Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Việt Nam

Dưới đây là kết quả nghiên cứu chính của đề tài NCKH: “NGHIÊN CỨU, SO SÁNH CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC  TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM” do TS. Đinh Thị Mai Phương (Viện Khoa học Pháp lý) làm Chủ nhiệm, nhóm tham gia thực hiện bao gồm:

1.                           NCS. Nguyễn Văn Cương – Phó trưởng ban, Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp, Thư ký.

2.                           ThS. Trần Thị Quang Hồng – Phó trưởng ban, Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

3.                           CN. Lê Thị Hoàng Thanh – Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

4.                           CN. Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

5.                           NCS. Chu Thị Hoa – Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

6.                           CN. Phạm Văn Bằng, Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

7.                           CN. Nguyễn Hoàng Nhật Thi, Cộng tác viên.

8.                           Chuyên gia Triệu Thị Hoàng Mai, Cộng tác viên.

9.                           Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp

10.                      Công ty Luật Lê & Lê, Hà Nội.

Phần thứ nhất. Những thông tin chung về đề tài

I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) và ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã đánh dấu những bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Một trong những thách thức mà Việt Nam phải vượt qua chính là khả năng nỗ lực nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch và đồng bộ, đồng thời, tương thích và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ là một vấn đề thời sự không những thu hút được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế mà việc xây dựng và tiếp tục hoàn thiện nó vẫn đang được đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu trong tiến trình lập pháp của Việt Nam trong thời gian tới nhằm đáp ứng được những yêu cầu của Hiệp định liên quan đến các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ (TRIPs) của Tổ chức Thương mại Thế giới.

2. Thực tế thời gian qua đã cho thấy, việc thực hiện các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ còn nhiều bất cập. Số lượng và mức độ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra ngày càng nhiều, mức độ ngày càng lớn hơn, thiệt hại gây ra cho chủ sở hữu quyền và cho xã hội là rất lớn. Trong khi đó, việc thực thi các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả cao. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thường được áp dụng trên thực tế vẫn là biện pháp hành chính. Việc áp dụng các biện pháp dân sự thông qua thủ tục khởi kiện ra Tòa án, đặc biệt là yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra, để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm hầu như rất ít được thực hiện. Một trong những lý do dẫn đến thực trạng này là hiệu quả của việc khởi kiện ra toà án chưa cao, chưa thực sự đem lại lợi ích thiết thực cho chủ thể bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Biện pháp dân sự quan trọng nhất mà các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ ở các nước phát triển thường hướng đến khi khởi kiện ra Tòa án là yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ kiện về sở hữu trí tuệ tại Tòa án Việt Nam trong những năm qua lại cho thấy rằng việc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra chưa được Tòa án giải quyết thỏa đáng, mức bồi thường thiệt hại chưa cao, thậm chí chưa bù đắp được chi phí khiếu kiện của bên bị xâm phạm (ví dụ chi phí giám định, chi phí luật sư, thám tử…). Nhiều thương nhân, doanh nghiệp vi phạm quyền sở hữu trí tuệ chỉ bị xử phạt hành chính, sau khi bị xử phạt lại vẫn vi phạm tiếp vì các chế tài đối với họ quá nhỏ so với những lợi nhuận mà họ thu được. Trong khi chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải chịu rất nhiều thiệt hại cả về lợi nhuận lẫn danh tiếng.

Những thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, như: các thẩm phán Việt Nam chưa được đào tạo chuyên sâu và chưa có nhiều kinh nghiệm giải quyết các vụ án xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; thuộc tính vô hình của tài sản trí tuệ dẫn đến sự khó khăn trong giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ; hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ  chưa thực sự đầy đủ; Việt Nam chưa có những án lệ, hướng dẫn cụ thể trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.

3. Việc bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ còn là một vấn đề hết sức mới mẻ và phức tạp đối với chúng ta. Từ cơ sở pháp lý cụ thể, từ cách xác định thiệt hại như thế nào cho đến các cơ chế hỗ trợ nhằm đảm bảo việc thực thi quyền đều còn rất nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn cũng như chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền cho các chủ thể bị xâm phạm quyền. Việt Nam đã xây dựng một luật riêng về sở hữu trí tuệ, đồng thời cũng xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành luật này, đặc biệt là về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện cho thấy vẫn còn rất nhiều bất cập. Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, ngày 19 tháng 6 năm 2009 Quốc hội khóa 12 đã ban hành Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của luật Sở hữu trí tuệ, và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành cũng sẽ tiếp tục được hoàn thiện cho phù hợp. Đây là một vấn đề rất khó và phức tạp mà để hoàn thiện được chúng ta cần phải có những công trình nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đồng thời khả năng tìm hiểu và học tập kinh nghiệm xây dựng pháp luật và cơ chế thực thi trong lĩnh vực này của các quốc gia phát triển, có nền lập pháp tiêu biểu trên thế giới là hết sức thiết thực.

Vì những lý do trên, nhóm nghiên cứu cho rằng, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, so sánh chế độ bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số nước trên thế giới và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam” với khả năng tiếp cận một cách tập trung và toàn diện cơ chế bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số quốc gia trên thế giới trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết và quan trọng nhằm đưa ra bài học kinh nghiệm cũng như các kiến nghị có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

 

II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Cho đến nay, ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình khoa học được tiến hành nhằm nghiên cứu về pháp luật sở hữu trí tuệ dưới nhiều giác độ khác nhau. Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:

– Pháp luật về sở hữu trí tuệ thực trạng và xu hướng phát triển trong những năm đầu của thế kỷ 21 – Đề tài cấp Bộ do Bộ Tư pháp – Viện Khoa học Pháp lý thực hiện vào tháng 4 năm 2002.

– Đề tài Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp được thực hiện năm 2002 trên cơ sở sự hợp tác giữa Viện khoa học Pháp lý – Bộ tư pháp và Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật bản (Jica).

– Đề tài nghiên cứu khoa học trong điểm cấp Đại học “Hoàn thiện cơ chế thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do Đại học Quốc gia thực hiện năm 2001,…

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới chỉ đề cập đến việc phân tích, đánh giá thực trạng hoặc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam mà chưa có đề tài nào đi sâu và nghiên cứu một cách tập trung và toàn diện vấn đề bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ dưới giác độ luật so sánh nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định của luật Việt nam về lĩnh vực này.

III. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài có hai mục tiêu nghiên cứu chính như sau:

– Nghiên cứu so sánh chế độ bồi thường thiệt hai trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số quốc gia, khu vực tiêu biểu như: Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp và các quy định liên quan đến chế độ bồi thường thiệt hại trong một số Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ.

– Trên cơ sở các kết quả đạt được qua nghiên cứu chế định bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số nước và các điều ước quốc tế, sẽ đưa ra các kiến nghị có giá trị trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

            IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Với việc nghiên cứu chế định bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (do các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ), đề tài sẽ làm sáng tỏ các vấn đề khoa học sau đây:

– Nghiên cứu so sánh cơ sở, điều kiện chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số quốc gia và Điều ước quốc tế có liên quan;

– Quy định pháp luật về xác định mức bồi thường trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số quốc gia và một số điều ước quốc tế và thực tiễn thi hành các quy định này trong thực tế;

– Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và đưa ra những kiến nghị có giá trị khoa học, khả thi và phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam nhằm hoàn thiện chế định bôi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Phạm vi nghiên cứu: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo pháp luật của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản), Điều ước quốc tế có liên quan và của Việt Nam.

Để thực hiện được mục tiêu và yêu cầu của đề tài, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành nghiên cứu thông qua các phương pháp nghiên cứu chính sau: (i) Phương pháp so sánh luật; (ii) Phương pháp phân tích, tổng hợp; (iii) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

VI. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Chương I. Một số vấn đề lý luận về chế độ bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Chương II. Pháp luật về chế độ bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới.

Chương III. Thực trạng pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

 Phần thứ hai. HỆ THỐNG CÁC QUAN ĐIỂM CỦA ĐỀ TÀI

I. QUAN ĐIỂM VỀ LÝ LUẬN

Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quan niệm pháp lý của Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới đều được hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại. Hơn nữa, bồi thường thiệt hại là một biện pháp dân sự quan trọng và hữu hiệu được áp dụng để xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ” cũng được hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, nhóm nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ – tức là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – không đi sâu vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trong các quan hệ hợp đồng thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, vai trò của các quy định về bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: là bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật bảo hộ sở hữu trí tuệ và là cơ sở pháp lý xác định phạm vi, mức độ cam kết bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng bảo hộ sở hữu trí tuệ của một quốc gia.

Thứ ba, quan điểm về các yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại một số quốc gia trên thế giới (phân tích trong sự so sánh, đối chiếu):

Nguyên tắc xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các nước trên thế giới hầu hết có sự kế thừa sâu sắc từ Luật La mã cổ đại (Luật XII Bảng) với các yếu tố cấu thành: Sự vi phạm xuất hiện do thực hiện một hành vi bên ngoài nào đó; Sự vi phạm phải để lại những hậu quả nhất định; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; Người vi phạm biết hoặc có thể biết về hậu quả của hành vi do mình gây ra. Nói một cách khác, người vi phạm phải chịu trách nhiệm do lỗi gây ra. Tuy không rõ ràng như các yếu tố khác (trong pháp luật một số nước), nhưng lỗi cũng được hầu hết pháp luật các nước thừa nhận như là điều kiện bắt buộc hoặc cần xem xét khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những trường hợp thông thường. Những trường hợp ngoại lệ để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không cần lỗi cũng được quy định tương đối phổ biến trong hầu hết pháp luật các nước dưới hình thức lỗi suy đoán hoặc trách nhiệm do luật định. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cho thấy các quy định của các quốc gia trên thế giới đều cho thấy khả năng quy trách nhiệm khách quan đối với những người có hành vi xâm phạm như luật định không phụ thuộc vào yếu tố lỗi. Điều này chủ yếu xuất phát từ những đặc tính của quyền sở hữu trí tuệ, cũng như mục đích và khả năng bảo hộ các quyền này trên thực tiễn. Và do đó, nếu lỗi được coi là yếu tố bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp thông thường thì trong pháp luật về sở hữu trí tuệ, lỗi không phải là yếu tố bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể có hành vi xâm phạm (trừ các trường hợp xâm phạm gián tiếp quyền sở hữu trí tuệ phải đòi hỏi có lỗi cố ý mới làm phát sinh trách nhiệm). Điều này nhìn chung phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động bảo hộ các quyền đối với tài sản trí tuệ và cũng tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho các chủ thể dễ dàng hơn trong quá trình phát hiện và tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chính mình. Tuy nhiên, việc phân loại lỗi lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định thiệt hại và mức bồi thường đối với các hành vi xâm phạm.

II. QUAN ĐIỂM VỀ THỰC TIỄN

Thứ nhất, về thực tiễn pháp luật thế giới.

Về nội dung này đề tài tập trung đi sâu phân tích nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại, những nội dung cơ bản cần xác định trong xác định thiệt hại (tổn thất về tài sản, giảm sút lợi nhuận của nguyên đơn, nghĩa vụ chứng minh, chi phí ngăn chặn thiệt hại,…) khi bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số quốc gia trên thế giới (Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản). Việc phân tích các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của sở hữu trí tuệ, điểm nhấn là các quy định về quyền sở hữu công nghiệp (một trong những quyền bị xâm phạm nhiều nhất hiện nay) và rút ra những kết luận như sau:

1. Về những nét tương đồng của pháp luật các quốc gia về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

– Về nguồn của pháp luật. Đa số các nước được nghiên cứu đều sử dụng một nguồn luật quan trọng là án lệ trong xét xử các vụ án liên quan đến bồi thường thiệt hại. Đây là nguồn luật cơ bản và thiết yếu bên cạnh hệ thống pháp luật hiện hành của các quốc gia này. Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia khác như Trung Quốc – một quốc gia Châu Á vẫn chưa xem án lệ là nguồn luật cơ bản cho nên pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn là nguồn luật cơ bản nhất đối với chế định bồi thường thiệt hại.

Về nguyên tắc bồi thường.

+ Pháp luật một số nước như Liên minh Châu Âu, Pháp, Nhật Bản đều thừa nhận nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” trên quan điểm coi trách nhiệm bồi thường thiệt hại là biện pháp nhằm khôi phục lại các quan hệ xã hội bị phá vỡ chứ không nhằm mục đích trừng phạt đối với người thực hiện hành vi xâm phạm, theo đó “Sự bồi thường thiệt hại phải toàn bộ trong tất cả các trường hợp và không được vượt quá tổng số thiệt hại. Và “những thiệt hại được bồi thường đối với nạn nhân phải khiến cho nạn nhân không mất đi, cũng như không được thêm ra các lợi ích”. Bên cạnh đó, nghiên cứu các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự Trung Quốc 1986, tại Điều 117 và 118 cũng quy định rõ:“nguyên tắc cơ bản để bồi thường thiệt hại trong các vụ án dân sự là sự bồi thường mang tính bù đắp thiệt hại hơn là sự bồi thường mang tính răn đe và trừng phạt”. Trong các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Trung Quốc, nguyên tắc được thể hiện rõ nhất trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nguyên tắc bồi thường toàn bộ những thiệt hại xảy ra trên thực tế. Toà phúc thẩm Liên Bang Đức cũng đã ra tuyên bố rằng: Sẽ không có hiệu lực ở Đức đối với các phán quyết của Mỹ về phần bồi thường thiệt hại mang tính trừng phạt dân sự vì phán quyết này vi phạm trật tự công cộng của Đức.

            + Nghiên cứu pháp luật về bồi thường thiệt hại của nhiều nước trên thế giới đều cho thấy không có đề cập tới nguyên tắc bồi thường kịp thời. Thực tế, nên coi đây là một nguyên tắc tố tụng phản ánh tính kịp thời trong quá trình ra phán quyết nhằm xử lý hành vi xâm phạm và khả năng thực thi phán quyết đó một cách hữu hiệu thay vì coi đó là một nguyên tắc trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

+ Qua nghiên cứu cho thấy, pháp luật một số nước như Đức hay Nhật Bản cũng cho phép Toà án có quyền xem xét để giảm mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp hành vi xâm phạm được xác định là do lỗi vô ý nhẹ. Tuy nhiên, việc giảm mức bồi thường thiệt hại ở Đức được xem như những trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” hơn là dưới góc độ một nguyên tắc bồi thường thiệt hại như ở Việt Nam. Nguyên tắc giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại hầu như không tồn tại trong pháp luật của các nước theo đuổi quan điểm bồi thường trừng phạt mặc dù có thể thấy sự phân hoá trách nhiệm rất rõ giữa hành vi xâm phạm do cố ý và vô ý.

+ Nguyên tắc thay đổi mức bồi thường thiệt hại rất hiếm gặp trong pháp luật các nước trên thế giới.

– Về cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Nghiên cứu pháp luật của nhiều quốc gia bao gồm cả các nước theo hệ thống thông luật và dân luật cho thấy cơ sở làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được pháp luật tất cả các nước thừa nhận dựa trên ba yếu tố cơ bản: Hành vi trái pháp luật; Thiệt hại; Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

– Về các phương pháp xác định thiệt hại của các quốc gia đều có những phương pháp giống nhau. Trong đó đều dựa trên các loại chi phí cũng như mức độ bị thiệt hại lợi nhuận,…

2. Về những nét khác biệt của pháp luật các quốc gia về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Nhìn chung các quốc gia đã có những nét chung trong quá trình phát triển các học thuyết và xây dựng pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu của chương II đã cho thấy những nét khác biệt nhau nhất định.

Về nguyên tắc bồi thường trừng phạt, các quốc gia theo hệ thống án lệ, đặc biệt là Hoa Kỳ đã quy định bồi thường gấp đôi, gấp ba so với thiệt hại. Đây là quy định nhằm mục đích thể hiện tính chất trừng phạt đối với những hành vi gây ra thiệt hại và khẳng định một quan điểm xuyên suốt là bồi thường không phải chỉ để khắc phục hay bù đắp. Điều này xuất phát từ nguyên nhân pháp luật các quốc gia này có chưa có sự phân biệt giữa luật công và luật tư, do đó, pháp luật dân sự vẫn mang hơi hướng răn đe, trừng phạt của luật hình sự. Đây cũng là điểm mà các nhà lập pháp Việt Nam nên học hỏi trong quá trình hoàn thiện pháp luật.

Về cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hầu hết các quốc gia đã ghi nhận 3 căn cứ như đã nói ở trên nhưng cũng có một số quốc gia ghi nhận thêm yếu tố lỗi. Lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng để xác định mức độ thiệt hại cũng như mức bồi thường thiệt hại.

Về các phương pháp xác định thiệt hại và mức độ bồi thường tuy gần như giống nhau nhưng cũng có một số khác biệt về số lượng phương pháp tính thiệt hại, nội dung mỗi loại chi phí.

3. Nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt

– Sự hội nhập của pháp luật sở hữu trí tuệ dưới tác động của toàn cầu hóa. Sự hội nhập kinh tế đã dẫn đến nguy cơ toàn cầu hóa trên khắp thế giới. Các thiết chế kinh tế đã phát triển quy mô đến những mức độ nhất định, góp phần tác động đến các thiết chế xã hội, pháp luật, văn hóa,… Trong bối cảnh đó, sự du nhập, cấy ghép pháp luật ngày càng được diễn ra một cách phổ biến. Theo đó, pháp luật sở hữu trí tuệ cũng được lan truyền từ nước này sang nước khác, đặc biệt từ các nước phát triển lâu đời sang các nước mới hoặc kém phát triển hơn. Điều này đã dẫn đến những điểm giống nhau trong hệ thống pháp luật nói chung và bồi thường thiệt hại nói riêng.

– Triết lý nền tảng của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Quan niệm về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa các quốc gia khác nhau là không hoàn toàn giống nhau. Quan niệm về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa các quốc gia gia khác nhau là không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn theo quan điểm Nhật Bản cho rằng, cần có sự phân tách rõ ràng giữa các biện pháp hình sự và biện pháp dân sự trong việc xử lý các hành vi vi phạm. Chỉ có Nhà nước mới là tổ chức duy nhất có thẩm quyền Tòa áp dụng các biện pháp xử lý hình sự. Các tổ chức, cá nhân không mang quyền lực nhà nước thì không thể có quyền năng này. Chính vì thế, chức năng của chế định bồi thường, chỉ là để ”khôi phục lại tình trạng mà lẽ ra người bị vi phạm có thể không có nếu không có hành vi vi phạm”. Bất kể hành vi vi phạm được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý thì yếu tố lỗi cũng không được coi là căn cứ để nâng mức bồi thường thiệt hại cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra. Chức năng của chế định bồi thường – chính vì thế, không phải để răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm. Nguyên tắc xác định thiệt hại trong vi phạm hợp đồng cũng được áp dụng cho việc xác định thiệt hại từ hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ngược lại, tại Hoa Kỳ, chức năng của tiền bồi thường thiệt hại với các chế tài hình sự là không hoàn toàn rõ ràng. Hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ sử dụng cả chế tài dân sự vào việc răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm. Các tổ chức, cá nhân không mang quyền lực nhà nước được khuyến khích tham gia các vụ kiện để ngăn chặn hành vi vi phạm. Pháp luật Hoa Kỳ sẵn sàng sử dụng cơ chế ”tiền bồi thường có tính chất trừng phạt” áp dụng cho các trường hợp vi phạm với lỗi cố ý. Tiền bồi thường này sẽ cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra và bao hàm cả chi phí luật sư, chi phí theo đuổi vụ kiện.

– Chính sách sở hữu trí tuệ. Đây là nguyên nhân dẫn đến những sự giống nhau của pháp luật các nước về vấn đề này. Theo đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được xem là một nội dung cơ bản của pháp luật sở hữu trí tuệ của các nước, theo đó, chế định bồi thường thiệt hại có vai trò rất quan trọng trong việc xác định mức độ thực thi các cam kết bảo hộ. Điều 284 của Bộ pháp điển Hoa Kỳ số 35 thể hiện rõ sự quan tâm của Nghị viện Hoa Kỳ đối với việc bảo vệ ở mức cao ”quyền sở hữu trí tuệ” (xuất phát từ triết lý – quyền tư hữu là thiêng liêng, bất khả xâm phạm). Chủ sáng chế được đặc biệt ưu tiên bảo vệ. Pháp luật Hoa Kỳ không cho phép Tòa án được giảm mức tiền bồi thường đối với bị đơn thấp hơn mức ”chuyển giao sáng chế một cách hợp lý”. Đối với các vi phạm với lỗi cố ý, Tòa án được quyền nâng mức phạt lên gấp 3 lần thiệt hại thực tế. Theo Điều 285 của Bộ Pháp điển Hoa Kỳ số 35, trong những trường hợp đặc biệt, Tòa án còn có thể buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn tiền phí luật sư.

Thứ hai, thực tiễn pháp luật Việt Nam.

Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam (có sự đối sánh với pháp luật các nước trên thế giới) và rút ra một số quan điểm như sau:

1. Tại Việt Nam, có nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành để điều chỉnh các quan hệ sở hữu trí tuệ, tạo nên một lĩnh vực pháp luật tương đối riêng biệt. Theo đó, các quy định liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng khá đầy đủ, được quy định trong các văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009), Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 và các văn bản dưới luật khác.

2. Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: tuân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005. Qua nghiên cứu chế định pháp lý bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật Việt Nam có thể thấy, nguyên tắc mang tính trung tâm và kim chỉ nam vẫn là nguyên tắc bồi thường theo thoả thuận và nguyên tắc bồi thường toàn bộ. Nói đây là các nguyên tắc trung tâm bởi lẽ, một mặt nó phản ánh được bản chất của mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ, mặt khác, nó thể hiện được quan điểm pháp lý của Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, đây cũng là những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật nhiều nước trên thế giới.

3. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Về nguyên tắc, khi hội tụ đủ cả bốn điều kiện: sự thiệt hại, hành vi vi phạm gây thiệt hại, lỗi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và sự thiệt hại mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng. Khi giải quyết chế độ bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam, chúng ta buộc phải xem xét đầy đủ tất cả các điều kiện trên để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại cũng như của người gây thiệt hại, tránh tình trạng buộc bồi thường thiệt hại thiếu căn cứ, thiếu chính xác và bất bình đẳng.

4. Các quy định của Việt Nam về các nguyên tắc và căn cứ xác định bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhìn chung là tiến bộ, đáp ứng được các chuẩn mực của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên bao gồm: Hiệp định TRIPS (Ngày 07/11/2006, Việt Nam đã ký Nghị định thư gia nhập WTO, theo đó, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi các cam kết với WTO về quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS kể từ ngày trở thành thành viên chính thức của WTO (kể từ ngày 11/01/2007) và Hiệp định thương mại Việt Mỹ. Ngoài một số hạn chế không tránh khỏi, nhìn chung các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm của Luật Sở hữu trí tuệ đã thể hiện rõ quan điểm và sự nỗ lực của các nhà lập pháp Việt Nam trong việc tiến gần hơn đến ranh giới của nguyên tắc bồi thường toàn bộ trên cơ sở lý luận về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và hậu quả xảy ra từ hành vi đó. Trong khi pháp luật của các nước rất thận trọng trong việc xác định những khoản chi phí nào được coi là thiệt hại cần được bồi thường thì Việt Nam, với tư cách là một nước đang phát triển và nỗ lực hội nhập, đã mạnh dạn quy định trách nhiệm bồi thường của người xâm phạm đối với tất cả các thiệt hại trực tiếp và gián tiếp phát sinh từ hành vi xâm phạm.

5. Về các nội dung cần quan tâm khi xác đinh thiệt hại đã có những quy định cần thiết để thực thi trong thực tế. Ví dụ như, các phương pháp xác định thiệt hại vật chất về cơ bản phù hợp với thông lệ chung của quốc tế cũng như quy định của hầu hết các nước; Nguyên đơn trong một vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm hiện nay theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2009 có rất nhiều cơ hội để được chứng minh và để được bồi thường, bao gồm cả những thiệt hại trực tiếp và gián tiếp, thiệt hại trong quá khứ, hiện tại và tương lai, miễn là anh có đủ khả năng để chứng minh tính thực tế và mối quan hệ của thiệt hại đó với hành vi xâm phạm;… nhưng cũng có những hạn chế như: thực tế quá trình xét xử các vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến các yêu cầu bồi thường thiệt hại tại Toà án Việt Nam, các thẩm phán hầu như chưa bao giờ chấp nhận việc bồi thường đối với chi phí thuê luật sư của bên thắng kiện. Thực trạng này chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân là không có quy định pháp luật nào điều chỉnh một cách rõ ràng về việc phí luật sư cũng được coi là thiệt hại thực tế của bên thắng kiện, mặt khác, cũng do quan điểm xét xử truyền thống của các thẩm phán Việt Nam về vấn đề này; cơ chế thực thi pháp luật còn hạn chế;…

 

III. QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Qua việc nghiên cứu thực tiễn pháp luật Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế trong sự so sánh, đối chiếu, đề tài đã đề xuất một số kiến nghị liên quan đến các nội dung như sau:

Vấn đề phân loại lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật sở hữu trí tuệ

– Về hành vi gián tiếp xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

– Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên đưa ra yêu cầu không đúng hoặc lạm dụng các thủ tục thực thi quyền

– Về việc xác định thiệt hại căn cứ vào phí chuyển giao li-xăng

– Bồi thường chi phí hợp lý để thuê luật sư, người đại diện

– Về việc bồi thường tổn thất về tài sản và tổn thất cơ hội kinh doanh do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra

– Về xác định thu nhập, lợi nhuận bị mất do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra

– Về việc áp dụng khoản bồi thường trừng phạt (punitive damages)

Sự tham gia của các chuyên gia trong quá trình xác định lợi nhuận của người vi phạm

– Việc tính phí theo giờ trong các vụ kiện

– Những giải pháp thực thi./.

Explore posts in the same categories: Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp luật Dân sự

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: