dần khoảng cách giữa đô thị và nông thôn.

Thứ ba, nâng cao tính tự chủ của người nông dân, cộng đồng.

Người nông dân là chủ thể, cũng vừa là đối tượng của quá trình xây dựng nông thôn mới. Nhưng trước đây, họ lại gần như đứng ngoài cuộc của quá trình này. Đó chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiệu quả thấp của một giai đoạn dài. Trong xây dựng nông thôn mới hiện nay, việc nâng cao năng lực cộng đồng có vai trò quan trọng, không chỉ đào tạo nghề mà còn trang bị cho người nông dân những kiến thức cần thiết để tham gia vào quá trình này, thích nghi với lối sống mới. Có thể nói, mục tiêu từng bước tri thức hóa người nông dân đang được thực hiện như là mấu chốt trong nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới, dù không phải một sớm, một chiều có thể làm ngay được.

Mô hình nông thôn tiên tiến phải được dựa trên nền tảng cơ bản: nông dân có tri thức. Họ phải có trình độ khoa học về thổ nhưỡng, giống cây trồng, hóa học, phân bón, thuốc trừ sâu, quản lý dịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế nông nghiệp, sử dụng nông cụ máy móc… Khi người nông dân được trang bị kiến thức sẽ thúc đẩy họ tự tin, tự quyết, đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một nông thôn mới năng động hơn, thực sự phát huy vai trò làm chủ của mình, nhất là trong việc bàn bạc, lựa chọn mô hình, giám sát quá trình thực hiện, quản lý, sử dụng các công trình…

Xây dựng nông thôn mới nên đi theo phương châm dựa vào sức dân để lo cho dân, cùng với sự đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực tài chính trong cộng đồng. Đặc biệt, huy động sự đóng góp của các doanh nghiệp liên quan tới sản xuất nông nghiệp, doanh nghiệp và nông dân là bạn hàng, đầu tư vào hạ tầng nông thôn doanh nghiệp sẽ thu lợi từ chất lượng nông phẩm. Thực tiễn cho thấy, khi tính tự chủ của người dân được nâng lên, họ tham gia tích cực và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xây dựng nông thôn mới.

Thứ tư, phát huy các giá trị truyền thống của văn hóa nông thôn, làng xã, nâng cao tính cố kết của cộng đồng nông dân. Điều này rất quan trọng bởi nông thôn là nơi chứa đựng những phong tục, đạo đức, tôn giáo cũng như những truyền thống quý báu của dân tộc. Hơn nữa, tính cố kết của cộng đồng dân cư là một điểm mạnh cần được giữ gìn và phát triển hơn nữa.

2. Các giải pháp cụ thể về mặt thể chế xã hội

Thứ nhất, Phải có sự dịch chuyển lao động. Sự dịch chuyển này bằng hai cách. Một là đưa lao động ra khỏi khu vực nông thôn về các khu công nghiệp, đưa đi xuất khẩu lao động, đưa về thành phố. Hai là đưa công nghiệp, dịch vụ về nông thôn, phát triển làng nghề… Mặc dù đây là vấn đề rất lớn để giảm thiểu sự bất bình đẳng hiện nay, nhưng Việt Nam chưa quan tâm nhiều tới vấn đề này, trong khi đây là xu thế tất yếu.

Thứ hai, Tăng đầu tư của Nhà nước về nông thôn. Hiện nay, đầu tư của Nhà nước về nông thôn còn hạn chế (chiếm 14% tổng đầu tư) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực này không đáng kể (3% tổng đầu tư FDI cả nước). Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần đẩy mạnh đầu tư cho khoa học công nghệ (hiện chiếm 0,13% GDP nông nghiệp, trong khi các nước tương tự là 4%). Tất nhiên, vấn đề này cũng không dễ dàng bởi nông dân rất khó tiếp cận và làm chủ KHCN.

Thứ ba, Thiết lập hệ thống khuyến nông tốt. Có thể thuê khuyến nông tư nhân làm mà không cần phải dựa hoàn toàn vào Nhà nước. Ngoài ra, phải có các cơ chế tài chính phù hợp thu hút các tổ chức quốc tế, phi chính phủ làm việc này và tăng cường các mô hình giáo dục, đào tạo ở địa phương để người dân có thể tiếp cận được”. Song song đó là đầu tư cho các dịch vụ công khác và đẩy mạnh cải cách thể chế.

Thứ năm, Nhà nước cần đầu tư đào tạo nghề cho nông dân để đối phó với sự dịch chuyển trong nông nghiệp.

Thứ sáu, Tận dụng nhiều hơn những ưu đãi cho nông nghiệp. Khi gia nhập WTO, phải xóa bỏ chính sách trợ giá, nhưng phải tận dụng được ưu đãi mà WTO cho phép (khoảng 10% GDP của nông nghiệp) như thủy lợi, hệ thống tưới tiêu, cải tạo đất đai, nghiên cứu áp dụng khoa học – công nghệ vào nông nghiệp.

Thứ bảy, Có chính sách hỗ trợ cho an ninh lương thực. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho lĩnh vực này. Muốn đảm bảo an ninh lương thực, duy trì diện tích và sản lượng lúa ở đồng bằng Sông Cửu Long thì phải có chính sách để bảo đảm thu nhập cho người dân và cho phát triển vùng này. Hiện nay, những tỉnh có tỉ trọng nông nghiệp cao trong GDP là những tỉnh nghèo, kém phát triển. Nên xem vấn đề an ninh lương thực dưới góc độ cung cấp dịch vụ cơ bản.

Bằng nội lực, người dân nông thôn chỉ đủ đảm bảo mưu sinh. Muốn phát triển bền vững, người dân nông thôn cần rất nhiều sự hỗ trợ từ bên ngoài. Cụ thể, khu vực tam nông cần khung khổ pháp lý của nhà nước và những cam kết quốc tế; đào tạo, nâng cao năng lực toàn diện; quy hoạch và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phát triển; chú trọng nâng cao năng lực đánh giá, điều chỉnh hoặc thay đổi các dự án và chương trình này. Quan điểm hỗ trợ tam nông phải được hiểu và thao tác theo lý thuyết tương tác, tương hỗ, tức là phát triển theo mô hình hợp tác giữa tam nông với các khu vực khác của xã hội. Lý thuyết hợp tác 4 nhà (nhà nông, nhà nước, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học) theo nguyên tắc các bên cùng có lợi cần phải bổ sung thêm nhà công tác xã hội để trở thành lý thuyết 5 nhà cho chiến lược phát triển bền vững tam nông….

Thứ tám, Các nhà nghiên cứu chính sách của Nhà nước Việt Nam đều nhìn nhận nhu cầu bức thiết trong việc cải tổ thể chế ở nông thôn. Trong khủng hỏang đã lộ ra những mắt xích yếu nhất của hệ thống kinh tế xã hội, đặc biệt là khu vực nông nghiệp nông thôn. Nhiều chuyên gia phân tích vấn đề này và cho rằng đã đến lúc phải xây dựng xã hội công dân, xã hội dân sự ở nông thôn để người dân có thể tham gia việc quyết định cuộc sống của mình. Khái niệm xã hội dân sự đối với Việt Nam, nói chung còn là vấn đề khá mới mẻ. Thóat thai từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sản xuất nhỏ chuyển sang một nền kinh tế thị trường hàng hóa lớn, ở các nước khác phải mất cả trăm năm. Thực sự mà nói đây là một quá trình phát triển chóng mặt, không phải chỉ ở thành thị, nhìn vào nông thôn mức độ xây dựng, mức độ thay đổi cuộc sống là  chóng mặt. Thế thì biến đổi xã hội dân sự thực chất là biến đổi về thể chế, mức độ thay đổi là ở tầng rất sâu và rất phức tạp.

Thứ chín, phát triển nông thôn tổng hợp dựa vào cộng đồng.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trong quá trình công nghiệp hóa ở các nước, nông thôn là khu vực chịu nhiều thiệt thòi nhất. Do trong các bước đi không tính toán đến lợi ích của nông thôn, nên rút cuộc lại phải tốn nhiều công của để sửa chữa sai lầm. Nếu ở nước ta trong giai đoạn tới không có một chính sách bảo vệ nông nghiệp thì sẽ lâm vào tình trạng như các nước đi trước. Mâu thuẫn lớn nhất hiện nay là mục tiêu của Nhà nước và của nông dân khác nhau. Nhà nước coi nông nghiệp là một khu vực của nền kinh tế, phải tăng trưởng thế nào để vừa đảm bảo được an ninh thực phẩm, vừa có thặng dư để đóng góp cho công cuộc công nghiệp hoá. Còn nông dân sống trong xã hội nông thôn cần có đời sống ngày càng được nâng cao, cùng với mức sống của đô thị. Trong xã hội nông thôn không chỉ có nông nghiệp, mà còn có công nghiệp, dịch vụ. Những nghiên cứu gần đây về sinh kế của nông dân trên thế giới và nước ta cho thấy nông dân có xu hướng đa dạng hoá sinh kế để tăng thu nhập và trong thu nhập của nông dân phần từ các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng cao. Không phải giá trị gia tăng của nông nghiệp đều được quay trở về cho nông dân mà còn được phân phối cho khu vực phi nông nghiệp. Vì vậy nông dân không chỉ sống từ nông nghiệp. Trên thế giới gần đây trong phát triển nông thôn xuất hiện xu hướng “sinh kế bền vững” trong đó bao gồm cả mục tiêu giảm nghèo, phát triển bền vững và sinh kế.

Mục tiêu của nông dân là tăng thu nhập, bất cứ từ hoạt động kinh tế nào, do đấy họ đa dạng hoá hoạt động kinh tế. Hộ nông dân có nhiều người có khả năng lao động khác nhau. Muốn có thu nhập cao mỗi thành viên của gia đình phải làm việc thích hợp nhất.

Nhà nước muốn có những khối lượng hàng hoá lớn để xuất khẩu do đấy phải quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh, phát triển các hộ nông dân chuyên môn hoá, Hiện nay có nhiều nước đang muốn chuyển từ mục tiêu “an ninh thực phẩm’ sang mục tiêu “sinh kế bền vững” hay “thu nhập nông trại”, nhưng gặp nhiều khó khăn vì các chính sách của Nhà nước cản trở.

Nông nghiệp càng phát triển mạnh thì giá nông sản càng giảm xuống. Từ đầu thế kỷ 20 giá nông sản tính theo giá cố định có xu hướng giảm dần vì năng suất lao động trong nông nghiệp ngày càng tăng do sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ và do việc trợ cấp nông nghiệp của các nước công nghiệp. Chúng ta cố gắng phát triển khuyến nông để đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhưng không biết rằng chính việc này là nguyên nhân làm giảm giá nông sản trên thị trường. Giá cả thị trường còn có một đặc tính khác là không ổn định vì nó phản ảnh cân bằng giữa cung và cầu. Nếu nước ta gia nhập WTO thì ảnh hưởng của việc giảm giá quốc tế càng mạnh hơn vì giá nông sản thế giới phụ thuộc vào ý đồ của các tập đoàn đa quốc gia. Đã công nhận kinh tế thị trường thì phải chấp nhận sự rủi ro của thị trường: giảm giá và giá không ổn định. Phải có các biện pháp để tránh các rủi ro của thị trường. Biện pháp hữu hiệu nhất để tránh rủi ro là đa dạng hoá sản xuất. Ngoài ra phải phấn đấu để không ngừng giảm giá thành nông sản bằng việc cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao năng suất lao động.

Phát triển nông thôn ở nước ta thường do các bộ làm không có sự phối hợp chặt chẽ. Các dự án phần nhiều có tiếp cận từ trên xuống và ít hiệu quả. Muốn mở rộng và tăng chất lượng của phát triển nông thôn phải áp dụng tiếp cận dựa vào cộng đồng.

Các tiếp cận phát triển nông thôn truyền thống thường nhằm vào tăng năng suất nông nghiệp coi đấy là động lực của phát triển nông thôn và giảm nghèo. Mặc dù nông nghiệp giữ một vai trò chủ yếu trong kinh tế nông thôn, nhưng hoạt động nông nghiệp không phải là nguồn độc nhất của thu nhập. Hiện nay nhiều vùng nông thôn có tỷ lệ thu nhập từ phi nông nghiệp cao. Hơn nữa NHTG nhấn mạnh rằng nghèo khổ không phải chỉ do thiếu thu nhập mà còn do thiếu quyền lực, cơ hội và an ninh. Vì vậy để chiến lược giảm nghèo có hiệu quả chúng ta phải nhìn xa hơn nông nghiệp và xử lý một cách tổng họp đến mức sống nông thôn. Chiến lược phải công nhận và dựa vào các mối quan hệ giữa các khu vực xã hội, cơ sở hạ tầng, quản lý, kinh tế nông hộ và ngoài nông hộ.

Trong các năm 1970 nhiều tổ chức quốc tế áp dụng tiếp cận phát triển nông thôn tổng hợp, với mục đích tấn công vào nghèo khổ một cách tổng hợp hy vọng có một sự tương tác giữa các dịch vụ. PTNT tổng hợp đề ra các hệ thống nông nghiệp tổng hợp gắn với huán luyện, dịch vụ xã hội, cơ sở hạ tầng. Tuy vậy chương trình này thất bại trong việc cải tiến đời sống nông thôn, thất bại vì quá tập trung, dội từ trên xuống. Tiếp theo các kết quả thất vọng của PTNT tổng hợp các tổ chức hỗ trợ lại quay trở về các chương trình theo từng nhân tố truyền thống.

Gần đây các tổ chức hỗ trợ lại muốn quay về tiếp cận tổng hợp nhưng với sự tham gia của nông dân vào quá trình ra quyết định. Phải tạo quyền lực cho các cộng đồng làm việc với chính phủ và khu vực tư nhân. PTNT trên cơ sở cộng đồng là một tiếp cận giảm nghèo bằng cách tạo hành động tập thể của cộng đồng và cho họ kiểm tra các sự can thiệp, lấy các tổ chức cộng đồng làm động lực phát triển.

Một tổ chức cộng đồng là một tổ chức gồm các người cùng có một lợi ích chung, như các tổ chức người sản xuất, các nhóm cùng nguồn lợi, các ban phát triển của làng. Sự phát triển dựa trên khái niệm về vốn, nhấn mạnh các nguồn vốn khác nhau của cộng đồng: vốn tự nhiên, vốn vật lý (cơ sở hạ tầng), vốn tài chính, vốn con người (giáo dục), vốn xã hội. Vốn xã hội là các thể chế, quan hệ và tiêu chuẩn tạo nên chất lượng và số lượng của các tác động lẫn nhau trong một xã hội. Vốn xã hội theo nghĩa hẹp bao gồm các hội quần chúng, các mạng lưới xã hội đi đôi với các tiêu chuẩn có tác dụng đến năng suất của cộng đồng. Vốn xã hội làm dễ dàng sự điều phối và hợp tác.

Có ý kiến cho rằng phát triển nông thôn phải dựa vào việc huy động vốn của cộng đồng, nhất là vốn xã hội. Trong thực tế vốn của cộng đồng nhất là cộng đồng nghèo không nhiều. Phải có các hành động nhằm gây dựng các vốn này nhất là vốn xã hội thì mới phát triển từ cộng đồng được.

Các nguyên tắc của PTNT dựa vào cộng đồng là:

– Tạo môi trường thể chế cơ bản: luật lệ, quy ước, hỗ trợ của Nhà nước.

– Củng cố các tổ chức cộng đồng

– Tăng cường năng lực các tác nhân.

– Khuyến khích sáng tạo bằng các biện pháp mềm dẽo.

Trong quá trình phát triển nông thôn có một số việc trước kia do nhà nước làm nay phải giao cho các cộng đồng nông thôn thực hiện. Phải bồi dưỡng và hỗ trợ cho các cộng đồng để họ có đủ điều kiện tự đứng ra thực hiện công việc này.

Công tác phát triển nông thôn là hoạt động tổng hợp, phải có sự tham gia của nông dân vào quá trình ra quyết định. Việc xác định các chính sách phát triển phải có có sự tham gia của nhân dân. Quá trình này gồm có nhiều giai đoạn:

1. Xác định mục tiêu của chính sách.

2. Xác định đặc điểm của hệ thống: giới hạn, vấn đề, tác nhân. Thu thập thông tin, trình bày hệ thống. Trước hết cần xác định các tác nhân tham gia vào quá trình phát triển. Phải tạo quyền lực cho các cộng đồng làm việc với Chính phủ và khu vực tư nhân. Phải tạo quyền lực cho các cộng đồng làm việc với Chính phủ và khu vực tư nhân.

Thứ mười, Tổ chức nông dân cần đa dạng để thích ứng với các điều kiện khác nhau về đặc điểm địa phương và trình độ phát triển. Trong nông nghiệp truyền thống các tổ chức nông dân cần cho sự hoạt động của nông nghiệp gia đình, thường là các tổ chức nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa các thành viên trong việc tiếp xúc với các phương tiện sản xuất như đất, nước. Trong bước đầu của sự phát triển muốn chuyển từ tình trạng tự cấp sang sản xuất hàng hoá cần có các tổ chức cung cấp các loại dịch vụ dầu vào cũng như đầu ra cho sản xuất. dịch vụ cho nông dân. Hiện nay chúng ta muốn phát triển hợp tác xã nhưng để tiến lên hợp tác xã là một hình thức cao nhất của sự hợp tác cần có các tổ chức nông dân đơn giản mang tính chất tương trợ để nông dân có thể học tập trong thực tế, phát triển lên các hình thức tổ chức cao hơn. Việc xây dựng tổ chức nông dân là một quá trình lâu dài và phức tạp, không thể từ chỗ chưa có gì bước ngay lên các hình thức tổ chức cao như hợp tác xã.

Các tổ chức nông dân kiểu mới là các tổ chức không phải nhằm giải quyết các quan hệ bên trong nữa mà là tổ chức thêm các mối quan hệ với bên ngoài như việc giúp cho sự tiếp xúc với thị trường và xã hội. Các tổ chức nông dân là các cơ cấu trung gian giữa người sản xuất và các tác nhân khác trong môi trường kinh tế, thể chế và chính trị.

Các tổ chức nông dân thường có các chức năng sau:

1. Đại diện và bảo vệ các quyền lợi của người sản xuất như các nghiệp đoàn.

2. Chức năng kinh tế và kỹ thuật, cung cấp các dịch vụ cho hội viên.

3. Quản lý các nguồn lợi tự nhiên và tài sản, như sử dụng nước, đồng cỏ…

4. Chức năng phát triển xã hội, phát triển địa phương.

Trở thành thành viên chính thức của WTO, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, sự cạnh tranh thị trường nông sản ngày càng gay gắt. trong điều kiện dân số tăng trên 1 triệu người/năm và quỹ đất nông nghiệp bình quân đầu người còn thấp, đất canh tác lúa đang giảm dần theo tốc độ đô thị hoá…Để tiếp tục đưa Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn vào cuộc sống cần chú ý những giải pháp sau:

Thứ mười một, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nông nghiệp, nông thôn. Lao động phải được đào tạo và phải có chuyên môn, biết áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phát rriển nông nghiệp toàn diện, hiện đại, xây dựng nông thôn mới, phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong sản xuất kinh doanh, tổ chức sản xuất trên cơ sở đảm bảo lợi ích và không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân và cộng đồng dân cư ở nông thôn.

Mười hai, Xây dựng hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị. Tiếp tục đầu tư các công trình thuỷ lợi theo hướng đa mục tiêu, phát triển giao thông nông thôn bền vững gắn với mạng lưới giao thông quốc gia. Ưu tiên phát triển giao thông ở các vùng khó khăn. Cải tạo và phát triển hệ thống lưới điện, phát triển bưu chính-viễn thông. Xây dựng hệ thống chợ nông sản phù hợp với từng vùng nhằm thúc đẩy giao lưu kinh tế và phát triển sản xuất.

Mười ba, Thực hiện liên minh công-nông-trí thức, phát triển nhanh việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn. Bản thân nông nghiệp không tự đổi mới cơ sở vật chất-kỹ thuật và công nghệ, không có khả năng tăng trưởng đủ nhanh để tạo thêm nhiều việc làm cho nông dân. Phải có tác động mạnh của công nghiệp, dịch vụ cùng với gắn với tốc độ đô thị hoá ở các miền vùng. Nông nghiệp phải chuyển dịch mạnh mẽ từ công nghệ truyền thống sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghệ sinh học phải ứng dụng có kết quả phục vụ cho lai tạo và nhân giống mới.

Mười bốn, Thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp theo quan điểm của Lênin: muốn thay đổi tập quán thói quen của người tiểu nông cần phải có hàng chục vạn cỗ máy kéo. Những thành tựu về nông nghiệp trong Cải cách ở Trung Quốc cho thấy cơ giới hoá nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế –xã hội. Năm 1950 trung Quốc mới có 400 chiếc máy kéo, đến năm 1978 Trung Quốc đã có 550.nghìn máy kéo lớn và 1,37 triệu máy kéo nhỏ. Đến nay, có gần 600 nghìn máy kéo lớn và 9 triệu máy kéo nhỏ. Mức độ cơ giới hoá khâu làm đất đạt 50-60% diện tích gieo trồng, tưới tiêu nước 70%, vận chuyến 60%. Việc sản xuất bằng máy móc sẽ đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và chuyển đổi cơ cấu giai cấp xã hội theo xu hướng sản xuất lớn.

Mười lăm, Đổi mới cơ chế chính sách để phát huy thật tốt các nguồn lực để phát triển kinh tế nông thôn. Rà soát bổ sung, điều chỉnh và thực hiện tốt chính sách về đất đai, thuế, tín dụng, đầu tư nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. đa dạng hoá các nguồn vốn để phát triển mạnh hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn, ưu tiên nâng cấp và xây dựng hệ thống thuỷ lợi đồng bộ, tiếp tuc đầu tư, phát triển giao thông nông thôn.

Mười sáu, “Công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ trực tiếp của giai cấp nông dân liên minh với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước”[8]. Nông dân Việt Nam có vai trò quan trọng trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, cần xây dựng Hội nông dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, trung tâm nòng cốt của phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới. Hội Nông dân phải thực sự là một tổ chức chính trị xã hội đại diện cho giai cấp nông dân, có vai trò đi đầu trong phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới./.


[1] Đề tài Sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay thực trạng và giải pháp, KX.02.08/06-10, Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Chí Dũng, Hà Nội, 2010, trang 16.

[2] Đề tài Sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay thực trạng và giải pháp, KX.02.08/06-10, Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Chí Dũng, Hà Nội, 2010, trang 16-17.

[4] Đề tài khoa học “Tổng kết cơ chế hoạt động phát triển nông thôn chính đã được áp dụng tại Tây Nguyên và miền núi phía Bắc nhằm đề xuất nhân rộng và thể chế hoá trong phát triển nông thôn” do TS Vũ Trọng Bình chủ nhiệm năm 2007.

[6] PGS.TS. Nguyễn Thị Ngân (Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong công cuộc đổi mới.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hà Nội 1991, tr 12.

[8] Nông Đức Mạnh, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Tư (2003-2008), tr 82.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học, Xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: