Phản biện xã hội – một số vấn đề nhỏ

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới… Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”[1]. Để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, phát huy ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thì một trong những phương thức trực tiếp và quan trọng được đề cập, nghiên cứu đến nhiều trong thời gian gần đây chính là phản biện xã hội.

Phản biện xã hội được hiểu chung là hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó (như các chủ trương, chính sách, các đề án kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật…) trong không gian và thời gian nhất định nhằm đánh giá, chứng minh tính hợp lý hay không hợp lý, từ đó có thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần hoặc toàn bộ nội dung của vấn đề. Có nhiều quan niệm, cách hiểu rộng hẹp khác nhau về phạm vi, chủ thể phản biện xã hội. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, phản biện xã hội đang được đề cập đến là hoạt động phản biện do các lực lượng xã hội tiến hành để đánh giá, “thẩm định” có tính chất phê phán đối với “các vấn đề” của Nhà nước, là phản biện “ngoài Nhà nước” nhằm đảm bảo tính chính xác, phù hợp khi nhà nước hoạch định chính sách, pháp luật[2]. Phản biện xã hội vừa được xem là một khái niệm chính trị, vừa là một đòi hỏi khách quan, một hiện thực tất yếu luôn tồn tại trong đời sống chính trị – xã hội của một đất nước. Giá trị của phản biện xã hội được thể hiện ở chỗ đây là hoạt động để phát huy dân chủ, Nhà nước lắng nghe tiếng nói của người dân, là phương thức để đạt được đồng thuận xã hội. Trong mỗi một xã hội bao giờ cũng có nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Khi một chính sách được nhà cầm quyền áp dụng hoặc công bố, nó sẽ động chạm đến quyền lợi của các nhóm lợi ich, các tầng lớp trong xã hội. Nếu không có tự do tranh luận, nếu không có phản biện, chân lý khó có thể được tiếp cận. Và vì vậy, thảo luận – tranh luận – phản biện chính là quá trình đi tìm sự đồng thuận. Một Nhà nước được xem là của dân, do dân và vì dân thì Nhà nước đó phải đi tìm sự đồng thuận của nhân dân trong việc ra các quyết định. Chính vì vậy, phản biện xã hội cũng được xem như liều vắc xin có tác dụng phòng ngừa, hạn chế sự tha hóa quyền lực, hoặc sự độc đoán, chuyên quyền – xu thế mang tính tất yếu của những chủ thể đang nắm giữ quyền lực.

Phản biện xã hội được xem là chủ trương mới của Đảng ta và đã được ghi nhận tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Phản biện xã hội là sự phản biện nói chung, nhưng có qui mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan”[3]. Nhận thức được vai trò, ý nghĩa của hoạt động phản biện xã hôi, tại Mục X của văn kiện, Đảng chỉ rõ: Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân  thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”.

            Với tính chất là một nội dung của quyền tham gia các công việc chung của nhà nước và xã hội, phản biện xã hội cũng đã được ghi nhận phần nào như một quyền của cá nhân trong lĩnh vực dân sự – chính trị. Khi tham gia Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị năm 1966, Việt Nam cam kết bảo đảm quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến của cá nhân (Điều 19 của Công ước[4]). Hiến pháp Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định quyền tự do ngôn luận của công dân, khẳng định “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Trên cơ sở của Hiến pháp, đã có một số văn bản pháp luật ghi nhận việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân, quyền tham gia ý kiến của tổ chức, cá nhân như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và một số văn bản hương dẫn thi hành Luật. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước với các cách tiếp cận khác nhau cũng đã làm sáng tỏ được một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động phản biện xã hội, góp phần tạo điều kiện nền tảng cho việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế pháp lý đối với hoạt động này.

Tuy nhiên, dù phản biện xã hội đã được ghi nhận thành chủ trương, định hướng của Đảng, cũng như đã có những quy định chung về quyền cơ bản của công dân tại Hiến pháp nhưng phải khẳng định rằng, hiện nay tại Việt Nam vẫn thiếu một hành lang pháp lý đồng bộ để bảo đảm việc thực hiện các hoạt động phản biện xã hội một cách rộng rãi, chất lượng, có hiệu quả. Điều này, thể hiện qua các điểm sau đây:

Thứ nhất, phản biện xã hội chưa thực sự được pháp luật nhìn nhận như một quyền phản biện nhưng có “quy mô và sự tham gia rộng rãi” của cá nhân công dân, của tổ chức, các hiệp hội ngành nghề …, của toàn xã hội. Hầu như trong các quy định pháp luật vắng bóng khái niệm “phản biện xã hội”, trong khi phản biện xã hội không chỉ được hiểu là việc nhân dân tham gia đóng góp ý kiến khi được cơ quan Nhà nước hỏi ý kiến. Phản biện xã hội là hình thức thể hiện sự tham gia chủ động của chủ thể phản biện, nhân dân được nói lên tiếng nói của chính mình. Tại Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/01/2002 về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cũng có đề cập đến hoạt động phản biện. Theo đó, phản biện có tính chất là “hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu, cùng các ý kiến phân tích đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra”[5] do các nhà khoa học thuộc Liên hiệp Hội thực hiện không vì lợi nhuận, không phải là hoạt động nghề nghiệp mà nhằm thể hiện trách nhiệm của đội ngũ trí thức đóng góp trí tuệ vào các hoạt động của nhà nước. Tuy nhiên, tính chất phản biện trong quy định này chủ yếu nghiêng về khía cạnh phản biện khoa học với những đòi hỏi về sự khắt khe, chặt chẽ, khách quan và toàn diện trong việc đánh giá, nhận xét nhiều hơn là thể hiện tính rộng rãi, đa dạng và phổ cập của hoạt động phản biện xã hội.

Thứ hai, pháp luật chưa có những quy định cụ thể tạo cơ chế pháp lý để hoạt động phản biện xã hội được thực hiện đúng bản chất vốn có của nó. Hiện nay vẫn còn khá nhiều quan điểm chưa thống nhất về các vấn đề như: Chủ thể thực hiện phản biện xã hội; đối tượng, phạm vi phản biện xã hội; các hình thức phản biện xã hội; nội dung phản biện xã hội; trình tự, thủ tục tiến hành; các điều kiện bảo đảm,  đặc biệt là quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến phản biện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện  hoạt động phản biện xã hội có chất lượng. Điều này khiến cho hoạt động phản biện xã hội trên thực tế dù đang được dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ, một số phản biện đã tạo ra những hiệu ứng không nhỏ đối với việc ban bố chính sách của nhà quản lý nhưng xét trên bình diện tổng thể vẫn không thực sự tạo được hiệu quả như mong muốn.

Chính vì vậy, việc hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ có ý nghĩa không chỉ như một bảo đảm pháp lý cho việc triển khai hoạt động phản biện xã hội mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước, giúp cho cơ quan Nhà nước có điều kiện nhìn nhận lại các chính sách, pháp luật của mình, từ đó bảo đảm hơn chất lượng, hiệu quả của chính sách khi được ban hành.


[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 44.

[2] Cũng có cách hiểu cho rằng phản biện xã hội là “phép cộng” của tất cả các loại phản biện, bao gồm cả phản biện của chính bộ máy Nhà nước (do chính cơ quan nhà nước tiến hành) (Xem: Trần Đăng Tuấn, Phản biện xã hội: Một số vấn đề chung, nguồn: http://www.mattran.org.vn/TinMoi/8.htm). Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng “hoạt động phản biện” do cơ quan nhà nước tiến hành chính là hoạt động thẩm định, thẩm tra các đề án, dự án cụ thể. Và sự đánh giá trong thẩm định, thẩm tra thường mang tính toàn diện và trên cơ sở các tiêu chi nhất định, trong đó có cân bằng cả điểm hợp lý và không hợp lý trong các chủ trương, chính sách…

[3] Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 182.

[4] Điều 19:

1. Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.

2. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.

3. Việc hành sử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu:

a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.

b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.

[5] Khoản 7 Điều 1 Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/01/2002.

Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Pháp luật hành chính Nhà nước

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: