Archive for Tháng Mười Hai 2010

Biện pháp xử lý hành chính khác

Tháng Mười Hai 30, 2010

Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam:

HỘI THẢO HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC

Thực hiện Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2010, Bộ Tư pháp được Chính phủ giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng Luật xử lý vi phạm hành chính để Chính phủ trình Quốc hội xem xét thông qua. Với sự hỗ trợ của Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền ở Việt Nam”, trong 02 ngày 13, 14/12/2010, Vụ Pháp luật Hình sự – Hành chính (Bộ Tư pháp) đã tổ chức Hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính khác” tại Hà Nội.

Hội thảo được tổ chức trên cơ sở tiếp nối một Hội thảo khác đã được Bộ Tư pháp tổ chức tại TP. Hạ Long (Quảng Ninh) vào tháng 7/2010, với sự trợ giúp của UNICEF. Cũng giống như Hội thảo tại Hạ Long, Hội thảo lần này thể hiện tinh thần “thống nhất hành động” của Liên hợp quốc, với sự tham gia của tất cả các cơ quan Liên hợp quốc có hợp tác với Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính. Điều này giúp đảm bảo một kênh đối thoại hiệu quả và thống nhất giữa Chính phủ và Liên hợp quốc. Đến dự Hội thảo có sự tham gia của: PGS.TS. Hoàng Thế Liên – Thứ trưởng thường trực Bộ Tư pháp, bà Setsuko Yamazaki – Giám đốc UNDP tại Việt Nam, GS.TS. Lê Hồng Hạnh – Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý, bà Đặng Hoàng Oanh – Quản đốc Dự án 58492, các chuyên gia quốc tế, lãnh đạo Vụ Pháp luật Hình sự – Hành chính cùng các chuyên gia đến từ các cơ quan có liên quan của Việt Nam.

(more…)

Advertisements

Giới thiệu chung về Kinh tế học Pháp luật

Tháng Mười Hai 9, 2010

Kinh tế học pháp luật (Law and Economics) được định hình như một trường phái lý luận pháp luật[1] từ khoảng giữa thế kỷ 20.[2] Tại thời điểm đó, trường phái này được coi là hướng nghiên cứu pháp luật mới theo đó, các nhà nghiên cứu dùng tri thức, phương pháp của khoa kinh tế học để phân tích quá trình hình thành, phát triển của pháp luật và thiết chế pháp luật, đánh giá, lượng hóa tương tác giữa pháp luật với xã hội.[3] Trường phái này gắn bó với nhiều nhà kinh tế có tên tuổi đã dành nhiều thời gian cho hoạt động nghiên cứu các vấn đề pháp lý trong đó phải kể đến Ronald Coase (người đã được giải thưởng Nobel năm 1991)[4] và Gary S. Becker (người đạt giải thưởng Nobel năm 1992).[5]

Nếu như ở giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu thuộc phái này chỉ sử dụng lý thuyết kinh tế để nghiên cứu các quy phạm pháp luật điều chỉnh những hoạt động mang tính thị trường như pháp luật cạnh tranh, thuế, quản trị doanh nghiệp, thì từ thập kỷ 1970, với sự đi tiên phong của giáo sư Richard Posner (Đại học Chicago) và nhiều đồng nghiệp khác[6], nghiên cứu pháp luật từ góc độ kinh tế đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác thậm chí cả lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hiến pháp, luật hành chính, luật hôn nhân, luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,… Trường phái này đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của giới nghiên cứu, học thuật, giảng dạy ở Hoa Kỳ sau đó lan nhanh sang giới pháp lý ở một số quốc gia ở châu Mỹ (Canada, châu Mỹ Latin), châu Âu (Anh, Ý, Đức,…). Một số quốc gia châu Á cũng đã bước đầu tiếp cận và quan tâm tới trường phái này. Có thể nói, lợi ích rõ nét nhất mà trường phái kinh tế học pháp luật mang lại cho giới luật gia chính là việc thúc đẩy hình thành một lối tư duy phân tích pháp luật mới – thứ tư duy dung hợp cả tư duy pháp lý với tư duy kinh tế (mà chúng tôi tạm gọi là tư duy pháp lý kinh tế). Tư duy pháp lý kinh tế có nội dung rộng và sâu hơn tư duy pháp lý thông thường. Tư duy pháp lý thông thường chủ yếu đánh giá, nhìn nhận hành vi, ứng xử của một chủ thể trong xã hội từ góc độ hợp pháp hay không hợp pháp, được phép hay không được phép. Tư duy pháp lý kinh tế không chỉ dừng ở đó mà còn đặt ra yêu cầu đánh giá tính hiệu quả của hành vi ứng xử ấy. Ở các nước phát triển, tư duy pháp lý kinh tế đang thâm nhập vào nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau từ xây dựng đến tổ chức thực thi. Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, tư duy pháp lý kinh tế đặt ra yêu cầu việc xây dựng chính sách, pháp luật phải trải qua quy trình đánh giá tác động kinh tế, xã hội để chứng minh tính hiệu quả về kinh tế-xã hội của chính sách, pháp luật ấy. Trong lĩnh vực áp dụng, thực thi pháp luật, tư duy pháp lý kinh tế đòi hỏi việc thiết kế cơ chế thực thi pháp luật phải đáp ứng yêu cầu đạt được mục đích đề ra cao nhất nhưng với mức chi phí cho xã hội là thấp nhất. Chính vì sự khác biệt này, có thể nói rằng, nền pháp luật được xây dựng trên cơ sở tư duy pháp lý kinh tế sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về phát triển kinh tế-xã hội.

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TNSP VÀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH NÀY DƯỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

Tháng Mười Hai 9, 2010
Ths. Trần Thị Quang Hồng* Trương Hồng Quang**

(Bài đăng trên Tạp chí NN & PL số tháng 12/2010)

1. Lịch sử hình thành chế định trách nhiệm sản phẩm

Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ và sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia ASEAN). Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm đã được phát triển để thúc đẩy sự an toàn và bồi thường thích đáng trong các trường hợp một bên bị thương tích hoặc tổn thất từ việc sử dụng sản phẩm. Các nguyên tắc được áp dụng để đạt được mục tiêu này được sử dụng khá linh hoạt, được phát triển để cân bằng lợi ích của người sản xuất và người cung ứng với việc bảo vệ quyền lợi cho những người có thể bị ảnh hưởng từ việc sử dụng sản phẩm của họ. Từ một quan điểm và chính sách, pháp luật trách nhiệm sản phẩm đề cao trách nhiệm đưa ra những lợi ích để tích luỹ cho sự phát triển của xã hội, sản xuất, mua bán và sử dụng các sản phẩm bằng cách tạo ra các ưu đãi để sản xuất những sản phẩm không có khuyết tật hoặc đưa ra những cảnh báo phù hợp về bất kỳ sự nguy hiểm liên quan đến việc sử dụng sản phẩm. Nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến việc tăng nguy cơ và mức độ trách nhiệm tiểm ẩn của những sản phẩm trên thị trường đó là việc tăng tính phức tạp của sản phẩm, các quy định của chính phủ can thiệp rộng hơn với những thủ tục được ban hành mới…

Ở góc độ lịch sử, quá trình hình thành của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm về căn bản được đánh đồng với quá trình suy vong của học thuyết về tính tất yếu của hợp đồng (The doctrine of Privity)[1]. Theo học thuyết về tính tất yếu của hợp đồng, không thể trao quyền hay áp đặt nghĩa vụ theo hợp đồng cho bất kỳ chủ thể nào không phải là một bên của hợp đồng đó. Tính tất yếu của hợp đồng đưa đến một cách hiểu là chỉ có các bên trong quan hệ hợp đồng mới có thể kiện để yêu cầu thực thi quyền hay đòi bồi thường thiệt hại cho mình.

Với quan niệm của học thuyết tính tất yếu của hợp đồng thì một người bị thiệt hại chỉ có thể kiện một người có hành vi bất cẩn nếu người đó mà một bên trong giao dịch với người bị thiệt hại. Như vậy, nghĩa vụ của một người phải có sự cẩn trọng hợp lý chỉ xuất phát từ hợp đồng và chỉ người nào cùng tham gia quan hệ hợp đồng đó mới có thể kiện vì sự vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng này. Điều đó cũng có nghĩa là khi một nhà sản xuất bất cẩn bán một sản phẩm cho một người kinh doanh bán lẻ và người kinh doanh bán lẻ đó lại bán sản phẩm cho khách hàng thì người sản xuất không phải chịu trách nhiệm gì cả. Khách hàng khi đó không có bất kỳ biện pháp nào để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại vì không phải người bán lẻ mà chính nhà sản xuất mới là người gây ra thiệt hại.

(more…)