THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH, SỬ DỤNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THỂ CHẾ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI, QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI – ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN


Trương Hồng Quang*

 

1. Khái quát về cộng đồng dân cư và thể chế xã hội

1.1. Khái niệm cộng đồng dân cư và đặc điểm

Một cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. Trong cộng đồng người đó có những kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng dân cư là một dạng của cộng đồng. Hiểu một cách đơn giản nhất, cộng đồng dân như là nhiều người, nhiều nhà, gia đình, cá thể, nhóm cùng sống trong một khoảng không gian hoặc là những người cùng sinh sống trong một khu vực lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính họ gắn bó, liên kết cùng nhau thực hiện lợi ích, nghĩa vụ,Khái niệm cộng đồng dân cư xuất hiện đồng thời với sự ra đời của một quốc gia, dân tộc, hay nói xa xưa hơn là của cả lịch sử loài người. Cộng đồng dân cư có thể tồn tại dưới các hình thức sau đây:

– Các cộng đồng theo khu vực địa lý: ví dụ như cộng đồng dân cư Bắc, Trung, Nam.

– Các cộng đồng dân cư theo vùng miền đặc thù: đô thị, nông thôn, dân tộc, miền núi,…

– Cộng đồng dân cư ở khu vực giao thoa: giao nhau giữa hai khu vực, vùng, miền,…

Đặc điểm của cộng đồng dân cư thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, cộng đồng dân cư mang tính chất đặc trưng cho một cộng đồng người, qua đó thực hiện các nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi của công dân, dân tộc.

Thứ hai, nói đến cộng đồng dân cư là nói đến một tập thể gắn kết cao, mang tính chất xã hội nhiều hơn so với các loại cộng đồng khác.

Thứ ba, về mặt kinh tế, cộng đồng dân cư là một tập hợp của nhiều thành phần kinh tế.

1.2. Khái niệm thể chế xã hội và đặc điểm

Kinh tế học thể chế mới không chỉ khảo sát trạng thái cân bằng mà tìm hiểu xem các thể chế nào tác động thuận lợi tới ổn định kinh tế và tăng trưởng kinh tế. Trong khi mở rộng kiến thức khoa học, đổi mới công nghệ tạo ra những cơ hội mới, song vấn đề là làm sao thực hiện những cơ hội đó với chi phí giao dịch thấp nhất trong một thế giới bất định và với nhận thức không hoàn hảo. Chính vì vậy mà kinh tế học thể chế mới nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thể chế chính thức, thể chế phi chính thức.

Thể chế chính thức bao gồm hiến pháp, luật pháp, điều lệ và các quy định của chính phủ. Những quy định này chế định hệ thống chính trị (quan hệ giữa quyền hạn của chính phủ và quyền tự do của người dân), hệ thống kinh tế (luật sở hữu và hợp đồng) cũng như hệ thống cưỡng chế (tư pháp, cảnh sát). Chính phủ áp đặt việc thực hiện các quy định pháp luật bằng cách sử dụng các chế tài, phạt, bỏ tù,… để tác động tới hành vi của con người. Nếu thể chế chính thức mạnh, có hiệu lực thì không gian, phạm vi, tác động và ảnh hưởng của thể chế phi hình thức sẽ có giới hạn, ngược lại ở đâu, lúc nào thể chế chính thức yếu hay kém hiệu lực thì thể chế phi chính thức tác động mạnh hơn. Ví dụ dễ thấy nhất là nếu tín dụng ngân hàng không đến được người dân thì tín dụng phi chính thức, các hợp đồng phi chính thức sẽ nảy nở để đáp ứng nhu cầu của người dân và cuộc sống.

Thể chế phi chính thức bao gồm truyền thống, tập tục, tín ngưỡng tôn giáo và tất cả những chuẩn mực hành vi khác đã vượt qua thử thách của thời gian. Các thể chế phi chính thức cũng được coi là đặc trưng cũ xưa, bàn tay của quá khứ hay người vận chuyển của lích sử (pejovich). Thể chế phi chính thức là hiện thân của thế giới quan chủ lưu của cộng đồng, là tri thức tích tụ từ quá khứ và là tập hợp của các giá trị của cộng đồng. Như vậy, thể chế phi chính thức là di sản của cộng đồng và là một bộ phận của văn hóa. Các thể chế phi chính thức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua bắt chước, truyền miệng hay dạy bảo trong gia đình và học đường.

Thể chế phi chính thức được thực hiện thông qua các quy định phi chính thức như tập tục hay bằng chế tài, thí dụ như việc trục xuất một cá nhân nào đó ra khỏi cộng đồng. tẩy chay bởi bè bạn hay láng giềng hoặc sự mất đi uy tín và mang tiếng trong xã hội. Trong một số trường hợp (trong quá khứ và cho đến nay), người tộc trưởng hay giáo chủ có thể áp dụng những hình phạt nặng nề (ngoài quy định của pháp luật), tùy theo tôn giáo hay bộ tộc.

Đã có không ít công trình nghiên cứu chứng minh những tác động tiêu cực của một số thể chế phi chính thức như hạn chế quyền tự do, tác động tiêu cực đến bình đẳng của phụ nữ,… Vì vậy, việc thay đổi thể chế phi chính thức mộc cách thích hợp cũng là yêu cầu đặt ra đối với không ít nền kinh tế.

Tương tác giữa thể chế chính thức và phi chính thức: Vấn đề đầu tiên được xem xét là các thể chế chính thức có thể ức chế, hạn chế nhưng không thể thay đổi hoàn toàn các thể chế phi chính thức. Mc.Adams cho rằng quy định chính thức có thể thay đổi thể chế phi chính thức và đưa ra ví dụ về luật cấm hút thuốc lá nơi công cộng, cấm đấu súng hay đấu gươm để phục hồi danh dự (duel) và cấm phân biệt chủng tộc. Tác giả khác lại lập luận rằng xã hội đã dần dần chấp nhận những giới hạn trên nên chẳng qua các luật đó chỉ thể chế hóa những thay đổi đã diễn ra trong xã hội mà thôi. Sự bất lực của luật chống hút thuốc lá nơi công cộng ở Việt Nam cho đến nay cho thấy giới hạn rõ ràng của thể chế chính thức trước sức mạnh thói quen của đám đông mà nhà nước tỏ ra bất lực trong việc áp đặt luật pháp tức quy định thể chế của mình. Trường hợp tương tự là sự bất lực của Luật cấm hoàn toàn uống rượu dưới thời Liên Xô trước đây. Người ta có thể kể ra nhiều ví dụ khác như luật chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ có hiệu lực khác hẳn so với luật chống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi… Việc những cộng đồng người Việt, người Hoa, người Mehico sống trong những khu phố riêng biệt duy trì phong tục tập quán của mình trong sinh hoạt gia đình đến cưới hỏi… là những ví dụ khác về sức sống của các thể chế phi chính thức nếu như những thể chế đó không quá phi lý đối với cộng đồng và không trực tiếp thách thức luật pháp của nước chủ nhà. Cộng đồng Do Thái sống trên khắp thế giới qua nhiều thế kỷ chứng minh sức sống mạnh mẽ của thể chế phi chính thức mặc đầu đã trải qua cuộc tàn sát đẫm máu của chủ nghĩa phát xit Hitler.

Luật pháp của các nước cũng có thái độ khác nhau. Nước Đức cho phép học sinh gốc Thổ Nhỹ Kỳ theo đạo Hồi được tiếp tục chùm khăn khi đến trường học công và cho phép mở trường riêng trong khi nước Pháp mới đây đã cấm không được chùm khăn khí đến trường học công ở Pháp.

Trường hợp thứ hai là dung quy chế chính thức (luật pháp) nhằm hạn chế hoặc cấm đoán thể chế phi chính thức, tức là chủ động tạo ra một cuộc đối đầu giữa hai loại hình quy chế. Các ví dụ đều cho thấy những quy chế chính thức rất khó có thể triệt tiêu hoàn toàn quy chế phi chính thức, trừ trường hợp tiêu diệt toàn bộ tộc người đó. Các ví dụ về người Mãn Thanh ở Bắc Trung Quốc và người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương cho thấy người Mãn Thanh bị đồng hóa hoàn toàn, cho đến nay chỉ tồn tại không đến 1000 người duy trì những phong tục thuần túy của người Thanh trong khi người Duy Ngô Nhĩ chống cự lại quyết liệt mọi biện pháp tiêu diệt nền văn hóa, ngôn ngữ và tín ngưỡng của họ, không chỉ trong nước mà trên quy mô quốc tế. Điều này cho thấy nhà nước cần rất thận trọng trong tinh toán cái được và cái mất trong khi áp đặt những biện pháp nhằm thủ tiêu một nền văn hóa khác hay đồng hóa hoàn toàn một tộc người.

Chế độ thực dân Anh trước đây chỉ duy trì những luật pháp thật cần thiết cho sự thống trị của họ trong khi tôn trọng và chấp nhận các luật tục, quy định của các bộ lạc ở Châu Phi hay lãnh chúa ở Ấn Độ là một ví dụ cho việc tránh đối đầu giữa thể chế chính thức của người Anh và thể chế phi chính thức của người bản xứ.

Trường hợp thứ ba khá phổ biến là người dân tìm cách bỏ qua thể chế chính thức và chấp nhận thể chế phi chính thức nếu chi phí giao dịch về tiền bạc và thời gian thấp hơn. Ngay cả ở nước Mỹ là nước có nhiều luật sư trên đầu người dân nhất thế giới thì người ta cũng đã phát hiện ra là số vụ tranh chấp được giải quyết giữa các người buôn bán nhỏ mà không nhờ luật sư viện dẫn luật hợp đồng là khá cao, chỉ vì chi phí thuê luật sư là quá cao so với quy mô vụ tranh chấp. Tương tự như vậy, những người nuôi bò ở quận Sasha, California, đã hình thành những quy tắc phi chính thức để xử lý những vụ việc như bò của người này xâm lấn bãi có của người khác hay vượt qua hàng rào thưa thớt chỉ có giá trị pháp lý về tài sản nhưng không thể ngăn cản đàn bò qua lại chỉ vì những vụ việc như vậy sảy ra thường xuyên và lợi ích tranh chấp quá ít so với chi phí phải bỏ ra để thuê luật sư giải quyết.

Tất cả những điều này làm người ta liên tưởng đến những hình phạt quá nặng và mất thời gian như giam xe, thu bằng lái khi vi phạm luật giao thông ở Việt Nam, nhất là ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và cách ứng xử của người vi phạm là hối lộ cảnh sát giao thông để nhanh chóng tiếp tục công việc mặc dầu số tiền hối lộ khá cao và tăng lên nhanh chóng. Điều này tuy chưa phải là một “thể chế phi chính thức” nhưng là cách ứng xử lách luật mà các nhà nghiên cứu nên tìm một giải pháp thích hợp hơn là tăng thêm tiền người dân phải hối lộ cho cảnh sát giao thông trong khi lợi ích về cải thiện tình hình tuân thủ luật giao thông còn thiếu tính thuyết phục. Kinh nghiệm khoán chui và “xé rào” trong giai đoạn cải cách trước công cuộc đổi mới được chính thức chấp nhận là một ví dụ hùng hồn của sức sống của những thể chế phi chính thức nếu nó đem lại lợi ích cao hơn và chi phí giao dịch thấp hơn.

2. Vai trò của cộng đồng dân cư trong việc hình thành, sử dụng các thể chế xã hội

Thứ nhất, đối với chính sách, pháp luật – thể chế xã hội chính thức. Có thể nhận thấy chính sách và pháp luật nói chung là những loại thể chế xã hội chính thức và quan trọng nhất trong các loại thể chế xã hội có liên quan. Con đường hình thành các loại thể chế chính thức này thường thông qua một con đường nhất định, đó là: thông qua các cơ quan lập pháp, xây dựng chính sách và pháp luật. Mỗi loại văn bản đều tuân theo những quy trình xây dựng cụ thể và chặt chẽ với những hình thức nhất định. Từ giai đoạn dự thảo, lấy ý kiến, đến thẩm định, đánh giá tác động rồi đi vào thực tiễn thi hành là cả một quá trình dài. Với quy trình xây dựng này, việc xây dựng pháp luật tập trung vào tay một số cá nhân nhất định. Tuy nhiên, cộng đồng dân cư – một bộ phận đóng đại đa số thành phần trong xã hội cũng có thể tham gia vào quá trình hình thành các thể chế xã hội chính thức này thông qua các biểu hiện như sau:

– Việc xây dựng, pháp luật đôi lúc cũng xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng dân cư. Qua các cuộc điều tra, khảo sát cũng như phản ánh của cộng đồng dân cư, các cơ quan lập pháp sẽ biết được nhu cầu trong thực tế của nhân dân như thế nào và có kế hoạch đáp ứng nhu cầu đó.

– Sau khi chính sách, pháp luật đi vào thực tế, chính cộng đồng dân cư sẽ là những người đánh giá những quy định đó thông qua việc áp dụng cho từng đối tượng cụ thể. Qua đó, các cơ quan có thể nhận biết được những vấn đề nào cần được sửa đổi, hoàn thiện, bổ sung.

– Cộng đồng dân cư có vai trò quan trọng trong việc tác động lớn đến việc hình thành pháp luật thông qua các góp ý, phản biện xã hội của các tầng lớp nhân dân.

– Bản thân các sự kiện xảy ra trong thực tế, nổi cộm cũng đã đặt ra các yêu cầu cấp thiết hoàn thiện pháp luật, ví dụ như vụ việc Vedan dẫn đến yêu cầu hoàn thiện pháp luật dân sự, tố tụng hành chính. Tuy hiện nay công ty Vedan đã đồng ý bồi thường cho các tỉnh bị thiệt hại nhưng việc phân chia tiền bồi thường cho từng hộ dân cư còn chưa thể thống nhất được giữa các bên có liên quan. Vấn đề bồi thường thiệt hại cho cộng đồng đang ngày càng diễn biến phức tạp ở Việt Nam.

– Cộng đồng dân cư là đối tượng chủ yếu và quan trọng sử dụng các chính sách, pháp luật. Nếu như không có cộng đồng dân cư thì cũng không thể hình thành nên pháp luật cũng như pháp luật không thể đi được vào cuộc sống xã hội. Có thể nhận thấy, pháp luật đóng vai trò quan trọng đối với việc điều chỉnh hành vi của con người trong cộng đồng. Ngược lại, cộng đồng dân cư đã đưa pháp luật vào cuộc sống cũng như hình thành nên những thay đổi cho pháp luật.

Thứ hai, đối với các loại thể chế phi chính thức (đạo đức, tôn giáo, luật tục, tập quán,…) Có thể thấy, các thể chế phi chính thức rất phong phú, nổi bật, nhất là ở những quốc gia đa dân tộc, có lịch sử phát triển lâu đời như Việt Nam. Từ đời này qua đời khác, các thể chế xã hội này đã hình thành, tồn tại và phát triển rất sâu rộng và bền vững. Cộng đồng dân cư đóng vai trò rất quan trọng và chủ chốt đối với các loại thể chế xã hội phi chính thức này:

– Chính bản thân người dân của cộng đồng dân cư đã hình thành nên các thể chế xã hội phi chính thức. Các loại thể chế như tập quán, tập tục, tư tưởng tôn giáo, quy tắc đạo đức,… được dân cư hình thành và phát triển, xuất phát từ các vùng lãnh thổ, dân cư nhất định.

– Các thể chế xã hội phi chính thức có thể mang tính đặc thù, điển hình, đại diện cho một cộng đồng người nhất định (ví dụ như luật tục, tập tục,.. của một dân tộc, một địa phương cụ thể) nhưng cũng có thể mang đặc điểm của cả một quốc gia (ví như các tôn giáo khác nhau trên cùng quốc gia, các quy tắc đạo đức nói chung của truyền thống dân tộc,…).

– Bản thân cộng đồng dân cư là nơi gìn giữ, hoàn thiện, lưu truyền và phát triển các thể chế xã hội phi chính thức. Các thể chế này phải được tồn tại trong chính cộng đồng dân cư, tồn tại cùng sự phát triển của cộng đồng dân cư. Đối với một số loại thể chế, sự tồn tại hay diệt vong của một cộng đồng có thể là sự tồn tại hay diệt vong của chính bản thân các thể chế đó. Đôi khi các thể chế này có vai trò quan trọng hơn so với các thể chế chính thức đối với tư tưởng của cộng đồng dân cư.

Thứ ba, đối với mối quan hệ giữa pháp luật và các thể chế cộng đồng. Pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với việc điều chỉnh đến các thể chế cộng đồng. Đôi khi một số quy tắc đạo đức nhất định được nâng lên thành các quy phạm pháp luật. Càng ngày càng có nhiều văn bản pháp luật thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến sự phát triển cũng như tồn tại của các thể chế cộng đồng phi chính thức. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng trong một số trường hợp pháp luật lại không được sử dụng nhiều hơn so với các thể chế phi chính thức do đặc tính vùng miền và các hủ tục còn tồn tại lâu đời. Một số vấn đề nhức nhối liên quan đến các tập tục cổ hủ đã đặt ra vấn đề pháp luật phải có những thay đổi hợp lý để điều chỉnh và góp phần mang đến sự ổn định cho cộng đồng dân cư, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa,…

3. Tác động của các thể chế xã hội đối với phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội

Thể chế xã hội có thể được xem là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Sự phát triển xã hội và các thể chế xã hội luôn có quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc lẫn nhau[1]. Các thể chế xã hội không chỉ tạo dựng môi trường xã hội thuận lợi cho sự phát triển xã hội mà còn là những chuẩn mực và giá trị xã hội mà mỗi tổ chức, cá nhân trong xã hội phải phấn đấu vươn tới. Chỉ các thể chế xã hội với những thuộc tính của mình mới có khả năng đảm bảo cho nhà nước và các chủ thể khác thực hiện được chức năng quản lý của mình trong lĩnh vực xã hội một cách hiệu quả. Thông qua thể chế xã hội các chủ thể có trách nhiệm quản lý phát triển xã hội hoạch định các chính sách xã hội, thực hiện sự tác động lên các quan hệ xã hội để chúng phát triển theo những mục đích, yêu cầu mong muốn. Còn các tổ chức, cộng đồng và cá nhân trên cơ sở nhận thức các yêu cầu, đòi hỏi của các quy định pháp luật và các thể chế xã hội khác thực hiện các hành vi xã hội sao cho phù hợp với các quy định đó.

Do có tính chất, đặc điểm, phạm vi tác động, chất lượng và những biện pháp bảo đảm thực hiện khác nhau nên phạm vi tác động và mức độ ảnh hưởng của mỗi loại thể chế xã hội đối với sự phát triển xã hội là khác nhau. Thông thường ảnh hưởng mạnh hơn cả là pháp luật bởi như trên đã khẳng định pháp luật có những đặc điểm mà các thể chế xã hội khác không có được như gắn liền với nhà nước, được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước…

Thể chế xã hội với tư cách là hệ thống các quy phạm ràng buộc con người luôn xuất hiện do nhu cầu quản lý con người, các cộng đồng của con người liên quan đến phát triển xã hội. Khi trong xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội thì mỗi thiết chế xã hội phải tìm ra những phương thức để kiểm soát và giải quyết chúng bằng việc xây dựng, hoàn thiện các thể chế xã hội và tổ chức thực hiện chúng sao cho có hiệu quả. Nói cách khác, bằng quyền lực của mình các thiết chế xã hội trên cơ sở nhận thức, phân tích, dự báo về các vấn đề xã hội đang hoặc sẽ nảy sinh để đưa ra những chính sách xã hội, những quy định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các vấn đề xã hội nhằm làm cho xã hội phát triển đúng định hướng, mục đích đã đề ra.

Xã hội vận động và biến đổi không ngừng nên các vấn đề xã hội cũng luôn biến đổi không ngừng. Trong quá trình đó có những vấn đề xã hội được giải quyết, song cũng có những vấn đề xã hội mới phát sinh, có những vấn đề xã hội trở nên bức xúc, gay gắt hơn và ngược lại. Những biến đổi đó của đời sống xã hội đòi hỏi các thiết chế xã hội phải có những thay đổi trong chính sách xã hội của mình, trên cơ sở đó xây dựng và hoàn thiện nội dung các thể chế xã hội, cách thức điều chỉnh cho phù hợp, đáp ứng nhu cầu quản lý sự phát triển xã hội trong tình hình mới. Chẳng hạn, khi ở Việt Nam có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang xây dựng nền kinh tế thị trường thì trong xã hội đã nảy sinh một loạt các vấn đề xã hội bức xúc cần giải quyết như tình trạng phân hoá giàu nghèo tăng lên, tình trạng thất nghiệp ngày càng nhiều, đặc biệt là tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, dân cư, sự thay đổi về các giá trị và chuẩn mực xã hội… đòi hỏi pháp luật, đạo đức và các thể chế xã hội khác phải có sự thay đổi để điều chỉnh kịp thời nhằm giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc đó bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Xu hướng chung là xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng nhiều dẫn đến các vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng phức tạp, việc quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội phải khoa học, chính xác, chặt chẽ hơn, đòi hỏi các thể chế xã hội phải ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng những nhu cầu phát triển xã hội ngày càng đa dạng, phong phú nâng cao điều kiện sống và chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân.

Các thể chế xã hội phản ánh trình độ phát triển của đất nước, thông qua các quy định của pháp luật và các thể chế xã hội khác có thể biết được xã hội đang đối mặt với những vấn đề xã hội nào, những vấn đề xã hội nào bức xúc đang cần giải quyết… để từ đó có thể đánh giá được xã hội đang phát triển ở trình độ nào và theo định hướng nào. Sự phản ánh của thể chế xã hội không chỉ liên quan đến mặt xã hội mà còn liên quan đến cả những mặt khác của đời sống xã hội.

Các thể chế xã hội là phương tiện để quản lý sự phát triển xã hội, thực hiện các chính sách xã hội, các mục tiêu xã hội. Thể chế xã hội là phương tiện quản lý sự phát triển xã hội tạo ra sự phát triển hài hòa, cân đối các vấn đề xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu của cá nhân và cộng đồng trong các phạm vi khác nhau (địa phương, quốc gia, quốc tế) trên các lĩnh vực khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của xã hội. Với vai trò là các phương tiện, công cụ quản lý xã hội, thể chế xã hội tác động nhằm trật tự hoá các quan hệ xã hội, định hướng cho chúng phát triển theo những mục tiêu mong muốn.

Trước hết các thể chế xã hội ghi nhận chính sách phát triển xã hội của đất nước theo tinh thần coi con người là trọng tâm, là đích hướng tới của mọi chính sách phát triển xã hội, nghĩa là, phát triển xã hội “phải tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng… cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân con người cũng như của mỗi cộng đồng người[2], trong đó phải đặc biệt quan tâm đến những đối tượng xã hội đặc biệt – những người, những nhóm người thiếu hoặc mất những điều kiện sống bình thường, tối thiểu. Chính sách phát triển xã hội còn phải được xây dựng phù hợp với truyền thống văn hoá của dân tộc, xuất phát từ những giá trị truyền thống và những đặc trưng văn hoá của dân tộc. Chính sách xã hội phải làm sao kế thừa và phát huy được những giá trị của chủ nghĩa nhân văn và truyền thống tốt của dân tộc, kế thừa đợc những tinh hoa mà lịch sử hang nghìn năm cha ông đã tích luỹ được. Xây dựng các chính sách xã hội phải công bằng, bình đẳng, đồng bộ để giải quyết hài hoà các vấn đề xã hội về cả lợi ích vật chất lẫn tinh thần giữa các cá nhân với nhau, giữa các nhóm, các cộng đồng xã hội với nhau… Thông thường các chính sách xã hội của Nhà nước, cũng như của các chủ thể khác luôn hướng tới mục đích làm cho dân giàu, nước mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở phát huy mọi năng lực, tiềm năng của các tổ chức và cá nhân dưới nhiều hình thức. Tuy vậy, cũng có trường hợp chính sách và mục đích mà các thiết chế đề ra có thể mâu thuẫn với nhau. Do vậy, nếu gặp những trường hợp có sự mâu thuẫn về chính sách, mục đích  được thể hiện trong pháp luật với chính sách, mục đích trong các thể chế xã hội khác đối với cùng một vấn đề xã hội thì phải theo nguyên tắc pháp luật phải có tính tối cao so với các thể chế xã hội khác. Điều này cũng cho thấy mặc dù giữa các thể chế xã hội có rất nhiều điểm chung, nhưng cũng có rất nhiều điểm khác nhau.

Thông qua các thể chế xã hội xác định chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý trong phát triển xã hội. Chủ thể quản lý phát triển xã hội có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng, tổ chức xã hội, nhà nước… Trong đó nhà nước là chủ thể quan trọng nhất thực hiện quản lý phát triển xã hội. Quản lý phát triển xã hội là trách nhiệm của nhà nước và là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý của nhà nước. Nhà nước giữ vai trò quyết định đến việc giải quyết các vấn đề xã hội. Vai trò đó được thể hiện ở chỗ: Thông qua pháp luật, nhà nước quy định những vấn đề xã hội nào thuộc quyền quản lý của nhà nước; những cơ quan nào của nhà nước có trách nhiệm quản lý vấn đề xã hội nào; thẩm quyền của các cơ quan quản lý phát triển xã hội.

Nhà nước là trung tâm kết hợp các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể quần chúng, thu hút các tổ chức và cá nhân trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Nhà nước cung cấp và thu hút các nguồn lực chủ yếu để phục vụ việc thực hiện các chính sách xã hội. Nhà nước đại diện cho toàn xã hội để giải quyết những tranh chấp trong xã hội, bảo vệ công bằng xã hội.

Các chủ thể xã hội khác tham gia quản lý sự phát triển xã hội mang tính chất hỗ trợ cho nhà nước, cùng với nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội trong những phạm vi hẹp hơn. Các chủ thể này thực hiện những chức năng xã hội nhất định như khuyến khích, điều chỉnh, điều hoà hành vi của con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế; chế định, kiểm soát, giám sát nhu cầu, hoạt động, đặc biệt là những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực và đòi hỏi của thiết chế và của nhà nước.

Thông qua thể chế các chủ thể phải xác định được nhiệm vụ quản lý phát triển xã hội bao gồm: đề ra được mục tiêu khả thi có lợi nhất cho hệ thống quản lý. Quản lý phát triển xã hội phải phù hợp với các điều kiện kinh tế của đất nước, phải gắn sự phát triển xã hội với sự phát triển kinh tế ở mỗi giai đoạn phát triển. Sự phát triển kinh tế không phải tự nó đã giải quyết được hết các vấn đề xã hội mà đôi khi sự phát triển kinh tế còn làm nảy sinh các vấn đề xã hội mới buộc xã hội phải giải quyết; dự kiến được những trạng thái và khuynh hướng biến đổi của các đối tượng quản lý; đưa ra được những quy định chính xác, hợp lý để tác động, điều chỉnh hành vi của các chủ thể bị quản lý làm cho mục tiêu quản lý đạt được một cách tốt nhất. Thông qua các thể chế xã hội các chủ thể quản lý xã hội xác định nội dung quản lý phát triển xã hội, những vấn đề xã hội nào cần phải quản lý, việc quản lý được tiến hành dưới hình thức nào và mức độ, phương pháp quản lý.

Đối tượng bị quản lý là các cá nhân, nhóm, cộng đồng, tổ chức, xã hội… các đối tượng này trong nhiều trường hợp có thể là chủ thể quản lý trong những phạm vi hẹp và là đối tượng bị quản lý của các chủ thể khác ở phạm vi lớn hơn. Chẳng hạn, từng nhóm, cộng đồng phải tự quản lý hành vi của các thành viên trong nhóm, cộng đồng của mình, nhưng hoạt động của cả nhóm, cả cộng đồng thì lại chịu sự quản lý của nhà nước. điều này cũng cho thấy việc quản lý xã hội diễn ra ở nhiều cấp độ và tầng nấc khác nhau.

Khi xác định chủ thể quản lý phát triển xã hội, thì trong các thể chế xã hội cũng xác định thẩm quyền của các chủ thể quản lý. Thẩm quyền của chủ thể quản lý là toàn bộ các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm mà chủ thể quản lý được thể chế xã hội tương ứng quy định. Chẳng hạn, thông qua pháp luật, nhà nước quy định thẩm quyền của mỗi cơ quan nhà nước trong việc quản lý các vấn đề xã hội khác nhau. Thông qua quy định của các thể chế còn xác định được sự phân định thẩm quyền quản lý giữa các chủ thể quản lý hoặc sự chuyển dịch thẩm quyền quản lý từ chủ thể này qua chủ thể khác. Chẳng hạn, có những vấn đề xã hội trước đây thuộc thẩm quyền quản lý của tổ chức xã hội nhưng ngày nay được chuyển sang thuộc thẩm quyền quản lý của nhà nước.

Không chỉ xác định các hoạt động xã hội nào bị quản lý, thể chế xã hội còn xác định rõ việc quản lý đến đâu, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý phát triển xã hội, cái gì được phép làm, cái gì không được phép làm… Thông thường các vấn đề xã hội là những vấn đề nhạy cảm, việc xác định phạm vi quản lý không phù hợp có thể dẫn đến những can thiệp thô bạo, không cần thiết đối với các hoạt động của các cá nhân và cộng đồng xã hội.

Thể chế xã hội còn chỉ ra những phương pháp quản lý xã hội như trường hợp nào thì ra mệnh lệnh, trường hợp nào thì thực hiện việc tác động về mặt tâm lý như kêu gọi, giáo dục, thuyết phục, áp dụng các biện pháp khuyến khích như động viên, khen thưởng về vật chất và tinh thần, trường hợp nào thì áp dụng các biện pháp cưỡng chế, trừng phạt…

Pháp luật, thể chế xã hội khác quy định: cơ chế và quy trình quản lý xã hội trong mỗi thời kỳ phát triển xã hội; hình thức ra quyết định quản lý: bằng miệng, bằng văn bản, tên gọi của văn bản hay quyết định quản lý…; những biện pháp kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động xã hội của các tổ chức và cá nhân như chủ thể nào có thẩm quyền kiểm tra, giám sát; kiểm tra giám sát những hoạt động xã hội gì đối với các tổ chức, cộng đồng; quy định các biện pháp bảo vệ lợi ích của các tổ chức, cá nhân và lợi ích chung của toàn xã hội; việc giải quyết tranh chấp liên quan đến sự phát triển xã hội; xử lý những hiện tượng tiêu cực trong quá trình phát triển xã hội của các chủ thể. Các thể chế xã hội thường xác định chủ thể có thẩm quyền xử lý và các biện pháp mà họ có thể áp dụng để ngăn ngừa và trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật, những hiện tượng tiêu cực trong các hoạt động xã hội.

Đối với các chủ thể khi tiến hành các hoạt động liên quan đến sự phát triển xã hội đều phải dựa vào pháp luật và quy định của các thể chế xã hội khác. Pháp luật và các thể chế là cơ sở để các chủ thể thực hiện các hoạt động quản lý phát triển xã hội. Như vậy, các thể chế xã hội là phương tiện để thực hiện các chính sách xã hội, là công cụ để quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội của cá nhân, cộng đồng, dân tộc, quốc gia và trong những chừng mực nhất định là của nhân loại nói chung.

Các thể chế xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới phát triển xã hội có thể theo hướng tích cực và cả hướng không tích cực. Ảnh hưởng của các thể chế xã hội tới sự phát triển xã hội thông qua chính nội dung các quy định, quá trình thực hiện, áp dụng các quy định của chúng. Các thể chế xã hội gồm hầu hết là những quy tắc xử sự chung, là chuẩn mực làm khuôn mẫu cho hành vi con người, chỉ dẫn cho mọi người cách xử sự phù hợp, có lợi cho xã hội nhất trong những tình huống nhất định của cuộc sống. Điều này cũng có nghĩa là chúng đã chỉ ra cách xử sự (những quyền và nghĩa vụ mà cá nhân và tổ chức có thể có) và phạm vi xử sự của cá nhân, tổ chức trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định, cũng như những hệ quả (những lợi ích mà họ được hưởng và những biện pháp trách nhiệm mà họ phải gánh chịu) có thể xảy ra đối với các chủ thể thực hiện đúng hoặc vi phạm chúng.

Không chỉ là khuôn mẫu cho hành vi, quy định của các thể chế xã hội còn xác định giới hạn hoạt động quản lý của mỗi chủ thể tham gia quản lý phát triển xã hội (họ được tham gia quản lý những nội dung nào của hoạt động phát triển xã hội, mức độ quản lý đến đâu). Chẳng hạn, thông qua pháp luật mới có thể biết được những vấn đề xã hội nào thuộc nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết của các cơ quan nhà nước. Trong trường hợp này quy định của các thể chế xã hội đã làm cho các hoạt động quản lý phát triển xã hội có trật tự, tránh được tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo trong hoạt động của các chủ thể tham gia quản lý phát triển xã hội.

Quy định của các thể chế xã hội còn là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh về tính hợp pháp hay không hợp pháp, đúng hay không đúng (lệch chuẩn) trong xử sự của các tổ chức, cá nhân. Nghĩa là, thông qua quy định của các thể chế mới biết được hoạt động nào của các chủ thể có hoặc không có ý nghĩa trong lĩnh vực nào, hoạt động nào đúng, hoạt động nào không đúng (lệch chuẩn) để từ đó có những giải pháp phù hợp đối với mỗi trường hợp. Hoạt động xử lý vi phạm thể chế xã hội cũng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động phát triển xã hội, nó giúp cho sự phát triển xã hội đi đúng hướng, không trệch mục tiêu, đạt được kết quả mong muốn.

Khi các thể chế xã hội phản ánh đúng, đầy đủ, kịp thời tình hình và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước chúng sẽ thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là những vấn đề xã hội bức xúc làm cho xã hội phát triển nhanh, hài hoà. Các thể chế xã hội, nhất là pháp luật có tác dụng tạo ra cơ sở, môi trường để hoạt động quản lý phát triển xã hội được tiến hành thuận lợi, có trật tự, đạt hiệu quả cao và đúng hướng. Sự quản lý của nhà nước và các thiết chế xã hội khác đối với phát triển xã hội chỉ có thể được thực hiện và phát huy đầy đủ nhất, có hiệu quả nhất khi được xác lập dưới những hình thức nhất định và được bảo đảm thực hiện bởi những cơ chế thích hợp. Có thể nói, trong thời đại hiện nay các thể chế xã hội đã trở thành một bộ phận cấu thành, một nguồn vốn phát triển xã hội. Thiếu các thể chế xã hội việc quản lý phát triển xã hội không thể thực hiện hoặc được thực hiện nhưng hiệu quả sẽ rất thấp, các vấn đề xã hội sẽ được giải quyết tuỳ tiện, nhiều trường hợp trở nên hỗn loạn, không thể kiểm soát.

Những tác động tích cực của pháp luật và các thể chế xã hội khác đến sự phát triển xã hội có thể được minh chứng bằng rất nhiều những thay đổi trên phương diện xã hội của đất nước ta thời kỳ đổi mới. Chẳng hạn, bằng những quy định pháp luật và quy định của các đoàn thể về sinh đẻ có kế hoạch đã làm cho tỷ lệ tăng dân số ở nước ta luôn ở mức thấp, từ đó áp lực việc giải quyết việc làm và các hộ đói nghèo giảm đi đáng kể.

Quy định của các thể chế xã hội góp phần hình thành thói quen, lối sống có tổ chức, văn minh, nâng cao chất lượng sống của mỗi cá nhân và cộng đồng, tạo ra sự ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm cho con người được sống trong tình nhân ái, đùm bọc, giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Các thể chế xã hội còn bảo đảm sự công bằng, dân chủ và bình đẳng trong các mối quan hệ xã hội, đẩy lùi những cái xấu, cái hạn chế đưa con người hướng tới các giá trị chân – thiện – mỹ.

Trong tiến trình toàn cầu hoá hiện nay, sự tuỳ thuộc của các quốc gia vào nhau trong việc giải quyết các vấn đề xã hội ngày một nhiều hơn. Thông qua các thể chế xã hội mỗi quốc gia cũng thể hiện chính sách hội nhập, hoà đồng quốc tế cùng các quốc gia, dân tộc khác trong việc xoá đói, giảm nghèo, bảo trợ xã hội, giúp đỡ người khuyết tật, đấu tranh chống bệnh tật, chống hiện tượng buôn người… nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của từng khu vực và trên toàn thế giới, phấn đấu vì một thế giới hoà bình, ổn định và thịnh vượng.

Một số quy định của các thể chế xã hội có thể ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Khi các quy định pháp luật và các thể chế xã hội khác phản ánh không đúng (xác định chủ thể, cơ chế, nội dung các hoạt động quản lý phát triển xã hội không phù hợp…), chúng được xây dựng không phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước, với yêu cầu của sự phát triển xã hội, chúng sẽ kìm hãm sự phát triển xã hội, thậm chí còn có thể mang lại những tác hại nhất định cho quá trình quản lý phát triển xã hội. Chẳng hạn, một số quy định của Hiến pháp Việt Nam 1980 cùng một số quy định của các văn bản pháp luật được ban hành trong thời kỳ này là quá cao so với các điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta, vì vậy, chúng đã làm cho việc quản lý phát triển xã hội gặp nhiều khó khăn, kinh tế – xã hội đất nước phát triển chậm, các tệ nạn xã hội nảy sinh nhiều… đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Hay một số quy định của các thể chế xã hội đã can thiệp quá sâu vào các hoạt động phát triển xã hội như việc quy định thời điểm sinh con, thời gian cách nhau giữa các lần sinh… đã làm cho sự phát triển xã hội thiếu sáng tạo, thiếu chủ động, dẫn đến xã hội phát triển sơ cứng, không khoa học.

Thông thường quy định của các thể chế xã hội vừa có tác động tích cực lại vừa có tác động không tích cực đến sự phát triển xã hội. Không có thể chế xã hội nào lại chỉ có tác động tích cực hoặc chỉ có tác động tiêu cực lên sự phát triển xã hội mà thường thì chúng vừa tác động tích cực, tạo điều kiện, thúc đẩy phát triển xã hội vừa có tác động không tích cực đến sự phát triển xã hội (tính chất tác động hai mặt của thể chế xã hội) hoặc là chúng tác động tốt ở thời gian này, nhưng lại không tốt ở thời gian khác, tác động tích cực ở khu vực lãnh thổ này, nhưng lại không tốt ở khu vực lãnh thổ khác.

Các thể chế xã hội luôn dựa vào nhau, tương hỗ nhau để cùng tồn tại, phát triển vì sự ổn định và trật tự xã hội, vì cuộc sống cộng đồng ổn định, phát triển h­ướng tới chân, thiện, mỹ. Tuy nhiên, mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại giữa chúng không giống nhau, bởi mỗi công cụ đều có những điểm mạnh, ưu thế và cũng có những hạn chế, khiếm khuyết nhất định và cũng không phải khi nào chúng cũng tác động cùng chiều, cùng mục đích.

Do có chung mục đích, tác dụng nên hầu hết quy định của các thể chế xã hội có sự tác động cùng chiều, chúng bổ sung, hỗ trợ nhau trong việc duy trì sự ổn định xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển theo những định hướng mong muốn vì cuộc sống hạnh phúc của con người. Chẳng hạn, nếu các quy định đạo đức và quy định pháp luật phù hợp với nhau chúng sẽ làm cho sự phát triển xã hội tiến hành dễ dàng hơn, đạt được mục đích nhanh và bền vững hơn.

Đa số quy định của các thể chế là phù hợp với nhau, song cũng không tránh khỏi có những quy định mâu thuẫn với nhau, đôi khi cản trở nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến sự phát triển xã hội. Chẳng hạn, trong Bí tích hôn phối của Công giáo thì sinh con là nghĩa vụ thiêng liêng của vợ chồng và là trách nhiệm trước Chúa (sinh những đứa con cho Chúa). Do vậy, không một quyền bính xã hội nào, kể cả trong nước và quốc tế có quyền ép buộc vợ chồng phải theo những biện pháp vô luân để sinh đẻ theo kế hoạch, sinh bao nhiêu con, sinh khi nào, hoàn toàn do vợ chồng quyết định…, không ai có quyền can thiệp, áp đặt, ép buộc việc sinh đẻ của vợ chồng. Nghĩa vụ của vợ chồng là phải sinh con để lấp đầy thế gian… Những điều nói trên là trái với các quy định pháp luật về sinh đẻ có kế hoạch trong Pháp lệnh về Dân số của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Bởi quy định pháp luật thì chỉ cho phép mỗi cá nhân hoặc cặp vợ chồng sinh tối đa là hai con, trừ những trường hợp đặc biệt thì số lượng con có thể nhiều hơn để bảo đảm sự tăng dân số ở mức vừa phải, giúp cho việc giải quyết việc làm, nâng cao mức sống và điều kiện sống của người dân được tốt hơn.

Như vậy, thể chế xã hội là những công cụ phương tiện quan trọng, không thể thiếu trong quản lý xã hội nói chung, quản lý phát triển xã hội nói riêng. Hệ thống thể chế xã hội bao gồm pháp luật, đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, quy định đoàn thể, quy ước của các cộng đồng dân cư… chúng luôn có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ hoặc cản trở lẫn nhau trong việc quản lý phát triển xã hội. Do có tính chất, đặc điểm và tầm quan trọng khác nhau nên ảnh hưởng của các thể chế xã hội khác nhau đến việc quản lý phát triển xã hội sẽ khác nhau. Trong hệ thống các thể chế xã hội thì pháp luật có vai trò quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đối với việc quản lý phát triển xã hội.

Nếu phản ánh đúng, kịp thời và đưa ra các giải pháp phù hợp các vấn đề xã hội của đời sống xã hội thì thể chế xã hội có thể ảnh hưởng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý phát triển xã hội đạt được hiệu quả cao. Ngược lại, nếu phản ánh không đúng, không kịp thời hoặc lạc hậu so với sự phát triển xã hội thể chế xã hội sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực, không tốt đến chất lượng, hiệu quả quản lý phát triển xã hội.

Để phát huy được vai trò của các thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thì cần không ngừng xây dựng, hoàn thiện mỗi thể chế xã hội, mà đặc biệt là pháp luật cho phù hợp với tình hình, điều kiện của mỗi dân tộc, mỗi khu vực lãnh thổ của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định bảo đảm sự phát triển hài hoà của xã hội. Sự hoàn thiện của các thể chế xã hội phải theo xu hướng là: Ngày càng trở nên toàn diện (các quan hệ xã hội quan trọng thì đều phải được kiểm soát và điều chỉnh), đồng bộ (giảm thiểu sự mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định của mỗi thể chế và giữa các thể chế xã hội với nhau. Bảo đảm tính tối thượng của pháp luật), phù hợp (phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước và phù hợp với sự phát triển của xã hội loài người nói chung), ngày càng trở nên nhân văn hơn với tư tưởng chỉ đạo: con người là giá trị cao quí nhất, mọi cố gắng của xã hội đều xuất phát từ con người, nhằm phục vụ cho hạnh phúc của con người.

Hiện nay chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa – một Nhà nước đề cao vị thế của pháp luật trong xã hội nên vai trò của pháp luật đối với quản lý phát triển xã hội ngày càng được củng cố và nâng cao so với các thể chế xã hội khác. Song không phải vì thế mà xem nhẹ vai trò của các thể chế xã hội khác trong quản lý phát triển xã hội mà phải tiếp tục nghiên cứu để sử dụng một cách hài hoà giữa pháp luật với các thể chế xã hội khác như đạo đức, phong tục tập quán, quy định của các tổ chức xã hội, quy ước của các cộng đồng dân cư… trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội không chỉ liên quan đến phát triển xã hội mà cả việc phát triển các mặt khác như kinh tế, chính trị, văn hoá của đời sống xã hội vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện

Cộng đồng dân cư luôn là một bộ phận chiếm vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội. Trong quá trình phát triển cũng như quản lý phát triển, cộng đồng dân cư vừa đóng vai trò là đối tượng chịu sự quản lý, vừa đóng vai trò là chủ thể hình thành, sử dụng và phát triển các thể chế xã hội chính thức lẫn phi chính thức. Trong thời gian đến có thể định hướng một số giải pháp để phát huy vai trò của cộng đồng dân cư như sau:

– Phát huy vai trò phản biện của nhân dân, cộng đồng dân cư trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật một cách sâu rộng và mạnh mẽ hơn nữa. Vấn đề này liên quan đến việc thay đổi tư duy về vai trò của tầng lớp quản lý đối với cộng đồng dân cư. Các phản biện xã hội, dư luận xã hội sẽ giúp cho việc xây dựng chính sách, pháp luật được hợp ý lòng dân hơn nữa, đáp ứng được nhu cầu thực tế của cộng đồng dân cư.

– Đổi mới quá trình xây dựng pháp luật, theo đó cho phép một số biện pháp như cho phép cá nhân được trình dự thảo luật, tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng luật, chính sách.

– Tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư được gìn giữ, lưu truyền và phát huy những giá trị của thể chế xã hội phi quan phương. Đây là những yếu tố quan trọng của cả một cộng đồng cũng như một quốc gia, dân tộc. Đặc biệt đối với những loại thể chế như tôn giáo, đạo đức,… cần được tuyên truyền sâu rộng, bảo vệ tự do tín ngưỡng của nhân dân cũng như phát huy các giá trị truyền thống vốn có.

– Nhà nước cần tiến hành những biện pháp mạnh mẽ và khéo léo hơn nữa trong việc loại bỏ những tập tục, luật tục cổ hủ lâu đời làm chậm quá trình phát triển của một số bộ phận cộng đồng dân cư; góp phần làm lành mạnh hóa môi trường thể chế xã hội hiện đại theo hướng văn minh, dân chủ./.

 


* Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[1] Nguyễn Minh Đoan (2010), Thể chế xã hội và phát triển xã hội, Chuyên đề đề tài cấp Nhà nước “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội”, tr. 10.

[2] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình “Xã hội học trong quản lý”, Hà Nội, 2000, tr. 283.

Explore posts in the same categories: Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học, Xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: