Archive for Tháng Tư 2011

Sách Sức nước ngàn năm

Tháng Tư 23, 2011

Năm 2008, Quang có cùng các bạn sinh viên ĐH Luật Hà Nội, Khoa Luật – ĐHQG HN tham gia dự án viết sách của đề án “Sức nước ngàn năm”. Đây là một kỉ niệm đáng nhớ của cuộc đời sinh viên của mình. Việc viết sách tình huống pháp luật cũng thực sự khá thú vị và khá khó 😀

Đề án “Sức nước ngàn năm” được triển khai nhằm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng, có hệ thống, bằng một phương pháp mới dễ hiểu, dễ nhớ, giúp người dân vận dụng pháp luật dễ dàng vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cuộc sống hằng ngày, từ đó góp phần nâng cao dân trí và tạo động lực mới thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Các sản phẩm của Đề án: Xuất bản cuốn sách “Cẩm nang pháp luật trong cuộc sống hằng ngày” và phát hành rộng rãi trong tủ sách xã, phường, tủ sách hộ gia đình, làm cẩm nang tra cứu pháp luật cho cán bộ và người dân ở cơ sở; trong hệ thống thư viện nhà trường làm tài liệu tham khảo cho cán bộ, giáo viên, các nhà quản lý giáo dục và học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tổ chức trò chơi tìm hiểu pháp luật “Sức nước ngàn năm” trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam và trên sóng phát thanh để tạo ra sân chơi tìm hiểu pháp luật hấp dẫn, dành cho lãnh đạo chủ chốt của các xã, phường trong cả nước, thể hiện tài năng trong việc quản lý ở địa phương mình, từ đó nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở và trình độ hiểu biết pháp luật trong nhân dân. Hình thành đường dây nóng tư vấn hỗ trợ, giải đáp pháp luật cho người dân qua số điện thoại 1900599946 mang tên “Sức nước ngàn năm”. Xây dựng trang báo điện tử pháp luật sucnuocngannam.vn nhằm cung cấp đầy đủ và phong phú những kiến thức pháp luật quan trọng và hấp dẫn tới nhân dân khi có nhu cầu tìm hiểu pháp luật. Xây dựng chuyên mục “Sức nước ngàn năm” trên các báo viết và báo điện tử, tạo một hình thức tìm hiểu pháp luật mới, hấp dẫn, bổ ích cho các tầng lớp nhân dân tham gia.

Ra đời trên cơ sở nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân và đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vào cuộc sống, cuốn sách “Cẩm nang pháp luật trong cuộc sống hằng ngày” – sản phẩm đầu tiên của Đề án “Sức nước ngàn năm” là phương pháp chuyển tải pháp luật dễ hiểu, dễ nhớ. Nội dung cuốn sách gồm các văn bản luật, pháp lệnh, nghị định hướng dẫn thi hành với những tình huống pháp luật sinh động, dễ hiểu, được tập hợp và phân chia thành bốn lĩnh vực tương ứng với bốn phần của cuốn sách: Dân sinh; Y tế, Giáo dục, Văn hóa; An ninh-Trật tự; Tư pháp-Chính sách xã hội. Cuốn sách là kết quả quá trình khảo sát và nghiên cứu thực tế những vấn đề pháp luật cơ bản liên quan đến đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân và được hoàn thiện từ những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, nhà quản lý và các chuyên gia pháp luật. Những vấn đề pháp luật được giới thiệu trong cuốn sách là những quy định pháp luật có tính cơ bản, quan trọng, thiết thực nhất điều chỉnh trực tiếp các mối quan hệ trong đời sống xã hội của người dân ở cơ sở. Nội dung các văn bản pháp luật được chuyển tải dưới dạng các tình huống giả định và có một phương án đúng để người dân dễ nhận biết, dễ đọc, dễ nhớ và vận dụng vào trong cuộc sống hằng ngày.

Sách được xuất bản vào tháng 8 năm 2009./.

Advertisements

Sách Tìm hiểu Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội

Tháng Tư 23, 2011

Sách Tìm hiểu Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2001, 2010.

Tác giả: ThS. Dương Bạch Long, LG. Trương Hồng Quang.

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, tháng 3/2011.

Hỏi đáp những vấn đề cơ bản nhất về bầu cử ĐBQH, phục vụ cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIII sắp đến.

Pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học

Tháng Tư 22, 2011

Bài viết về Thực trạng hệ thống pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam – phương hướng hoàn thiện, sẽ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.

Trước khi Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2008 được ban hành, vấn đề bảo tồn ĐDSH được quy định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó pháp luật môi trường đề cập đến bảo tồn ĐDSH ở mức độ bao trùm, khái quát nhất. Những nguyên tắc, những quy định chung về bảo tồn ĐDSH được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển các quy định cụ thể về ĐDSH[1]. Vấn đề bảo vệ ĐDSH thời kỳ này được quy định tản mạn ở rất nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, quản lý và bảo hộ giống cây trồng và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nội dung bảo vệ ĐDSH chỉ là một nội dung nhỏ trong những văn bản đó và mỗi văn bản tiếp cận vấn đề bảo vệ ĐDSH theo một góc độ khác nhau, do đó có thể thấy các quy định về bảo vệ ĐDSH còn tản mạn và hiệu quả điều chỉnh trên thực tế chưa cao[2]. Với những đòi hỏi về mặt lý luận cũng như thực tiễn như vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ĐDSH, luật hóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện các cam kết quốc tế về ĐDSH phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Luật ĐDSH được Quốc hội nước ta ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã tạo nên một hành lang pháp lý thống nhất điều chỉnh việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, đáp ứng được nhu cầu cấp bách của hoạt động bảo tồn ĐDSH hiện hay và trong tương lai. Luật đã hoàn thành nhiệm vụ pháp điển hóa các quy định về bảo vệ ĐDSH được đề cập rải rác trong nhiều lĩnh vực pháp lý thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập, hỗ trợ và tạo thế cân bằng với lĩnh vực pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường[3]. Tuy nhiên hệ thống pháp luật về ĐDSH hiện nay vẫn đang bộc lộ những bất cập nhất định về mặt nội dung cũng như thực tế thi hành cho nên việc đánh giá toàn diện để hoàn thiện là vấn đề rất quan trọng.


* Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[1] Điều này bắt nguồn từ tính thống nhất nội tại của hệ thống pháp luật về môi trường. Sinh vật, hệ sinh thái là những thành tố cơ bản của môi trường, do vậy, pháp luật về ĐDSH là một bộ phận không thể thiếu cùa pháp luật môi trường. Các mảng pháp luật khác chỉ đề cập đến các mảng riêng biệt của ĐDSH. Xem thêm: Nguyễn Văn Tài, Pháp luật về ĐDSH: Thực trạng và những tồn tại trước khi có Luật ĐDSH, tlđd, tr. 6.

[2] Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29-11-2005: Chương V quy định về Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên điều chỉnh các nội dung sau: quy định việc điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ ĐDSH; bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trường; xây dựng thói quen tiêu dùng thân thiện với môi trường. Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn có các đạo luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành tố môi trường (còn gọi là các đạo luật, pháp lệnh về tài nguyên). Cụ thể, đó là các đạo luật, pháp lệnh sau: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Pháp lệnh Giống cây trồng số 15/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/03/2004; Pháp lệnh Giống vật nuôi số 16/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/03/2004; Pháp lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/04/2004; Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 36/2001/PL-UBTVQH10 ngày 25/08/2001; Bộ luật hình sự (Điều 19, 191);… Bên cạnh đó còn hệ thống các văn bản dưới Luật.

[3] Vũ Thu Hạnh, Trần Thị Hương Trang, Mức độ phù hợp của Luật Đa dạng sinh học với các văn bản có liên quan, Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn.

Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Việt Nam

Tháng Tư 22, 2011

Dưới đây là kết quả nghiên cứu chính của đề tài NCKH: “NGHIÊN CỨU, SO SÁNH CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC  TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM” do TS. Đinh Thị Mai Phương (Viện Khoa học Pháp lý) làm Chủ nhiệm, nhóm tham gia thực hiện bao gồm:

1.                           NCS. Nguyễn Văn Cương – Phó trưởng ban, Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp, Thư ký.

2.                           ThS. Trần Thị Quang Hồng – Phó trưởng ban, Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

3.                           CN. Lê Thị Hoàng Thanh – Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

4.                           CN. Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

5.                           NCS. Chu Thị Hoa – Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

6.                           CN. Phạm Văn Bằng, Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

7.                           CN. Nguyễn Hoàng Nhật Thi, Cộng tác viên.

8.                           Chuyên gia Triệu Thị Hoàng Mai, Cộng tác viên.

9.                           Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp

10.                      Công ty Luật Lê & Lê, Hà Nội.

(more…)

Trường phái Kinh tế học pháp luật và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tháng Tư 22, 2011

Tác giả: TS. Nguyễn Văn Cương, Trương Hồng Quang. Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, VPQH, số 6, tháng 3/2012. Dưới đây là một phần của nghiên cứu:

Hình thành và phát triển kinh tế học pháp luật tại Việt Nam trong tương lai

Có thể thấy, sự nghiệp cải cách, đổi mới ở Việt Nam, nhất là công cuộc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp ở nước ta là môi trường thuận lợi, thiết thực để xây dựng và ứng dụng tư duy pháp lý mới – tư duy pháp lý kinh tế. Chính vì thế, đặt ra việc xây dựng và ứng dụng trường phái kinh tế học pháp luật ở Việt Nam trong lúc này là phù hợp. Tuy nhiên, xây dựng và ứng dụng trường phái kinh tế học pháp luật ở Việt Nam cũng là vấn đề không hoàn toàn đơn giản. Chúng tôi cho rằng, trong giai đoạn tới đây, Việt Nam cần tập trung thực hiện:

(more…)

TỔNG QUAN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÀNH TƯ PHÁP THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Tháng Tư 22, 2011

1. Đánh giá chung chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp

Thứ nhất, hiện nay Bộ Tư pháp đã được giao nhiều nhiệm vụ mới, mở rộng đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tư pháp. Những năm qua, đặc biệt là giai đoạn sau khi ban hành Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 và nhất là Nghị định số 93/2008/NĐ -CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp thì nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được ban hành như Luật Tương trợ tư pháp, Luật luật sư, Luật Công chứng, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Thi hành án dân sự, Luật nuôi con nuôi, Luật Bồi thường nhà nước, Nghị định số 158/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và đăng ký hộ tịch,… Nghị định 93/2008/NĐ-CP đã cụ thể hóa đường lối, quan điểm chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp, bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 và Nghị định số 178/2007/NĐ-CP về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và các quy định pháp luật hiện hành và xác định rõ chức năng, đồng thời mở rộng và tăng cường nhiều nhiệm vụ đối với Bộ Tư pháp trước yêu cầu thực tiễn của đời sống kinh tế xã hội đặt ra. So với các giai đoạn trước, theo quy định hiện hành, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp có những điểm mới như sau:
– Chức năng mới: giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thi hành pháp luật (khoản 6, điều 2, Nghị định số 93/2008/NĐ-CP). Đây là cơ hội, điều kiện đản bảo để Bộ Tư pháp tham mưu, giúp Chính phủ một cách đầy đủ và toàn diện về công tác pháp luật bao gồm từ xây dựng, thẩm định, kiểm tra đến theo dõi thi hành pháp luật. Theo đó, với chức năng này, Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ phải thực hiện, đó là: theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương trong công tác theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương.

(more…)

Góp ý Giải thưởng SV Nghiên cứu khoa học

Tháng Tư 11, 2011

Thứ nhất, về phạm vi đối tượng tham gia của cuộc thi.

Tôi tán thành với việc đổi tên Giải thưởng và mở rộng phạm vi đối tượng dự thi. Tuy nhiên, tôi cho rằng cần cân nhắc lại một số vấn đề như sau:

– Không nên chỉ giới hạn đối tượng ở Giảng viên trẻ mà nên có thêm cả đối tượng là các nghiên cứu viên trẻ ở các Viện nghiên cứu thuộc các Bộ, Ngành. Thực tế từ trước đến nay, người hướng dẫn cho sinh viên thực hiện đề tài tham gia cuộc thi SV NCKH thường là các Giảng viên của cơ sở đào tạo mà SV theo học, nhưng bên cạnh đó cũng có những cán bộ hướng dẫn công tác ở các đơn vị ngoài trường ĐH (các Viện, các cơ quan Nhà nước). Tuy thể lệ của cuộc thi không cấm người không phải là GIảng viên tham gia hướng dẫn nhưng thực tế các Công văn gửi về các trường ĐH luôn sử dụng cụm từ “giảng viên hướng dẫn”. Bản thân tôi cũng là một nghiên cứu viên, mới ra trường năm 2009 nhưng đã tham gia hướng dẫn SV thực hiện đề tài thành công. Việc mở rộng đối tượng tham dự là các nghiên cứu viên trẻ ở Các Viện sẽ góp phần làm phong phú thêm cho cuộc thi. Cán bộ hướng dẫn có thể là người không phải là Giảng viên thì tại sao đối tượng tham gia cuộc thi chỉ giới hạn ở đối tượng Giảng viên trẻ của các trường Đại học? Vì vậy, tôi đề nghị nên quy định phạm vi chung là “các cán bộ trẻ (công tác tại các Trường Đại học, các Viện Nghiên cứu)”. Bên cạnh đó, tôi cũng tán thành việc tổ chức Giải thưởng cho cán bộ trẻ định kì 2 năm một lần.

– Thể lệ của cuộc thi tài năng khoa học trẻ dành cho đối tượng là sinh viên nên có những thay đổi cho phù hợp hơn nữa. Ví dụ như, nên có quy định cụ thể về tiêu chuẩn người hướng dẫn cho sinh viên thực hiện đề tài (ví dụ như không nhất thiết phải có học vị ThS trở lên để động viên các cán bộ trẻ tham gia nghiên cứu, hướng dẫn cho Sinh viên,…), các công văn gửi về cho các cơ sở đào tạo nên sử dụng một thuật ngữ chung thống nhất là “cán bộ hướng dẫn” thay cho cụm từ “giảng viên hướng dẫn”.

Thứ hai, về thời gian tổ chức cuộc thi hàng năm. Hiện nay thường cuộc thi được phát động từ tháng 3, 4 năm nay và trao giải vào tháng 1 năm sau. Tuy nhiên, thực tế thì các trường đã phải nộp đề tài của sinh viên về Bộ từ đầu tháng 8, nên thực sự sinh viên có rất ít thời gian để thực hiện đề tài. Vì vậy, tôi nghĩ Bộ nên thay đổi thời gian như sau: tổ chức vào đầu năm học (tháng 8,9) và trao giải vào cuối năm học (tháng 4,5 năm sau) để sinh viên có thể có thời gian thực hiện đề tài có chất lượng và phù hợp với thực tế hiện nay ở một số trường.

Trên đây là một số góp ý về Giải thưởng Sinh viên NCKH của tôi. Xin chúc cho Giải thửong này ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm của Sinh viên các cơ sở đào tạo hơn nữa.