TỔNG QUAN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÀNH TƯ PHÁP THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

1. Đánh giá chung chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp

Thứ nhất, hiện nay Bộ Tư pháp đã được giao nhiều nhiệm vụ mới, mở rộng đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tư pháp. Những năm qua, đặc biệt là giai đoạn sau khi ban hành Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 và nhất là Nghị định số 93/2008/NĐ -CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp thì nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được ban hành như Luật Tương trợ tư pháp, Luật luật sư, Luật Công chứng, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Thi hành án dân sự, Luật nuôi con nuôi, Luật Bồi thường nhà nước, Nghị định số 158/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và đăng ký hộ tịch,… Nghị định 93/2008/NĐ-CP đã cụ thể hóa đường lối, quan điểm chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp, bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 và Nghị định số 178/2007/NĐ-CP về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và các quy định pháp luật hiện hành và xác định rõ chức năng, đồng thời mở rộng và tăng cường nhiều nhiệm vụ đối với Bộ Tư pháp trước yêu cầu thực tiễn của đời sống kinh tế xã hội đặt ra. So với các giai đoạn trước, theo quy định hiện hành, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp có những điểm mới như sau:
– Chức năng mới: giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thi hành pháp luật (khoản 6, điều 2, Nghị định số 93/2008/NĐ-CP). Đây là cơ hội, điều kiện đản bảo để Bộ Tư pháp tham mưu, giúp Chính phủ một cách đầy đủ và toàn diện về công tác pháp luật bao gồm từ xây dựng, thẩm định, kiểm tra đến theo dõi thi hành pháp luật. Theo đó, với chức năng này, Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ phải thực hiện, đó là: theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương trong công tác theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương.

– Bổ sung một số nhiệm vụ mới thuộc chức năng xây dựng pháp luật: trình Chính phủ dự thảo chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; lập dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ của Quốc hội về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ,… Theo đó có thể nhận thấy Bộ Tư đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các yêu cầu về hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Như vậy, Bộ Tư pháp ngày càng có vai trò quan trọng trong tham mưu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời đường lối, chính sách của Đảng.
– Trong lĩnh vực hướng dẫn nghiệp vụ công tác pháp chế bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp: đây là nhiệm vụ được giao cho Bộ Tư pháp tại khoản 17 điều 2 Nghị định số 93/2008/NĐ-CP.
– Trong lĩnh vực tương trợ tư pháp: Nghị định số 93/2008/NĐ-CP đã quy định đầy đủ, cụ thể hơn nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp trong lĩnh vực tương trợ tư pháp, đó là: “Quản lý thống nhất công tác tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người thi hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài; làm đầu mối thực hiện các hoạt động ủy thác tư pháp về dân sự theo quy định pháp luật”.
– Trong lĩnh vực nuôi con nuôi: hiện nay Bộ Tư pháp không chỉ quản lý nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (theo Nghị định số 62/2003/NĐ-CP) mà còn quản lý cả nuôi con nuôi trong nước (theo Nghị định số 93/2008/NĐ-CP), cụ thể: “Hướng dẫn, kiểm tra việc đăng ký nuôi con nuôi và thực hiện quyền, lợi ích của con nuôi trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; ban hành thống nhất biểu mẫu, giấy tờ trong lĩnh vực nuôi con nuôi; giải quyết các việc về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật” (khoản 13 điều 2).
– Trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản: đây là nhiệm vụ đã được giao cho Bộ Tư pháp từ nhiều năm nay. Tuy nhiên Nghị định 93/2008/NĐ-CP đã quy định Bộ Tư pháp có nhiệm vụ quản lý nhà nước thống nhất về tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài sản trong phạm vi cả nước (khoản 12, điều 2) nhằm mục đích nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý nhà nước cũng như từng bước xã hội hóa hoạt động này.
Như vậy có thể thấy hiện nay hệ thống các chức năng, nhiệm vụ đều đã có những sự đổi mới nhất định, tạo nền tảng cho việc thực hiện nhiệm vụ của ngành Tư pháp cũng như đặt ra những thách thức lớn cho việc thực hiện một khối lượng lớn các công việc được giao. Bên cạnh đó, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Bộ cũng được phân định cụ thể, rõ ràng hơn; cơ cấu, tổ chức của các đơn bị thuộc Bộ đã được kiện toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, Bộ đã điều chỉnh lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thay đổi tên gọi một số đơn vị cho phù hợp với yêu cầu mới. So với giai đoạn trước kia, số lượng chức năng cũng như nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp đã được tăng lên đáng kể, đòi hỏi nhiều sự nỗ lực của các đơn vị, cá nhân có liên quan.
Thứ hai, liên quan đến vấn đề cơ cấu tổ chức. Theo Nghị định số 93/2008/NĐ-CP, Quyết định số 1727/QĐ-TTg ngày 28/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ về các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Tư pháp thì tổ chức bộ máy của Bộ gồm 26 đơn vị, so với quy định của Nghị định số 62/2003/NĐ-CP tăng 4 đơn vị. Các đơn vị tăng thêm gồm: Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Cơ quan đại diện của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh, Vụ Thi đua – Khen thưởng, Nhà xuất bản Tư pháp. Bên cạnh đó, một số đơn vị thuộc Bộ cũng đã được kiện toàn, nâng cấp hoặc đổi tên cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, như: Cục thi hành án dân sự được nâng lên thành Tổng cục thi hành án dân sự, Cục Công nghệ thông tin được thành lập trên cơ sở Trung tâm tin học của Bộ; Cục Con nuôi quốc tế đổi tên thành Cục Con nuôi để tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý toàn diện hoạt động nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Tổ chức bộ máy của Bộ đang tiếp tục được kiện toàn để triển khai nhiệm vụ quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp (đã thành lập Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia) và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sắp thành lập Cục Bồi thường nhà nước). Với những thay đổi về cơ cấu tổ chức như trên có thể thấy rằng hệ thống các cơ quan thuộc Bộ Tư pháp đã ngày càng hoàn thiện và đáp ứng được nhu cầu thực hiện chức năng của Bộ cũng như của ngành. Vì vậy, năng lực, hiệu quả hoạt động của Bộ Tư pháp đã có những nền tảng, cơ sở nhất định để thực hiện các nhiệm vụ được giao.
2. Đánh giá chung chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan tư pháp địa phương
Ngày 28/4/2009, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV). Về cơ bản, nội dung của Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp của Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/5/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương, đồng thời có bổ sung, cụ thể hóa các quy định của Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008, Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Nghị định số 16/2009/NĐ-CP ngày 16/02/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và các văn bản pháp luật về tư pháp mới được ban hành.
Có thể nhận thấy quá trình thực hiện Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/5/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ đã bộc lộ một số hạn chế như: chức năng và một số nhiệm vụ, quyền hạn chưa được xác định đầy đủ, cụ thể; tổ chức cán bộ chưa được kiện toàn, củng cố ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; việc đẩy mạnh phân cấp công tác tư pháp cho địa phương và cơ sở chưa thực hiện đồng thời với việc tăng cường, bổ sung các điều kiện đảm bảo nên quá tải về công việc. Vì vậy, việc Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV đã tạo ra những thay đổi đáng kể cho chức năng, nhiệm vụ cũng như tổ chức của các cơ quan tư pháp địa phương, thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, cơ quan tư pháp địa phương đã được giao mới một số chức năng và nhiệm vụ so với giai đoạn trước, cụ thể:
– Trong lĩnh vực thi hành pháp luật: Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức tư pháp hộ tịch cấp xã có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp công tác thi hành pháp luật trên địa bàn.
– Trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp: Sở Tư pháp có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh tổ chức thực hiện hoặc phối hợp thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, một số nhiệm vụ của cơ quan tư pháp địa phương đã được tăng cường và mở rộng so với giai đoạn trước, như trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch đã được phân cấp mạnh cho Phòng Tư pháp và công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã; Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý Nhà nước về công tác hộ tịch và trực tiếp giải quyết các việc về hộ tịch, con nuôi có yếu tố nước ngoài; Phòng tư pháp có thêm nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch;…; Lĩnh vực công chứng và chứng thực; trợ giúp pháp lý; bán đấu giá tài sản.
Thứ ba, một số chức năng, nhiệm vụ hiện nay chưa phù hợp với cơ quan tư pháp địa phương. Ví dụ như:
Theo các văn bản pháp luật có liên quan và Thông tư 01/2009/TTLT-BTP-BNV, các cơ quan Tư pháp địa phương có nhiệm vụ tham mưu giúp UBND cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác Thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Như vậy, không phù hợp và thống nhất với Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều 173 và 174 Luật Thi hành án dân sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh, cấp huyện trong Thi hành án dân sự gồm: “1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn. 2. Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh (cấp huyện). 3. Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh (cấp huyện). 4. Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự”. Luật Thi hành án dân sự cũng quy định cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện: “Giúp UBND cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 173; khoản1 và khoản 2 điều 174 của Luật này”. Tiếp đó, ngày 28.4.2009, liên bộ Tư pháp – Nội vụ ban hành Thông tư  01/2009/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ… của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công tác tư pháp của UBND cấp xã.Theo Thông tư 01, Sở Tư pháp có nhiệm vụ “Giúp UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác thi hành án dân sự ở địa phương theo quy định của pháp luật”. Tương tự, Phòng Tư pháp có nhiệm vụ “Giúp UBND cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác thi hành án dân sự trên địa bàn theo quy định của pháp luật”. Thực tế cho thấy, các nhiệm vụ này nếu giao cho các cơ quan Tư pháp địa phương tham mưu giúp UBND cùng cấp thì thiếu hợp lý và chưa phù hợp với chức trách, nhiệm vụ được giao. Cụ thể, các nhiệm vụ này hầu hết liên quan đến nghiệp vụ, chuyên môn, nhân sự, cơ cấu tổ chức của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, vì vậy, nên giao cho các cơ quan này tham mưu, thực hiện.

Thứ tư, cơ cấu tổ chức của cơ quan tư pháp địa phương theo quy định hiện hành đã được củng cố, kiện toàn một bước so với trước kia. Số lượng các tổ chức trực thuộc Sở Tư pháp đã tăng thêm từ 01 đến 02 đơn vị; số lượng cán bộ cũng như các tổ chức của Phòng Tư pháp, Tư pháp cấp xã cũng được tăng lên.
Có thể nhận thấy trong thời gian qua đã có những thay đổi khá mới trong các quy định về chức năng, nhiệm vụ cũng như tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp địa phương. Số lượng chức năng, nhiệm vụ được tăng lên nhanh chóng, có sự phân công, phân cấp rõ ràng, có được một số điều kiện đảm bảo ban đầu (về cơ sở, nhân lực,…) đồng nghĩa với trách nhiệm và trọng trách ngày càng nặng nề hơn. Tuy nhiên, với số lượng nhiệm vụ như hiện nay thì những thay đổi về biên chế cũng như một số điều kiện đảm bảo khác cho cơ quan tư pháp địa phương vẫn là chưa đủ, chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết để có thể tổ chức, hoạt động tốt trong thực tế.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: