Thể chế xã hội trong lĩnh vực dân tộc tại Việt Nam

THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

 

I. DÂN TỘC VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm, đặc điểm, cơ cấu các dân tộc anh em ở nước ta hiện nay

Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến. Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau. Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc. Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện. Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành.

Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Loại hình dân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm  lý dân tộc đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn chung còn kém phát triển và còn ở trạng thái phân tán.

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất[1]:

Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với nghĩa hiểu này, Việt Nam gồm 54 dân tộc hay 54 tộc người.

Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích  chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa thứ hai, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia – dân tộc. Theo nghĩa này, có thể nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa,…

Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc. Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất[2]. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ. Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:

+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.

+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.

+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm…

+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc). Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc.

Cả nước ta hiện có 54 dân tộc anh em. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thửa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta. Do vị trí nước ta giao lưu hết sức thuận lợi nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống, rồi định cư trên lãnh thổ nước ta. Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thậm chí có bộ phận dân cư còn chuyển đến nước ta sau năm 1945. Ðây là những đợt di cư lẻ tẻ, bao gồm một số hộ gia đình đồng tộc.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rất không đều nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái… nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu… Trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước, góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Ở nước ta không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân tộc ít người, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít người chống lại dân tộc đa số. Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, các dân tộc anh em trên đất nước ta tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2. Thực trạng dân tộc tại Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất[3].

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện “Quả bầu mẹ” giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện “Ðôi chim” đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú…; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước. Còn các tài liệu lịch sử cũng cho thấy, người Việt, người Mường là con cháu của người Lạc Việt, là chủ nhân của nền văn hoá Ðông Sơn. Theo nhiều nhà nghiên cứu, việc tách nhóm Việt -Mường thành các dân tộc là một quá trình lâu dài, bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ I, đầu thiên niên kỷ II sau công nguyên. Người Tày, Thái, Nùng là những bộ phận của người Tày, Thái cổ, trong quá trình lịch sử đã tách thành các dân tộc Tày, Thái, Nùng. Người H’mông, Dao xưa kia có cùng nguồn gốc, sau tách thành các dân tộc H’mông, Dao và Pà Thẻn. Cũng có những dân tộc khác nhau về nguồn gốc lịch sử như các dân tộc La Hủ, Lô Lô, Vân Kiều, Sán Dìu…

Thứ hai, Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm tương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi gắn bó với nhau. Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán… thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc nước ta luôn kề vai sát cánh bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

Thứ ba, Nước ta ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thuỷ lợi (mương, phai), đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức. Ngày nay, trước những biến đổi bất lợi về khí hậu, thời tiết có tính toàn cầu, càng đòi hỏi nhân dân các dân tộc nước ta chung lòng hợp sức phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai cũng như khắc phục hậu quả do bão lụt, hạn hán gây ra. Cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên vẫn đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc và thông qua cuộc đấu tranh đó, đại gia đình các dân tộc Việt Nam càng thêm gắn bó chặt chẽ.

Thứ tư, Cùng với lịch sử chinh phục thiên nhiên, nhân dân ta còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Ðất nước ta ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc – Nam, Ðông – Tây của thế giới, có tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý – chính trị có tính chiến lược. Do đó, các thế lực bành trướng và xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính nước ta. Ðặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực thù địch hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược. Ðoàn kết trong lao động và trong chiến đấu là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta.

Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta đã có tầm cao mới và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng nước ta ngày càng được tăng cường.

Tuy vậy, bên cạnh mặt đoàn kết là cơ bản, có nơi, có lúc vẫn xẩy ra những va chạm trong quan hệ dân tộc, còn có những biểu hiện mặc cảm, thành kiến dân tộc. Chính vì thế ở một số nơi, các lực lượng thù địch đã lợi dụng để kích động chia rẽ dân tộc. Do đó việc tăng cường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam.

Thứ năm, Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau.

Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc nước ta sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Ðịa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, một số ít vùng Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và các bản mường. Cách đây chưa lâu (khoảng bốn, năm chục năm), Tây Nguyên nói chung, Ðắc Lắc nói riêng, hầu hết cư dân vẫn là người tại chỗ, mỗi dân tộc đều có khu vực cư trú riêng, ranh giới giữa các tộc người, giữa các bản làng còn rõ ràng thì nay tình hình đã khác xa và xu hướng này còn tiếp tục gia tăng. Hiện nay dân tộc Kinh cư trú ở Ðắc Lắc chiếm tỷ lệ khá lớn. Cùng với người Kinh, các dân tộc ít người miền Bắc gần đây cũng di chuyển vào khu vực này ( kể cả di chuyển theo kế hoạch và không kế hoạch) với số lượng khá lớn. Tới nay, ở miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Ðồng… Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản có tới 3-4 dân tộc cùng sinh sống.

Tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ giữa các dân tộc ở nước ta, một mặt có điều kiện để tăng cường hiểu biết nhau, hoà hợp và xích lại gần nhau; mặt khác cần đề phòng trường hợp do chưa thật hiểu nhau, khác nhau về phong tục tập quán nên xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế, dẫn đến va chạm giữa những người thuộc các dân tộc cùng sống trên một địa bàn. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế – văn hoá giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Do sống gần nhau, việc kết hôn giữa thanh niên nam nữ thuộc các dân tộc khác nhau ngày càng phổ biến, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hoà hợp giữa các dân tộc anh em.

Thứ sáu, Các dân tộc ít người ở nước ta chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái.

Phần lớn các dân tộc ít người ở nước ta cư trú ở miền núi, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Ðây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hoà khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực thù địch bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi – biên giới là thành luỹ vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy, chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích các dân tộc ít người mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ về kinh tế -xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia.

Thứ bảy, Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế – xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao.

Có những dân tộc ít người có đời sống kinh tế – xã hội còn thấp kém. Nhiều dân tộc cư trú trên địa bàn có điều kiện tự nhiên hết sức khó khăn, khắc nghiệt. Ðiều kiện canh tác nương rẫy không ổn định nên đời sống của đồng bào thường bấp bênh. Cuộc sống du canh, du cư thường dẫn tới đói nghèo, bệnh tật.

Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh xâm lược trong nhiều năm. Ðây là những nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ chung.

Thứ tám, Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng.

Cùng với nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc. Bản sắc văn hoá dân tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ mới phải hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Ðồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc.

II. THỰC TRẠNG THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

1. Hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc của Việt Nam và hiệu quả thực hiện

1.1. Chính sách, pháp luật về vấn đề dân tộc tại Việt Nam

Vấn đề dân tộc là một trong những chủ đề xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta từ những buổi đầu dựng nước. Các văn kiện, văn bản của Đảng đã thể hiện được tinh thần quan tâm xây dựng đất nước hài hòa vấn đề dân tộc, trở thành một chiến lược trong sự nghiệp đấu tranh của dân tộc ta. Có thể điểm qua một số văn bản theo các mốc lịch sử như sau[4]:

Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương

Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương

Án nghị quyết của Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ (Ngày 13 – 19/3/1935)

Nghị quyết của Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 28/3/1935

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày (10 – 19/5/1941)

Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương (Từ 3/4 đến 6/4/1947)

Nghị quyết Hội nghị Trung ương mở rộng (Ngày 15, 16, 17/1/1948)

Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 4 (Miền Bắc Đông Dương 1948)

Báo cáo và Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 5 về chính sách dân vận và công tác mặt trận dân tộc thống nhất

Tóm tắt đề cương chính trị của Trung ương trình trước Đại hội lần thứ II của Đảng về cách mạng dân chủ mới Đông Dương

Luận cương cách mạng Việt Nam đệ trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng về hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới CNXH (tháng 2/1951)

Nghị quyết Bộ Chính trị về chính sách dân tộc thiểu số của Đảng hiện nay (Tháng 8/1952)

Báo cáo Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương

Báo cáo về công tác mặt trận tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4

Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng (Nghị quyết của Bộ Chính trị) (5-7/9/1954)

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 mở rộng (Từ 3 đến 12/3/1955)

Chỉ thị về việc phát động quần chúng ở vùng dân tộc thiểu số (Ngày 30/5/1955)

Chỉ thị về việc bước đầu củng cố các tổ chức cơ sở vùng dân tộc thiểu số

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 11 mở rộng

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (Tháng 11/1958)

Chỉ thị số 128-CT/TW về việc đẩy mạnh hơn nữa việc thi hành chủ trương tăng cường công tác vùng cao

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (tháng 4/1959) về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp

Chỉ thị số 156/CT-TƯ về việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi miền Bắc nước ta

Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của trong nhiệm vụ mới (Ngày 10/9/1960)

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (do đồng chí Lê Duẩn trình bày)

Báo cáo về nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (tháng 7/1961) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)

Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề phát triển nông nghiệp ở miền núi

Báo cáo về nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển kinh tế quốc dân (1961-1965)

Nghị quyết của Bộ Chính trị số53-NQ/TW ngày 9/5/1962 về công tác mặt trận dân tộc thống nhất

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 23 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (ngày 15/12/1974) tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng

Chỉ thị số 216-CT/TW ngày 30/1/1975 của Ban Bí thư về chính sách cán bộ miền núi

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới (ngày 29/9/1975)

Thông báo của Văn phòng Trung ương số 13-TB/TW ngày 3/6/1976 một số ý kiến của Ban Bí thư về công tác dân tộc

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1976)

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (do đ/c Lê Duẩn trình bày ngày 14/12/1976)

Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1976-1980

Chỉ thị của Ban Bí thư số 23-CT/TW ngày 15/11/1977 về công tác dân tộc ít người ở các tỉnh miền Nam trong tình hình hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965 (tháng 7/1961)

Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề phát triển nông nghiệp ở miền núi số 71-NQ/TW ngày 23/2/1963

Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế – xã hội miền núi

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc

Văn kiện Đại hội Đảng X

Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 08/5/2009 của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Đặc biệt, tư tưởng quán triệt và thực hiện hiệu quả nội dung “tôn trọng” giữa các dân tộc. Đây là nội dung mới được đưa ra trong Đại hội Đảng lần thứ X. Tôn trọng ở đây chủ yếu là tôn trọng phong tục tập quán của các dân tộc. Thực tiễn cho thấy nhiều cán bộ, đảng viên khi tham gia công tác dân tộc, thực hiện nhiệm vụ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số do không am hiểu phong tục tập quán nên trong hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc, trong tham mưu và lãnh đạo giải quyết vấn đề dân tộc và thực hiện đoàn kết dân tộc đã làm hạn chế đến hiệu quả chính sách và nhiệm vụ được giao. Tôn trọng phong tục tập quán có quan hệ mật thiết tới bình đẳng và đoàn kết dân tộc. Đây là vấn đề chính trị có tính nhạy cảm vì các dân tộc coi việc tôn trọng phong tục tập quán như tôn trọng chính bản thân dân tộc họ; đó cũng là biểu hiện cụ thể của sự coi trọng quyền bình đẳng dân tộc. Những lời nói, việc làm thể hiện sự không tôn trọng phong tục tập quán dân tộc không chỉ hạn chế đến hiệu quả công tác, nhiệm vụ chính trị được giao mà còn có thể gây tổn hại đến tình cảm dân tộc, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc.Mặt khác, tôn trọng phong tục tập quán các dân tộc có lợi cho việc khơi dậy tính tích cực, phát huy nội lực, tiềm năng của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc. Phong tục tập quán dân tộc có nội dung tinh hoa và hủ tục, để phát huy hay loại bỏ thì chính cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc biết rõ hơn ai hết nên cần phải có thái độ đúng và dựa vào cán bộ nhân dân các dân tộc mới thực hiện được. Tôn trọng phong tục tập quán dân tộc còn có lợi cho sự ổn định của đất nước, thực hiện tốt đoàn kết dân tộc và củng cố an ninh quốc phòng. Văn kiện ĐH Đảng X đã chỉ rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế – xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc  phòng.Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”[5] (Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X).

Tiếp theo đó, “Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 08/5/2009 của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam đã đưa ra quan điểm:

Để tổ chức đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc các  dân tộc thiểu số Việt Nam đạt kết quả tốt, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:

Quán triệt sâu rộng về mục đích, ý nghĩa của việc tổ chức đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số các cấp, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy truyền thống yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo khí thế thi đua sôi nổi trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy  mạnh phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói, giảm nghèo, an ninh, thiết thực lập thành tích chào mừng đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và các  sự kiện chính trị, lịch sử lớn của đất nước.

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền tới các tầng lớp nhân dân Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc. Chú trọng tuyên truyền trong nước và tuyền truyền đối ngoại về kết quả thực hiện chính sách dân tộc và đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Ban tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan liên quan có kế hoạch chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương tổ chức tuyên truyền về đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số các cấp.

Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức ở cấp huyện, tỉnh và cấp trung ương. Việc tổ chức đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số các cấp phải trang trọng, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm.

Thời gian đại hội đại biểu ở huyện, tỉnh từ quý III đến quý IV năm 2009; Đại hội đại biểu toàn quốc sẽ tiến hành vào tháng 5 – 2010 (vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương căn cứ tinh thần Chỉ thị này thành lập ban chỉ đạo đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số các cấp. Ban Chỉ đạo Đại hội toàn quốc do một đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban, lãnh đạo Uỷ ban Dân tộc làm Phó trưởng ban thường trực, thành viên gồm các đồng chí lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương có liên quan. Ban chỉ đạo đại hội cấp tỉnh, cấp huyện do đồng chí chủ tịch hoặc phó chủ tịch uỷ ban nhân dân làm trưởng ban, thành viên gồm các đồng chí lãnh đạo các cơ quan liên quan trực thuộc tỉnh, huyện.

Đây là Đại hội nhằm tôn vinh, biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới. Do vậy, các cấp uỷ đảng cần chỉ đạo việc giới thiệu, chọn cử đại biểu tham dự đại hội các cấp bảo đảm thực sự tiêu biểu, xuất sắc, đại diện cho các dân tộc thiểu số, các thành phần, các giới, các thế hệ, lĩnh vực, vùng miền. Việc bình xét khen thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích phải có tác dụng động viên, lôi cuốn phong trào, theo đúng Luật Thi đua – Khen thưởng và các quy định hiện hành.

Giao Ban cán sự đảng Uỷ ban Dân tộc chủ trì xây dựng đề án Đại hội, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện; chủ trì, phối hợp với Ban Dân vận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp triển khai tổ chức Đại hội.

Từ năm 2010 trở đi, định kỳ 10 năm tiến hành tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam một lần.

1.2. Đánh giá 50 năm thực hiện chính sách dân tộc[6]

Việt Nam ta là một nhà nước độc lập, thống nhất gồm nhiều dân tộc anh em chung sống. Đối với các dân tộc thì tình yêu quê hương, yêu dân tộc, yêu đất nước gắn bó chặt chẽ với nhau là cả một quá trình trong sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng cuộc sống mới. Sinh thời, Bác Hồ từng kêu gọi: “Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc. Phải ra sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp”. Ngay từ buổi đầu cách mạng, với đường lối đúng đắn, Đảng cộng sản Việt Nam đã tập hợp được một đội ngũ chiến sĩ kiên cường, những người con ưu tú của các dân tộc anh em tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập Mặt trận Việt Minh, lập nên các khu căn cứ địa, mở đường tiến lên giải phóng hoàn toàn đất nước. Với 116 anh hùng ở 22 dân tộc và 236 bà mẹ anh hùng ở 32 dân tộc thiểu số đã nói lên sự đóng góp to lớn, sự hy sinh cao cả cho sự nghiệp chung của toàn Đảng toàn dân ta. Tính tích cực cao của nhân dân các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp giải phóng đất nước là do Đảng cộng sản Việt Nam với những chính sách đúng đắn của mình đã động viên, phát huy lòng yêu nước và tự hào dân tộc, truyền thống đấu tranh và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc ở nước ta.

Từ sau ngày giải phóng thống nhất đất nước 1975, được sự chăm lo của Đảng và Nhà nước, các dân tộc thiểu số Việt Nam đã có sự phát triển khá đồng đều từ Bắc chí Nam, nhiều vùng, nhiều địa phương đã có những bước đi khá mạnh mẽ, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao rõ rệt. 54 dân tộc trong cộng đồng cả dân tộc Việt Nam hôm nay cư trú ở 53 tỉnh, thành phố đã có những đổi mới cực kỳ sâu sắc. Trước đây phần lớn các dân tộc thiểu số là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn, có chỗ sống rất biệt lập, nặng về tự cấp, tự túc thì nay cuộc sống đan xen (xen canh, xen cư) quan hệ hôn nhân, hợp pháp làm ăn của bà con các dân tộc đang trở thành phổ biến ở trên 40 tỉnh, thành phố.

Ví dụ: như Đăk Lắk ngày trước chỉ có vài dân tộc, nay đã có 36 dân tộc anh em chung sống, Bà Rịa – Vũng Tàu có tới 27 dân tộc. Trước đây người Tày, người H’Mông sống trên núi cao Việt Bắc, nay đã tới sinh sống ở Tây Nguyên, Vũng Tàu. “Dân tộc Việt Nam là một, Tổ quốc Việt Nam là một” chân lý đó ngày nay đang được toàn Đảng, toàn dân chăm lo xây đắp.

Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ với các chương trình có mục tiêu theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, nhất là việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện cho kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi có một sự phát triển mới phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của cả từng nơi. Quá trình đô thị hoá ở miền núi đã và đang khởi sắc, ở đó cư dân các dân tộc ít người đang tăng lên, đời sống dân trí được tăng cao không ngừng.

Song song với sự phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá cũng đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dự bị Đại học dân tộc, các lớp riêng cho con em dân tộc ít người, các trường đại hoạc, trung học chuyên nghiệp ở Việt Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ… đã là nguồn đào tạo cán bộ rất quan trọng cho các vùng dân tộc và miền núi.

Việc phát triển văn hoá giữ gìn bản sắc dân tộc được chú ý cùng với sự phát triển của hệ thống truyền thanh, truyền hình đã đem ánh sáng văn minh, phổ biến tiến bộ kỹ thuật đến các buôn làng xa xôi hẻo lánh, nơi biên giới, hải đảo cũng đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị của cả nước.

Tinh thần tự lực tự cường, sự vươn lên của mỗi dân tộc là hết sức quan trọng, là yếu tố quyết định đối với sự tiến bộ xã hội. Nhiều mô hình làm ăn tốt là do sự cố gắng vươn lên của bà con trong buôn làng, bản mường. Hoà với sự tiến bộ chung, cán bộ dân tộc thiểu số đang được đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng để xây dựng cho được đội ngũ cán bộ của mình để vừa có năng lực vừa gắn bó sâu sắc với tiến bộ xã hội của đồng bào nơi quê hương mình.

Đảng cộng sản Việt Nam đã có chính sách dân tộc, chính sách đó là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Song mới thể chế vào Hiến pháp, chưa được cụ thể hoá bằng pháp luật. Nước ta là một nước có nhiều dân tộc, theo đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Vì vậy trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền cần thiết phải thể chế chính sách dân tộc của Đảng thành Luật pháp của nhà nước. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về công tác xây dựng pháp luật từ nay đến hết nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX, được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phân công, Hội đồng dân tộc đang chủ trì soạn thảo Luật dân tộc để có cơ sở pháp lý, để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc.

Tuy nhiên, mọi cái cũng mới bắt đầu, từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có những cái do lịch sử để lại cộng với các khó khăn khách quan và chủ quan, đa số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chuyển chưa kịp. Do tài nguyên nhiều vùng khai thác đã cạn kiệt, vốn đầu tư lại hạn hẹp, dân số tăng nhanh, cơ sở hạ tầng thấp kém nên đời sống của đồng bào, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ cách mạng khá là bức bách, hàng vạn dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung đã ồ ạt di cư lên Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam gây nên tình trạng phá rừng, tranh chấp đất đai đang là vấn đề sôi động ở một số địa phương.

Để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, trước mắt các cấp, các ngành cần thực hiện tốt Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ, cụ thể là thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu đã được phê duyệt như chương trình 327 về phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ rừng; các chương trình định canh đinh cư, xoá đói giảm nghèo, phòng chống và kiểm soát ma tuý, chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, thực hiện các chính sách trợ giá, xây dựng các trung tâm cụm xã… Làm tốt công tác đầu tư, hợp tác quốc tế trên các vùng dân tộc và miền núi. Đó là những giải pháp đồng bộ với những bước đi thích hợp cho từng vùng, từng dân tộc, thiết thực phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi, 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam được cùng nhau chung sống thân ái như 54 cái cột vững chắc dựng lên ngôi nhà Việt Nam. Tổ quốc thân yêu của tất cả chúng ta ngày một khang trang đẹp đẽ, phấn đấu đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

1.3. Đánh giá thực hiện chính sách xã hội đối với dân tộc thiểu số tại Việt Nam trong thời gian qua[7]

Cùng với những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước, ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có những tiến bộ rất đáng phấn khởi. Tuy nhiên, ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn hiện vẫn gặp nhiều khó khăn không chỉ đối với phát triển kinh tế – xã hội mà cả trong việc thực hiện chính sách xã hội.

Được sự quan tâm của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, cùng với việc tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của các bộ, ngành nên việc thực hiện chính sách xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ.

Những quan điểm, chủ trương lớn của Đảng, nhất là Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc (tháng 2-2003) với nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo tồn văn hóa, giữ vững an ninh chính trị đã được Chính phủ cụ thể hóa bằng nhiều cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt chính sách xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống chính sách phát triển kinh tế – xã hội nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc đã được ban hành khá đầy đủ và toàn diện, bao quát hầu hết các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin… Hệ thống chính sách đó tạo cơ sở pháp lý quan trọng để huy động nguồn lực và tập trung thực hiện có hiệu quả việc phát triển kinh tế – xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhờ có hệ thống các chính sách đồng bộ, kịp thời và việc chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nên diện mạo của vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn đã có những đổi thay rất cơ bản. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng cao từng bước, tình hình chính trị – xã hội được ổn định, an ninh – quốc phòng được giữ vững.

Về thành tựu xóa đói, giảm nghèo: Năm 1997, tỷ lệ hộ đói nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là 60%, sau 7 năm thực hiện Chương trình 135 (1999 – 2005), tỷ lệ này còn trên 47%. Hơn 22 ngàn công trình kết cấu hạ tầng được xây dựng và đưa vào sử dụng, bao gồm: 6.952 công trình giao thông, 4.004 công trình thủy lợi, 5.228 trường học, 2.972 công trình cấp nước sinh hoạt, 1.367 công trình điện, 415 trạm y tế,167 chợ, 825 hạng mục khai hoang. Có thêm 562 xã có đường ô-tô đến trung tâm xã, 81% số xã có công trình thủy lợi nhỏ tăng năng lực phục vụ tưới trên 40.000 ha lúa từ 1 – 2 vụ, 86% số xã có trường tiểu học, 73% số xã có trường trung học cơ sở kiên cố; 96% số xã có trạm y tế bảo đảm phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; 84% số xã có điện; 58% số xã có công trình phục vụ nước sinh hoạt; 60% số xã có trạm bưu điện văn hóa xã; 84% số xã có trạm truyền thanh, 44% số xã có chợ… Hệ thống cơ sở vật chất hoàn thành và đưa vào sử dụng đã góp phần to lớn trong việc thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn. Về cơ bản, không còn hộ đói kinh niên, bình quân lương thực từ 225kg/người (năm 1992) tăng lên 286kg/người (năm 1998) và 320kg/người (năm 2004), có nhiều nơi đã lên 500kg/người. Nhiều vùng từ chỗ phải cứu trợ lương thực hằng năm, đến nay cơ bản đã bảo đảm được an ninh lương thực, góp phần quan trọng vào việc ổn định và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc. Đã có 750 xã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn và đang trên đà phát triển.

Việc thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006 – 2009) với 4 nhiệm vụ triển khai trên địa bàn 1.946 xã đặc biệt khó khăn và 3.149 thôn bản đặc biệt khó khăn của các xã khu vực II thuộc 337 huyện ở 47 tỉnh tiếp tục đạt hiệu quả tích cực. Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đã hỗ trợ trực tiếp cho trên 1 triệu hộ nông dân. Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng đã đầu tư xây dựng 8.237 công trình thiết yếu, trong đó có 5.465 công trình đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng. Triển khai Dự án đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng, các bộ, ngành và Ủy ban Dân tộc hướng dẫn các địa phương tổ chức được 4.112 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho hơn 160.000 lượt cán bộ xã, thôn, ấp, khóm, tập huấn cho 231.000 lượt người dân. Chính sách hỗ trợ các dịch vụ cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý đã hỗ trợ kinh phí cho trên 200.000 cháu của các hộ nghèo học bán trú, tổchức 1.925 hoạt động văn hóa, trợ giúp pháp lý và phổ biến pháp luật cho trên 30.000 lượt người.

Riêng Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, sau 4 năm thực hiện (2004 – 2008) cũng đạt những kết quả thiết thực:

– Về nhà ở, các địa phương đã hoàn thành việc hỗ trợ 373.400 nhà ở, đạt 111% so với mục tiêu đề án. Trong tổng số 53 tỉnh, có 35 tỉnh đạt 100% kế hoạch trở lên, 14 tỉnh đạt trên 80%, 4 tỉnh đạt dưới 80%.

– Về đất ở, các địa phương đã hỗ trợ 1.552 ha cho 71.713 hộ (đạt 82% diện tích và 82% so với đề án được duyệt).

– Về đất sản xuất, có 40 tỉnh triển khai và đã hỗ trợ cho 83.563 hộ (đạt 48%) với 27.762 ha (đạt 45% diện tích theo đề án được duyệt). Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã thực hiện hỗ trợ đất sản xuất, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo theo Quyết định số 74/TTg.

– Về nước sinh hoạt, trên địa bàn 53 tỉnh đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 198.702 hộ (đạt 71% so với mục tiêu đề án). Về các công trình nước tập trung, các địa phương đã xây dựng được 4.663 công trình, đạt 77% so với mục tiêu đề án.

Hiệu quả của chương trình trên đã góp phần quan trọng giảm tỷ lệ hộ nghèo của các xã thuộc diện đầu tư theo Chương trình 135 giai đoạn II từ 47% năm 2005 xuống còn 35,6% năm 2008 (bình quân giảm 3% – 4% năm), nâng tỷ lệ xã làm chủ đầu tư đến năm 2008 lên 55,6% (1.000 xã).

Những con số nêu trên trong công tác xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội ở các địa bàn đặc biệt khó khăn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là những thành tựu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, so với cả nước, tỷ lệ hộ đói nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi vẫn còn cao, đời sống của đồng bào nhiều nơi vẫn còn khó khăn, nguy cơ tái nghèo còn tiềm ẩn, nhất là mỗi khi có thiên tai. Do đó, việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi vẫn là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong thời gian tới.

Cùng với xóa đói, giảm nghèo, chính sách chăm sóc sức khỏe và giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống các loại dịch bệnh nguy hiểm và Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, miễn phí một số dịch vụ khám chữa bệnh, đặc biệt là chương trình quân dân y kết hợp của Bộ Quốc phòng được thực hiện với các hoạt động nhằm hướng tới việc phòng, chống bướu cổ, sốt rét, tiêm chủng mở rộng, xóa xã “trắng” về y tế, bảo đảm kịp thời việc khám chữa bệnh cho đồng bào. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đồng bào đã có nhiều cố gắng và được cải thiện rõ rệt. Hệ thống y tế cơ sở được xây dựng đến tận tuyến xã (96% số xã có trạm y tế), một số nơi đã có mạng lưới y tế thôn, bản. Xét ở mặt bằng chung các chỉ số về y tế, dinh dưỡng năm sau đều cao hơn năm trước. Tại các vùng trọng điểm về sốt rét, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể. Tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc-xin cho trẻ em đạt trên 90%. Về cơ bản, chúng ta đã xóa vùng “trắng” về y tế cơ sở, kiểm soát được 90% các loại dịch bệnh nguy hiểm như bệnh phong, sốt rét, bướu cổ… Thành tựu đó là sự kết tinh công sức, trí tuệ và sức lao động bền bỉ của các cấp, các ngành, các địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta trong những năm gần đây. Kết quả cụ thể và thiết thực ấy đã củng cố và tăng thêm niềm tin yêu của đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa đối với Đảng và Nhà nước ta.

Về chính sách giáo dục nâng cao dân trí cho đồng bào, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, giải quyết bằng nhiều cơ chế, chính sách phù hợp, như chính sách cử tuyển ưu tiên tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng, chính sách đối với trường dân tộc nội trú, chính sách miễn giảm học phí, cấp miễn phí sách giáo khoa, giấy vở, thực hiện chế độ cho giáo viên, hỗ trợ cho học sinh nghèo học bán trú và học sinh mẫu giáo vùng đặc biệt khó khăn, tăng cường cơ sở vật chất trường học; thông qua thực hiện Chương trình 135, Quyết định số 159/2002/QĐ-TTg về kiên cố hóa trường học trong cả nước, trong đó ưu tiên đầu tư đối với các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, các xã nghèo ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung, vùng ngập lũ, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương khác. Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non được thực hiện theo nguyên tắc Nhà nước và nhân dân cùng làm. Trong việc xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị, Nhà nước tập trung đầu tư cho những vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng núi cao, hải đảo. Về chính sách học bổng, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg điều chỉnh mức học bổng chính sách đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú từ 160.000đ/tháng lên 280.000đ/tháng. Học sinh là người dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo được miễn 100% học phí, các khoản đóng góp xây dựng trường và được cấp một lần tối thiểu 120.000 đ/năm để mua sách vở, đồ dùng học tập… Hàng ngàn tỉ đồng được đầu tư cho hỗ trợ giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc và miền núi, xây dựng gần 400 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh, huyện và cụm xã, xóa phòng học tạm, xây dựng mới và cải tạo hàng trăm ngàn phòng học, thu hút trên 90% trẻ em trong độ tuổi đến trường. Thời gian qua, đã có hàng chục ngàn học sinh, sinh viên theo học tại 45 trường đại học, cao đẳng ở Trung ương, 20 trường địa phương, 52 trường và cơ sở đào tạo trung cấp, dạy nghề… Nhờ đó, trình độ học vấn của đồng bào ngày một nâng cao hơn so với trước đây.

Về văn hóa, thông qua nhiều chương trình cụ thể, như đề án đưa thông tin về cơ sở, bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình cho vùng đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo… các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm bảo tồn văn hóa làng, bản, buôn, thôn, xuất bản sách và các ấn phẩm văn hóa bằng tiếng dân tộc, chiếu phim, thông tin lưu động được tăng cường. Nhiều lễ hội các dân tộc Chăm, Khmer, Mông, ngày hội văn hóa các dân tộc Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long đã được tổ chức với nhiều hình thức và nội dung phong phú, số lượng và chất lượng được nâng cao, đã giúp cho đồng bào được thụ hưởng đời sống văn hóa mới, lưu giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Thông qua các hoạt động lễ hội, việc bảo tồn, phát huy văn hóa, các nội dung phổ biến khoa học – kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn, kế hoạch hóa gia đình, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu để vươn lên xóa đói, giảm nghèo đã phát huy tác dụng rất tích cực. Việc cấp hàng chục loại báo thiết yếu không thu tiền theo Quyết định số 975/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đến các xã nghèo đã có tác dụng thiết thực trong việc chuyển tải thông tin đến với đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, giúp đồng bào nắm được chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vận dụng các kinh nghiệm hay, cách làm tốt vào điều kiện thực tế để vươn lên thoát khỏi đói nghèo.

Những kết quả trên đây là minh chứng cho sự đúng đắn của chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, tạo điều kiện để thực hiện tốt quan điểm về bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

1.4. Pháp luật về lĩnh vực dân tộc

Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước. Chính sách này được thể hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được thể hiện trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều 5 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình…”. Công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân như nhau (Điều 52 của Hiến pháp). Các quy định trên của Hiến pháp đã được thể chế và cụ thể hóa trong các văn bản luật khác nhau.

Trên cơ sở hệ thống chính sách và đường lối, Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề dân tộc, đặc biệt là đối với đối tượng dân tộc thiểu số. Có thể kể đến một số văn bản như sau:

– Quyết định số 53/CP ngày 22 tháng 2 năm 1980 của Chủ tịch Hội đồng Chính phủ về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số

– Quyết định số 146/2005/QĐ-TTG ban hành ngày 15/06/2005 về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo.

– Quyết định số 132/2002/QĐ-TTg ngày 08/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên.

– Quyết định số 1491/QĐ-TTg ngày 14/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ngày truyền thống của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.

– Điều 7, Luật Giáo dục năm 2005, quy định về “Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ”.

– Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú,…

– Quyết định của Thủ tướng CP số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007-2010.

Các văn bản trên đây đều nhằm mục tiêu thể chế hóa đường lối của Đảng trong chính sách dân tộc với mục tiêu: nâng cao đoàn kết, gắn bó và phát triển giữa các dân tộc anh em của Việt Nam; tích cực đẩy mạnh sự phát triển cũng như bình đẳng của đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay,… Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn đang tiếp tục xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề dân tộc trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.

2. Mối quan hệ và tác động qua lại giữa pháp luật và các thể chế xã hội khác trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân tộc

Trong vấn đề dân tộc, đặc biệt là các nội dung liên quan đến dân tộc thiểu số, pháp luật có vai trò khá nhạy cảm trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan. Chính sách của Nhà nước về vấn đề dân tộc được thể hiện thông qua nội dung của văn bản pháp luật. Nếu không chú trọng đến tính dân tộc cũng như sự bình đẳng của các dân tộc anh em trong việc để ra các chính sách, các quy định pháp luật điều chỉnh các hoạt động liên quan đến đời sống, sinh hoạt, kinh tế, xã hội của các dân tộc thì dễ dẫn đến các vấn đề về nhân quyền, về vi phạm chủ nghĩa dân tộc. Trên con đường hội nhập, Nhà nước Việt Nam đã có sự quan tâm thích đáng đến vấn đề này, góp phần thể chế hóa chủ nghĩa dân tộc cộng đồng bình bằng tôn trọng lẫn nhau cùng phát triển. Cũng vì vậy mà chúng ta đã có được sự ổn định cần thiết trong nền chính trị trong thời gian qua.

Đối với các loại thể chế xã hội khác trong lĩnh vực dân tộc, pháp luật có tác dụng rất lớn trong việc khuyến khích bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của tôn giáo, phong tục, tập quán, luật lục,… Bên cạnh đó các quy định pháp luật luôn hướng đến việc bảo vệ và tôn trọng các giá trị tôn giáo. Tuy nhiên, pháp luật cũng góp phần định hướng xóa bỏ các hủ tục, luật tục lạc hậu lỗi thời của các đồng bào dân tộc thiểu số, để từ đó góp phần nâng cao cuộc sống của đồng bào các dân tộc hơn nữa.

3. Vị trí, vai trò của các chủ thể trong phát huy vai trò tích cực từng loại thể chế xã hội trong lĩnh vực dân tộc

3.1. Nhà nước

Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc gồm có Ủy ban dân tộc của Quốc hội, Ban Dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân của các địa phương. Về mặt thể chế, Hội đồng Dân tộc do Quốc hội bầu ra theo quy định của Hiến pháp (Điều 94), bên cạnh các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một cơ quan của Quốc hội. Hội đồng có nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị Quốc hội về các vấn đề dân tộc, giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc ít người. Chính phủ có trách nhiệm tham khảo ý kiến Hội đồng Dân tộc trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc. Trong Chính phủ có một cơ quan cấp bộ là Uỷ ban dân tộc, chuyên trách công tác dân tộc.

Trong những năm qua, các cơ quan nói trên đã có những động thái tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động. Các chính sách dân tộc đã được thực hiện khá nghiêm túc, đến nơi đến chốn. Cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số một số khu vực đã được nâng lên đáng kể. Các hoạt động của các cơ quan nhà nước luôn hướng đến việc phát huy tích cực vai trò của phong tục, đạo đức, tôn giáo, tập quán của của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó chính là mục tiêu, là động lực thúc đẩy của quá trình xây dựng thể chế xã hội, phát triển xã hội dựa trên các yếu tố văn hóa dân tộc. Về mặt quan tâm đến các yêu tố xã hội, văn hóa trong quá trình phát triển đã được Nhà nước chú trọng, quan tâm, nhất là đối với các đối tượng dân tộc thiểu số. Chính điều này đã góp phần mang đến sự ổn định của chính trị của Việt Nam trong một thời gian dài vừa qua.

Về mặt giám sát chính sách dân tộc, tại hội thảo “Giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc” do Hội đồng Dân tộc (HĐDT) của Quốc hội phối hợp với Uỷ ban Dân tộc tổ chức tháng 10/2007 thì từ năm 2000 đến nay, HĐDT đã giám sát nhiều chuyên đề quan trọng như: chính sách trợ giá, trợ cước; CT 135; QĐ134; chế độ cử tuyển, đào tạo sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số và tình hình tổ chức, hoạt động của hệ thống trường dân tộc nội trú; công tác di dân tái định cư Thủy điện Sơn La… Tuy nhiên, Hội thảo này cũng chỉ ra những hạn chế còn tồn tại, đó là: năng lực giám sát còn hạn chế; Cơ chế đảm bảo cho hoạt động giám sát của Hội đồng còn thiếu, thẩm quyền, công cụ chưa đồng bộ. Phạm vi giám sát rộng, chủ yếu vùng sâu, vùng xa nên khó khăn cho công tác giám sát, trong khi chưa có chế độ chính sách đặc thù cho hoạt động giám sát của HDDT; chế tài pháp lý xử lý sau khi giám sát chưa rõ, chưa có khung giám sát cũng như bộ chỉ số giám sát CSDT; công tác tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách cho đồng bào dân tộc chưa thực hiện được nhiều…

Có thể thấy một vấn đề rất quan trọng khác, đó là chúng ta đã biết học hỏi các bài học xương máu từ các quốc gia khác trên thế giới trong việc chú ý thỏa đáng đến các vấn đề xã hội, phát triển văn hóa trong quá trình xây dựng kinh tế. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến bất ổn chính trị tại Thái Lan trong những năm vừa qua do việc không quan tâm đến vấn đề này. Trong bất kỳ công cuộc xây dựng nào chúng ta cũng không được phép lãng quên các chính sách xã hội, văn hóa bởi đó là gốc gác, là nền tảng của sự phát triển bền vững lâu dài. Đối với một đất nước đa dân tộc và giàu truyền thống như Việt Nam thì điều đó càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

3.2. Đảng và các tổ chức xã hội

Sự phát triển không đồng đều về kinh tế, đa dạng về văn hoá của các dân tộc còn tồn tại lâu dài. Sau khi nền chuyên chính của chủ nghĩa xã hội được thiết lập, các dân tộc trong một quốc gia được bình đẳng về chính trị và pháp luật, nhưng do những nguyên nhân lịch sử khách quan thì sự phát triển của các dân tộc là không đồng đều. Chủ trương rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là một chủ trương rất đúng đắn, phản ánh tính giai cấp của Nhà nước và chính đảng cầm quyền; song đối với các dân tộc cần thấy được tính khách quan trong khả năng tiếp thu khác nhau đối với các điều kiện phát triển. Thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm qua cho thấy nếu không coi đây là vấn đề dân tộc thì sẽ không thể đưa ra giải pháp và lộ trình phát triển phù hợp với các cộng đồng dân tộc của quốc gia đa dân tộc. Muốn các dân tộc ở trình độ phát triển hạn chế và không đồng đều tiến sát trình độ chung của quốc gia thì cần phải có quá trình phấn đấu lâu dài, một lộ trình và chính sách hợp lý. Đây là đặc điểm của các quốc gia đa dân tộc nói chung và của nước ta hiện nay. Phải coi nội dung, đặc điểm này là cơ sở của các chính sách và căn cứ không thể thiếu khi hoạch định chính sách phát triển của các dân tộc thiểu số ở nước ta.

Trong chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay có một số chính sách dân tộc trong quá trình triển khai thực hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế trong xử lý mối quan hệ tổng thể giữa cơ chế chính sách và biện pháp rút ngắn một cách hiệu quả cho sự phát triển của các dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung của quốc gia. Trong thời kỳ xây dựng phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, tính chất của vấn đề dân tộc khác thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ, đó là tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xoá bỏ khoảng cách chênh lệch trong phát triển và hưởng thụ thành quả về kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc. Đây là nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa rất quan trọng của vấn đề dân tộc thời kỳ phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Muốn thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó trên phương diện lý luận và thực tiễn cần chú trọng phát triển, nâng cao sức sản xuất, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chính là taọ tiền đề cơ sở vật chất vững chắc cho việc giải quyết vấn đề dân tộc, tiến tới thực hiện tốt sự bình đẳng, tiến bộ và phát triển. Suy cho cùng đây là mục tiêu của cách mạng định hướng xã hội chủ nghĩa, là thực hiện cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra trong việc lấy mục tiêu độc lập tự do, mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, phát triển của quốc gia làm mục tiêu lý tưởng của Đảng. Phát triển kinh tế-xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với các dân tộc thiểu số chính là một trong những nội dung đích thực và hiệu quả nhất góp phần quan trọng trong giải quyết vấn đề dân tộc hiện nay ở nước ta. Bên cạnh đó cần cụ thể hoá và tiếp tục thực hiện có hiệu quả phương châm mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta…Các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Sự nhận thức về vấn đề dân tộc và năng lực hoạch định, xây dựng chính sách dân tộc những năm qua còn bộc lộ nhiều non yếu khi cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc. Giải quyết vấn đề dân tộc theo phương châm trên liên quan đến nhiều ngành chức năng, chính quyền các cấp và toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò của cơ quan chủ quản, chức năng là hết sức quan trọng trong việc thu hút chất xám, nhân tài vật lực, các nhà khoa học, quản lý, doanh nghiệp với sự tham gia của người dân…để biến thành sức mạnh vật chất thực hiện hiệu quả định hướng đúng đắn mà Đại hội Đảng đã đề ra.

Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội như Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã và đang thể hiện vai trò tích cực, sâu rộng của mình trong các vấn đề về dân tộc. Tuy nhiên, đôi khi hoạt động của những tổ chức này chỉ mang tính hình thức, hô hào mà chưa thực sự chất lượng, đi sâu, đi sát vào thực tế,…

III. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI LĨNH VỰC DÂN TỘC

Việc giải quyết vấn đề dân tộc và thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc đã và đang đặt ra cho Đảng ta những trọng trách lịch sử trước nhu cầu phát triển của đất nước, của cộng đồng các dân tộc, các tầng lớp xã hội trong bối cảnh của thời đại văn minh hậu công nghiệp. Thực tiễn đó đòi hỏi chính đảng cầm quyền phải có thái độ khách quan khoa học để nhìn nhận sự vận động và biến đổi của sự vật để xây dựng quan điểm và chương trình hành động phù hợp, đáp ứng sự phát triển của quốc gia và các thành phần tộc người, các giai cấp và tầng lớp xã hội luôn tin theo và đồng hành với Đảng Cộng sản trên con đường phát triển đất nước. Thực tiễn sinh động đó đồng thời cũng đặt ra cho Đảng ta những vấn đề cần tổng kết thực tiễn, phân tích bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, yếu tố thời đại để vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách hiệu quả đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của cộng đồng các dân tộc và của đất nước trong tình hình mới.

“Có thể khẳng định rằng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là người đem đến cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam quyền bình đẳng như ngày nay. Các dân tộc trong cộng đồng đại gia đình các dân tộc Việt Nam từ chỗ bị áp bức, bóc lột dưới sự đô hộ của thực dân đế quốc đã trở thành những thành viên làm chủ đất nước Việt Nam độc lập thống nhất. Khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào. Đồng bào các dân tộc đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Bác Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam, mãi mãi theo lời dạy của Bác Hồ là “dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”…. ” Đồng bào Kinh hay Tày, Mường hay Dao, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”, không kẻ thù nào có thể chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết mà Bác Hồ và Đảng ta đã xây dựng nên.

Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam”. Các dân tộc thực hiện quyền làm chủ của mình bằng hai hình thức, trực tiếp và đại diện. Dân chủ đại diện qua hệ thống cơ quan dân cử cho thấy: Đại biểu Quốc hội khóa X là người dân tộc thiểu số chiếm 17,3%, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh chiếm 18,2%, huyện chiếm 18,7%, xã chiếm 22,7% so với tổng số đại biểu dân cử cấp đó. Điều đó đã thể hiện được sự bình đẳng giữa các dân tộc trong việc tham gia quản lý Nhà nước.

Những thành tựu về phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng trong nhiệm kỳ qua của Đảng đã đạt được ba mục tiêu chủ yếu là: Xóa được đói, giảm được nghèo xuống dưới mức 30% số hộ, ổn định và cải thiện đời sống một cách rõ rệt, nhiều dịch bệnh như sốt rét, bướu cổ đã giảm xuống mức đáng kể, sức khỏe được chăm sóc tốt hơn, phổ cập giáo dục tiểu học, xóa được mù chữ, nâng cao dân trí; bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được giữ gìn và phát huy tốt hơn; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc, ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh; quốc phòng và an ninh được đảm bảo về khoảng cách giữa các vùng và các dân tộc được thu hẹp. Tuy nhiên, so với đồng bằng và vùng đã phát triển tương đối thì miền núi và vùng dân tộc thiểu số còn là vùng khó khăn nhất, hãy còn nhiều kẽ hở để bọn phản động dễ lợi dụng, khoảng cách còn khá xa, tỷ lệ đói nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao; đã xuất hiện những hiện tượng chệch hướng, nếu trong thời gian tới không có những giải pháp hữu hiệu có thể khoảng cách đó còn xa hơn nữa sẽ không có lợi cho sự ổn định phát triển bền vững của đất nước. Để làm được điều này, trong việc xây dựng thể chế, chúng ta cần chú trọng đến những vấn đề sau:

1- Phát triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc thiểu số phải tăng trưởng với tốc độ cao hơn mức bình quân chung của cả nước mới có thể từng bước thu hẹp khoảng cách giữa các dân tộc và các vùng, quan tâm đến từng vùng và từng dân tộc, tiến tới sự bình đẳng thực sự trên bình diện kinh tế-chính trị, xã hội…

2- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Văn hóa dân tộc có được bảo tồn và phát huy thì dân tộc mới phát triển. Giữ gìn và làm giầu tiếng nói của mỗi dân tộc là cốt lõi của văn hóa, phát triển văn học nghệ thuật của các dân tộc… đóng góp vào nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

3- Muốn thực hiện có hiệu quả hai điểm trên:

– Cần phải có quy hoạch bồi dưỡng, đào tạo, hình thành đội ngũ cán bộ ở vùng dân tộc thiểu số, sao cho đội ngũ này có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, có số lượng tỷ lệ thuận với dân số của các dân tộc.

– Phải phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc thiểu số để nhân dân biết, giám sát chặt chẽ việc thực hiện các chủ trương chính sách đó thì chắc chắn sẽ phát huy được hiệu quả đầu tư của các chương trình dự án.

– Phát huy tinh thần tự lực, tự cường của các dân tộc, củng cố tăng cường đoàn kết các dân tộc xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam, thi đua giúp đỡ nhau cùng phát triển, chống tư tưởng ỷ lại, nơi nào, bộ phận nào, dân tộc nào trong cộng đồng mà ỷ lại thì sẽ tụt hậu vì không thể sử dụng có hiệu quả sự đầu tưu hỗ trợ của Nhà nước và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. “thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển”, là sức mạnh để đảm bảo sự phát triển bền vững, đạt tới mục tiêu chung là : Độc lập, dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Để thực hiện tốt hơn nữa chính sách xã hội ở vùng dân tộc thiểu số trong thời gian tới, cần chú ý một số vấn đề sau:

– Duy trì và phát huy những thành tích đã đạt được thông qua tổng kết thực tiễn từ Trung ương đến cơ sở. Từ đó phát huy ưu điểm, kịp thời biểu dương, nhân rộng những điển hình tiên tiến trong cả nước để các chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện sâu rộng, có sức bền và phát triển hơn nữa.

– Các bộ, ngành có liên quan cần phối hợp kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án cũng như việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực quản lý của mình, bảo đảm đạt kết quả tốt hơn, tránh lãng phí, tiêu cực. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, phát huy tốt hơn nữa vai trò của quần chúng nhân dân trong việc giám sát thực hiện chính sách dân tộc và phát huy tính tự lực, tự cường trong cộng đồng, từng hộ gia đình đồng bào các dân tộc.

– Tận dụng tốt hơn nữa các nguồn lực, khai thác hợp lý sự đóng góp từ nhân dân cũng như các nhà tài trợ của các tổ chức quốc tế vào việc phát triển kinh tế – xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

– Phát huy vai trò Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong việc đề ra và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở vùng dân tộc thiểu sô, miền núi. Các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện tốt hơn nữa việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số để nâng cao nhận thức và đồng tâm thực hiện có hiệu quả cao.

– Làm tốt hơn công tác tuyên truyền, cổ động phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của đồng bào các dân tộc trong việc kết hợp giữa nội lực của đồng bào với sự đầu tư của Đảng, Nhà nước, sự giúp đỡ, hỗ trợ của các bộ, ngành, địa phương, các cá nhân, tập thể, các tổ chức quốc tế nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trên con đường xây dựng quê hương phát triển bền vững về kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Nâng cao năng lực giám sát chính sách dân tộc của Hội đồng dân tộc

Từ những hạn chế, tồn tại nêu trên, các đại biểu cũng đã tham gia nhiều ý kiến, trong đó tập trung vào một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giám sát. Như cần tăng cường số lượng và chất lượng thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách ở HĐDT từ khoảng 15% như hiện nay, lên khoảng trên 40-50% tổng số thành viên; đề cao vai trò, trách nhiệm của thành viên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm; thành lập và tăng cường hoạt động của các tiểu ban, chuẩn bị trước ý kiến về các dự án luật, pháp lệnh, báo cáo và CSDT để tư vấn cho HĐDT khi thẩm tra, giám sát; tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Luật hoạt động giám sát, đồng thời nghiên cứu điều chỉnh những nội dung không hợp lý; bổ sung chế tài xử lý sau giám sát cụ thể hơn; xây dựng quy trình giám sát phù hợp với đặc thù chính sách dân tộc; ban hành chế độ chính sách riêng phục vụ cho giám sát CSDT. Xây dựng khung giám sát và các chỉ số cần đạt được để làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát và đánh giá chính sách dân tộc. Đổi mới phương thức giám sát như: đi hiện trường, có sự minh họa bằng hình ảnh, kết hợp với các cơ quan thông tin đại chúng để cung cấp kịp thời đầy đủ thông tin cho các bên có liên quan và ngườì dân; Cung cấp đầy đủ thông tin về CSDT, chương trình, dự án để thành viên Đoàn giám sát hiểu và nắm được bản chất, đặc điểm của CSDT; nâng cao năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ, chuyên viên Vụ Dân tộc, cơ quan trực tiếp tham mưu giúp việc cho HĐDT, nhằm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Kết luận tại Hội thảo, ông Giàng A Chu, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc cho rằng, qua hoạt động giám sát, Hội đồng Dân tộc mong muốn đưa ra được những nhận định chính xác về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị trong quá trình thực hiện chính sách, quản lý và sử dụng nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội miền núi, chấp hành pháp luật về tài chính, về phát triển kinh tế – xã hội miền núi. Do đó, các đại biểu dân cử nói chung và đại biểu Quốc hội là thành viên của HĐDT nói riêng phải từng bước nâng cao vai trò, trình độ và năng lực hoạt động giám sát, làm tròn trách nhiệm của mình trước đồng bào các dân tộc; xứng đáng là người đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của đồng bào các dân tộc./.


[2] Trong bài viết này tìm hiểu khái niệm dân tộc theo nghĩa thứ nhất này để tìm hiểu vấn đề dân tộc tại Việt Nam.

[7] Thực hiện một số chính sách xã hội ở vùng dân tộc thiểu số trong hội nhập và phát triển , http://www.tuyengiao.vn cập nhật ngày 21/12/2009.

Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp, Đề tài, công trình nghiên cứu các cấp

One Comment on “Thể chế xã hội trong lĩnh vực dân tộc tại Việt Nam”


  1. I used to be recommended this blog via my cousin. I’m now not sure whether this submit is written via him as no one else understand such distinctive about my difficulty. You’re wonderful!
    Thank you!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: