Archive for Tháng Mười Một 2010

THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Một 2, 2010

Trương Hồng Quang


I. NÔNG THÔN VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm nông thôn

Khác với vấn đề đô thị, nông thôn là một hiện tượng xuất hiện đồng thời với sự ra đời của nước Việt. Các chặng đường lịch sử đã chứng kiến những biến đổi cũng như các cuộc cách mạng lịch sử liên quan, xuất phát từ nông thôn. Tại Việt Nam, nông thôn dường như mang những nét rất đặc thù so với các nước khác trên thế giới, thể hiện ở văn hóa làng xã và các đặc điểm xã hội tiềm ẩn trong mỗi chặng đường phát triển. Nếu như khái niệm đô thị được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì khái niệm nông thôn dường như được quan tâm một cách khiêm tốn hơn. Các nghiên cứu từ trước đến nay đã cho thấy một điều rằng, các nhìn nhận về nông thôn luôn đi theo hướng xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đưa ra một định nghĩa chung cho khái niệm nông thôn.

Theo quan điểm chung, nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân sư tương đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị[1]. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Ở Việt Nam, cho đến năm 2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này vào năm 1999 là 76,5%. Con số đó những năm trước còn lớn hơn nhiều. Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội. Ngay cả những Việt kiều sống ở các nước văn minh, tiên tiến nhất thế giới, vẫn giữ nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam.

(more…)

Advertisements

THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang


I. ĐÔ THỊ VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

1. Khái lược những vấn đề chung về đô thị

1.1. Một số khái niệm

– Tư duy về đô thị.

Đô thị là biểu trưng của nền văn minh nhân loại[1]. Và chưa bao giờ trong lịch sử loài người, các thành phố lại có vị trí quan trọng tuyệt đối như hôm nay trong việc tạo dựng và phát triển các giá trị nhân loại. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi đô thị trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Từ xa xưa, các nền văn minh ở cả phương Đông và phương Tây đã có những nhận thức về tổ chức đô thị nhằm đạt được những mục đích về tâm linh, quyền lực hay phòng thủ. Thế kỷ 4 trước Công Nguyên, triết gia Hy Lạp Aristotle bắt đầu nhìn nhận đô thị từ góc độ dân sinh và tổ chức xã hội, đặt nền móng đầu tiên cho ngành quy hoạch hiện đại. Trong tác phẩm The Politics (Chính trị học), ông miêu tả mô hình một cộng đồng lý tưởng có quy mô dân số khoảng 5000 người – “đủ nhỏ để tiếng nói của mỗi cá nhân có thể được lắng nghe bởi toàn bộ cộng đồng, và đủ lớn để có thể tự cung, tự cấp[2]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đô thị chỉ thực sự bùng nổ vào thế kỷ 19 khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra tại nước Anh cùng với sự xuất hiện của các thành phố công nghiệp chật chội và ô nhiễm. Nhà vô sản Federic Engles đã quan sát những khu ổ chuột của công nhân ở Manchester và hoàn thành những trang viết đầu tiên của ngành Xã hội học đô thị. Ebenezer Howard, một thương gia và nhà hoạt động xã hội, thì đề xuất mô hình đô thị vệ tinh thông qua việc xây dựng các thành phố vườn bao quanh bởi các vành đai xanh và liên kết với đô thị trung tâm bằng hệ thống đường sắt[3]. Vào những năm 1930, ngành Xã hội học đô thị ra đời khi những các nhà xã hội học ở trường Đại học Chicago bàng hoàng trước những dòng người nhập cư vào thành phố và những biến đổi trong đời sống đô thị và bắt tay vào nghiên cứu những sự biến đổi này tại Chicago. Đến những năm 60, 70, khi xã hội phương Tây bắt đầu bước sang giai đoạn hậu hiện đại, các tác phẩm của nhà báo Jane Jacob, nhà nghiên cứu Kevin Lynch và kiến trúc sư theo trường phái cổ điển Léon Krier đã đặt đô thị dưới góc nhìn nhân bản hơn và nhấn mạnh yếu tố con người thay vì công năng của trường phái Le Corbusier hay trường phái quy hoạch Victoria từ thế kỷ 19.

(more…)

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SÁNG CHẾ CỦA NHẬT BẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Tháng Mười Một 2, 2010

Lê Thị Hoàng Thanh*

Trương Hồng Quang**


I. GIỚI THIỆU CHUNG

Trong số các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thì bồi thường thiệt hại được xem là biện pháp bảo vệ có tính thiết thực và mang lại hiệu quả cao. Điều này được thể hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, đối với chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ, biện pháp này sẽ giúp họ có thể bù đắp được những tổn thất về mặt kinh tế mà họ đã phải gánh chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra. Thứ hai, đối với người đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì bồi thường thiệt hại tác động bất lợi tới tài sản của người vi phạm, ngăn ngừa khả năng tiếp tục xâm phạm. Bài viết này sẽ phân tích việc bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sáng chế tại Nhật Bản theo quy định của pháp luật Nhật Bản và phán quyết của Toà án.

Cũng như hầu hết các nước ở Châu Á, việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Nhật Bản diễn ra khá phổ biến và phức tạp. Trước sức ép của việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, chính quyền Nhật Bản đã rất nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ[1].

Theo hệ thống pháp luật Nhật Bản, quyền sở hữu trí tuệ khá rộng với hai loại: pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp và pháp luật về quyền sở hữu không mang tính công nghiệp. Có 4 quyền sở hữu công nghiệp gồm: Quyền sáng chế; Giải pháp hữu tích; Quyền thiết kế; Quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá. Có 5 quyền sở hữu không mang tính công nghiệp được ghi nhận trong pháp luật Nhật Bản: Quyền tác giả; Thiết kế bố trí mạch tích hợp; Tên thương mại; Bí mật thương mại; Quyền đối với giống cây trồng. Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được thực hiện bằng ba biện pháp chính: biện pháp hành chính, biện pháp hình sự và biện pháp dân sự. Và bồi thường thiệt hại là một trong các biện pháp dân sự hữu hiệu để chống lại hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, khắc phục những ảnh hưởng mà người bị xâm hại gánh chịu.

Trên thực tế, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng thủ tục tố tụng dân sự rất mất thời gian, khó khăn trong việc xác định chứng cứ, tính toán mức thiệt hại nên hầu hết những người bị xâm hại e ngại với việc khởi kiện người xâm hại tại Toà án vì hết sức khó khăn trong việc tìm đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế. Đại bộ phận những người bị xâm hại đề nhờ đến luật sư gửi giấy cảnh cáo tới người xâm hại, yêu cầu người xâm hại chấm dứt hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương lượng để bù đắp một khoản tiền (với những vi phạm quyền sở hữu sáng chế thông thường người bị xâm hại yêu cầu người xâm hại ký hợp đồng sử dụng sáng chế, trả tiền cho việc sử dụng sáng chế đó). Việc giải quyết với nhau bằng phương pháp hoà giải thành là rất nhiều, ít khi đưa đến tố tụng Trong trường hợp việc hoà giải, thương lượng không thành công, người bị xâm hại quyền sở hữu trí tuệ có làm đơn đến toà án yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đình chỉ vi phạm, sau đó làm thủ tục tố tụng dân sự. Các tranh chấp dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ do Toà án cấp tỉnh giải quyết[2].

(more…)

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT AN TỬ

Tháng Mười Một 2, 2010

TRƯƠNG HỒNG QUANG – Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

(Tạp chí NCLP 19, 10/2010)

“Quyền được chết” được pháp luật một số nước coi là quyền nhân thân của con người và được quy định trong một đạo luật gọi là Luật An tử. Quyền được chết, hiểu một cách đơn giản là quyền của một người đã thành niên đang phải chịu sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần kéo dài và không thể chịu đựng được sau một tai nạn hay một bệnh lý không thể cứu chữa, rơi vào tình huống y tế không lối thoát1, nên đã chọn thực hiện quyền được chết.

Hiện nay, một số quốc gia như Hà Lan, Bỉ, Lúcxămbua, các bang của Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật về an tử. Nhưng quyền được chết vẫn chưa được xem là quyền nhân thân trong pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau: trình độ lập pháp, các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… đã tác động làm cho quyền được chết trở thành cuộc chiến không chỉ dừng lại ở phạm vi lập pháp2. Chúng tôi xin đưa ra những nghiên cứu ban đầu về nội dung của một đạo luật quy định về quyền này.

1. Quyền được chết và khả năng xây dựng Luật An tử ở Việt Nam

Tại kỳ họp thứ 6 và 7 Quốc hội khóa XI (2004, 2005), Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách năm 2005, vấn đề quyền được chết đã được đưa vào Dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự và được khá nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm. Nhìn chung, các quan điểm đều nhìn nhận đây là một việc làm nhân đạo, nhưng lại là một vấn đề nhạy cảm, không phù hợp với đạo lý người Á Đông hiện nay. Hơn nữa, số lượng bệnh nhân giai đoạn cuối, mắc bệnh vô phương cứu chữa của Việt Nam còn ít so với thế giới3. Do đó, quyền được chết vẫn chưa được công nhận và thông qua tại Việt Nam.

Trong đại bộ phận dân cư, quyền được chết là một vấn đề còn xa lạ và còn có nhiều sự nhầm lẫn trong quan niệm cũng như nhận thức. Bên cạnh đó, phong tục, tập quán và truyền thống Á Đông đã chi phối đến việc tiếp cận những vấn đề mới, nhạy cảm có liên quan đến tín ngưỡng, văn hóa. Một điều phải công nhận là truyền thống phương Đông chúng ta luôn coi trọng sự sống con người, xem nó là thứ quý giá nhất. Từ lâu, quan niệm này đã ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn mỗi người. Ngay cả phương Tây – nơi mà truyền thống, phong tục không quá nặng nề và tư tưởng “thoáng” hơn phương Đông – thì cũng chỉ có vài nước công nhận quyền được chết và lựa chọn cái chết êm ả. Nhưng ở phương Tây thì lý do để đa phần các quốc gia không chấp nhận an tử lại không phải là phong tục, tập quán mà là vì các lý do thuộc về luật pháp, tôn giáo và chính trị… Bên cạnh đó, sự lo sợ Luật An tử khi ban hành sẽ bị lạm dụng cũng góp phần thúc đẩy những quan điểm chống lại an tử phát triển như hiện nay.

Tại Hàn Quốc, năm 1997, bất chấp những đe dọa mạnh mẽ từ phía bác sĩ, một người vợ vẫn quyết định nên để cho người chồng 58 tuổi của mình tự chống đỡ với căn bệnh chảy máu não, do khó khăn tài chính của gia đình khiến bà này không thể làm khác hơn4. Tòa án ở địa phương đã kết án tù người vợ và hai bác sĩ vì đã để bệnh nhân – chồng của bà này, dù đang ở trong một tình trạng nguy kịch – vẫn phải rời khỏi bệnh viện mà không có biện pháp cứu chữa. Bộ luật Hình sự của Hàn Quốc quy định tội giết người cho bất cứ trường hợp nào kết thúc cuộc đời của người khác. Trong trường hợp này, mặc dù đã được sự đồng ý của bệnh nhân và các thành viên trong gia đình, nhưng việc không duy trì sự sống cho nạn nhân bằng cách không cho ăn, uống, không thuốc điều trị và các thiết bị hỗ trợ, sẽ bị coi là một tội ác. Hiện tại, mặc dù y học hiện đại đã có thêm nhiều hỗ trợ, trong đó có nhiều phản hồi tích cực từ tòa án khi một số lớn ý kiến cho rằng sẽ tốt hơn cho gia đình và bệnh nhân khi kết thúc những biện pháp điều trị vô nghĩa, nhất là đối với những bệnh nhân bị hôn mê mà không có một chút khả năng nào sẽ hồi phục, đồng thời sẽ giảm đi gánh nặng cho gia đình. Vụ án này chỉ là một trong những vụ án liên quan đến các tranh luận xung quanh vấn đề quyền được chết và Luật An tử trên thế giới trong nhiều năm qua. Thực sự, đây đã trở thành một chủ đề phức tạp với nhiều luận điểm trái ngược nhau. (more…)

Thể chế xã hội trong lĩnh vực dân tộc tại Việt Nam

Tháng Mười Một 2, 2010

THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

 

I. DÂN TỘC VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm, đặc điểm, cơ cấu các dân tộc anh em ở nước ta hiện nay

Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến. Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau. Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc. Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện. Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành.

Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Loại hình dân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm  lý dân tộc đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn chung còn kém phát triển và còn ở trạng thái phân tán.

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất[1]:

Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với nghĩa hiểu này, Việt Nam gồm 54 dân tộc hay 54 tộc người.

Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích  chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa thứ hai, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia – dân tộc. Theo nghĩa này, có thể nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa,…

Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc. Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất[2]. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ. Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:

+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.

+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.

+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm…

+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc). Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc.

(more…)

Hệ thống quan điểm của Đảng CSVN về hoàn thiện hoạt động tư pháp

Tháng Mười Một 2, 2010

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

 

Nhận thức lý luận của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân tại Việt Nam bắt nguồn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình phát triển lâu dài, bền bỉ và gắn chặt với lịch sử cách mạng và thời kỳ thể hiện tập trung nhất sự phát triển các quan điểm và đường lối của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là giai đoạn từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay. Tại Việt Nam, thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1994). Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1995) tiếp tục đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khoá VIII của Đảng (tháng 6 – 1997) về tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có một nhận định quan trọng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Đảng đã “từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đặt vấn đề tiếp tục “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX của Đảng (tháng 1 – 2004) khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đó là một hệ thống phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một vấn đề rất mới ở Việt Nam, nên nghị quyết của Đảng cũng chỉ phác thảo ra những hướng chung nhất về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa có giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, vừa phải thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam.

Tiếp nối những thành công của Đại hội Đảng lần thứ X được tổ chức từ 18 đến 25 tháng 4 năm 2006, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, cải cách tư pháp và các hoạt động tư pháp được xem là một trong những hoạt động quan trọng được quan tâm hàng đầu hiện nay. Bài viết sau đây sẽ nhìn nhận lại hệ thống quan điểm của Đảng về hoàn thiện các hoạt động tư pháp qua các thời kỳ đáp ứng nhu cầu xây dựng văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI sắp diễn ra.

Thứ nhất, từ Đại hội Đảng VI (1986) đến Đại hội Đảng VII (1991). Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tập trung vào lĩnh vực kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không phải bằng đạo lý, pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng. (more…)

Tìm hiểu Quyền được chết qua một số vụ án

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang*


“Cái chết êm ả” (euthanasia/mercy killing) vốn không phải là vấn đề mới ở một số nước phương Tây. Khi nhắc đến thuật ngữ này, giới khoa học thường đưa kèm những thuật ngữ khác như: quyền được chết, Luật An tử, tự tử trợ giúp,… Nhìn chung, từ trước đến nay trên thế giới đã có nhiều vụ án liên quan đến quyền được chết với nhiều trường hợp rất đa dạng. Điều đó đã thể hiện rằng bản thân cái chết êm ả chứa đựng trong nó nhiều vấn đề rất phức tạp và chưa lí giải hoặc chưa định hình được. Bài viết sau đây sẽ phân tích một số vụ án liên quan đến quyền được chết với những mức độ và phạm vi khác nhau.

1. Một số vụ án liên quan đến “cái chết êm ả” trên thế giới

1.1. Vụ Terri Schiavo – Mỹ[1]

Vụ này đã kéo cả Tòa án tối cao Bang Florida, tòa án Liên Bang Mỹ và cả Quốc hội Mỹ vào cuộc. Ngày 25/2/1990, Terri Schiavo (lúc đó 26 tuổi) bị ngất xỉu tại nhà của mình gây ra bởi điều được các bác sĩ cho là tình trạng mất quân bằng chất potassium trong thân thể. Chồng của nạn nhân cho rằng người vợ của mình tham ăn quá độ đến bị thiếu hụt chất potassium gây ra tình trạng hoại tim. Dưỡng khí cho não bộ bị tắc nghẽn 5 phút đồng hồ, làm cho não bộ vĩnh viễn bị hư hại. Tòa phán quyết là cô bị bất lực nên chồng của cô được chỉ định làm giám hộ viên cho cô theo pháp lý. Đến năm 1992, bồi thẩm đoàn ở Hạt Pinellas, Florida, đã quyết định ban cho vụ của cô 1 triệu USD vì vấn đề mạo trị bệnh tình của cô. Trong đó, 7 trăm ngàn được đặt trong quĩ ký thác hầu lo cho việc chăm sóc cho cô, còn 3 trăm ngàn giành riêng cho chồng của cô Tháng 2/1993, cha mẹ của cô là ông bà Schindler Bob và Mary tranh cãi với chồng của cô là Michael Schiavo và bắt đầu sắp xếp việc viếng thăm cô vào những ngày khác nhau. Gia đình cha mẹ cô sau đó đã cố gắng nhưng thất bại trong việc loại trừ việc người chồng này giữ vai trò làm giám hộ pháp lý cho người con gái ông bà. Đến năm 1998, chồng của cô nộp đơn xin tòa loại bỏ ống dinh dưỡng của vợ mình đi, và đã tiêu xài số tiền 700.000 USD của cô cho vấn đề này, một số tiền bởi thế chỉ còn lại 50.000 USD.

(more…)