Một số đánh giá pháp luật bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của các nước trên TG

Trương Hồng Quang

1. Về những nét tương đồng của pháp luật các quốc gia về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, Về nguồn của pháp luật. Đa số các nước được nghiên cứu đều sử dụng một nguồn luật quan trọng là án lệ trong xét xử các vụ án liên quan đến bồi thường thiệt hại. Đây là nguồn luật cơ bản và thiết yếu bên cạnh hệ thống pháp luật hiện hành của các quốc gia này. Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia khác như Trung Quốc – một quốc gia Châu Á vẫn chưa xem án lệ là nguồn luật cơ bản cho nên pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn là nguồn luật cơ bản nhất đối với chế định bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, Về nguyên tắc bồi thường.

– Pháp luật một số nước như Liên minh Châu Âu, Pháp, Nhật Bản đều thừa nhận nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” trên quan điểm coi trách nhiệm bồi thường thiệt hại là biện pháp nhằm khôi phục lại các quan hệ xã hội bị phá vỡ chứ không nhằm mục đích trừng phạt đối với người thực hiện hành vi xâm phạm, theo đó “Sự bồi thường thiệt hại phải toàn bộ trong tất cả các trường hợp và không được vượt quá tổng số thiệt hại. Và “những thiệt hại được bồi thường đối với nạn nhân phải khiến cho nạn nhân không mất đi, cũng như không được thêm ra các lợi ích”. Bên cạnh đó, nghiên cứu các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự Trung Quốc 1986, tại Điều 117 và 118 cũng quy định rõ:“nguyên tắc cơ bản để bồi thường thiệt hại trong các vụ án dân sự là sự bồi thường mang tính bù đắp thiệt hại hơn là sự bồi thường mang tính răn đe và trừng phạt”. Trong các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Trung Quốc, nguyên tắc được thể hiện rõ nhất trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nguyên tắc bồi thường toàn bộ những thiệt hại xảy ra trên thực tế. Toà phúc thẩm Liên Bang Đức cũng đã ra tuyên bố rằng: Sẽ không có hiệu lực ở Đức đối với các phán quyết của Mỹ về phần bồi thường thiệt hại mang tính trừng phạt dân sự vì phán quyết này vi phạm trật tự công cộng của Đức.


Nghiên cứu pháp luật về bồi thường thiệt hại của nhiều nước trên thế giới đều cho thấy không có đề cập tới nguyên tắc bồi thường kịp thời. Thực tế, nên coi đây là một nguyên tắc tố tụng phản ánh tính kịp thời trong quá trình ra phán quyết nhằm xử lý hành vi xâm phạm và khả năng thực thi phán quyết đó một cách hữu hiệu thay vì coi đó là một nguyên tắc trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

– Qua nghiên cứu cho thấy, pháp luật một số nước như Đức hay Nhật Bản cũng cho phép Toà án có quyền xem xét để giảm mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp hành vi xâm phạm được xác định là do lỗi vô ý nhẹ. Tuy nhiên, việc giảm mức bồi thường thiệt hại ở Đức được xem như những trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” hơn là dưới góc độ một nguyên tắc bồi thường thiệt hại như ở Việt Nam. Nguyên tắc giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại hầu như không tồn tại trong pháp luật của các nước theo đuổi quan điểm bồi thường trừng phạt mặc dù có thể thấy sự phân hoá trách nhiệm rất rõ giữa hành vi xâm phạm do cố ý và vô ý.

– Nguyên tắc thay đổi mức bồi thường thiệt hại rất hiếm gặp trong pháp luật các nước trên thế giới.

Thứ ba, về cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Nghiên cứu pháp luật của nhiều quốc gia bao gồm cả các nước theo hệ thống thông luật và dân luật cho thấy cơ sở làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được pháp luật tất cả các nước thừa nhận dựa trên ba yếu tố cơ bản:

– Hành vi trái pháp luật

– Thiệt hại

– Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

Thứ tư, về các phương pháp xác định thiệt hại của các quốc gia đều có những phương pháp giống nhau. Trong đó đều dựa trên các loại chi phí cũng như mức độ bị thiệt hại lợi nhuận,…

2. Về những nét khác biệt của pháp luật các quốc gia về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Nhìn chung các quốc gia đã có những nét chung trong quá trình phát triển các học thuyết và xây dựng pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu của chương II đã cho thấy những nét khác biệt nhau nhất định.

Về nguyên tắc bồi thường trừng phạt, các quốc gia theo hệ thống án lệ, đặc biệt là Hoa Kỳ đã quy định bồi thường gấp đôi, gấp ba so với thiệt hại. Đây là quy định nhằm mục đích thể hiện tính chất trừng phạt đối với những hành vi gây ra thiệt hại và khẳng định một quan điểm xuyên suốt là bồi thường không phải chỉ để khắc phục hay bù đắp. Điều này xuất phát từ nguyên nhân pháp luật các quốc gia này có chưa có sự phân biệt giữa luật công và luật tư, do đó, pháp luật dân sự vẫn mang hơi hướng răn đe, trừng phạt của luật hình sự. Đây cũng là điểm mà các nhà lập pháp Việt Nam nên học hỏi trong quá trình hoàn thiện pháp luật.

Về cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hầu hết các quốc gia đã ghi nhận 3 căn cứ như đã nói ở trên nhưng cũng có một số quốc gia ghi nhận thêm yếu tố lỗi. Lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng để xác định mức độ thiệt hại cũng như mức bồi thường thiệt hại.

Về các phương pháp xác định thiệt hại và mức độ bồi thường tuy gần như giống nhau nhưng cũng có một số khác biệt về số lượng phương pháp tính thiệt hại, nội dung mỗi loại chi phí.

3. Nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt

Thứ nhất, sự hội nhập của pháp luật sở hữu trí tuệ dưới tác động của toàn cầu hóa. Sự hội nhập kinh tế đã dẫn đến nguy cơ toàn cầu hóa trên khắp thế giới. Các thiết chế kinh tế đã phát triển quy mô đến những mức độ nhất định, góp phần tác động đến các thiết chế xã hội, pháp luật, văn hóa,… Trong bối cảnh đó, sự du nhập, cấy ghép pháp luật ngày càng được diễn ra một cách phổ biến. Theo đo, pháp luật sở hữu trí tuệ cũng được lan truyền từ nước này sang nước khác, đặc biệt từ các nước phát triển lâu đời sang các nước mới hoặc kém phát triển hơn. Điều này đã dẫn đến những điểm giống nhau trong hệ thống pháp luật nói chung và bồi thường thiệt hại nói riêng.

Thứ hai, triết lý nền tảng của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Quan niệm về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa các quốc gia khác nhau là không hoàn toàn giống nhau. Quan niệm về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa các quốc gia gia khác nhau là không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn theo quan điểm Nhật Bản cho rằng, cần có sự phân tách rõ ràng giữa các biện pháp hình sự và biện pháp dân sự trong việc xử lý các hành vi vi phạm. Chỉ có Nhà nước mới là tổ chức duy nhất có thẩm quyền Tòa áp dụng các biện pháp xử lý hình sự[1]. Các tổ chức, cá nhân không mang quyền lực nhà nước thì không thể có quyền năng này. Chính vì thế, chức năng của chế định bồi thường, chỉ là để ”khôi phục lại tình trạng mà lẽ ra người bị vi phạm có thể không có nếu không có hành vi vi phạm”. Bất kể hành vi vi phạm được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý thì yếu tố lỗi cũng không được coi là căn cứ để nâng mức bồi thường thiệt hại cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra. Chức năng của chế định bồi thường – chính vì thế, không phải để răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm. Nguyên tắc xác định thiệt hại trong vi phạm hợp đồng cũng được áp dụng cho việc xác định thiệt hại từ hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ngược lại, tại Hoa Kỳ, chức năng của tiền bồi thường thiệt hại với các chế tài hình sự là không hoàn toàn rõ ràng. Hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ sử dụng cả chế tài dân sự vào việc răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm. Các tổ chức, cá nhân không mang quyền lực nhà nước được khuyến khích tham gia các vụ kiện để ngăn chặn hành vi vi phạm. Pháp luật Hoa Kỳ sẵn sàng sử dụng cơ chế ”tiền bồi thường có tính chất trừng phạt” áp dụng cho các trường hợp vi phạm với lỗi cố ý. Tiền bồi thường này sẽ cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra và bao hàm cả chi phí luật sư, chi phí theo đuổi vụ kiện.

Thứ ba, chính sách sở hữu trí tuệ. Đây là nguyên nhân dẫn đến những sự giống nhau của pháp luật các nước về vấn đề này. Theo đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được xem là một nội dung cơ bản của pháp luật sở hữu trí tuệ của các nước, theo đó, chế định bồi thường thiệt hại có vai trò rất quan trọng trong việc xác định mức độ thực thi các cam kết bảo hộ. Điều 284 của Bộ pháp điển Hoa Kỳ số 35 thể hiện rõ sự quan tâm của Nghị viện Hoa Kỳ đối với việc bảo vệ ở mức cao ”quyền sở hữu trí tuệ” (xuất phát từ triết lý – quyền tư hữu là thiêng liêng, bất khả xâm phạm). Chủ sáng chế được đặc biệt ưu tiên bảo vệ. Pháp luật Hoa Kỳ không cho phép Tòa án được giảm mức tiền bồi thường đối với bị đơn thấp hơn mức ”chuyển giao sáng chế một cách hợp lý”. Đối với các vi phạm với lỗi cố ý, Tòa án được quyền nâng mức phạt lên gấp 3 lần thiệt hại thực tế. Theo Điều 285 của Bộ Pháp điển Hoa Kỳ số 35, trong những trường hợp đặc biệt, Tòa án còn có thể buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn tiền phí luật sư.

 


[1] Xem: Toshiko Taknaka, Patent Infringement Damages in Japan and The US: Will increased patent infrigement damage awards revive the Japanese economy?

Advertisements
Explore posts in the same categories: Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp luật Dân sự

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: