Archive for Tháng Sáu 2011

Đối thoại về LGBT

Tháng Sáu 26, 2011

Chỉ là một đoạn đối thoại thôi mọi người ạ, kiên nhẫn đọc nhé :), thanks 🙂

———————————————————–

Chào anh, chào xinh tươi!

Không dám, chào em chào xinh đẹp, hihi

Nghe giọng thì có vẻ dạo này tâm trạng anh tốt hơn rồi nhỉ?

Đừng nhìn mặt mà bắt hình dong em ah.

Chẳng có nhẽ là vẫn như thế, vẫn đôi lần ngủ quên trên lối hẹn?

Ngủ quên nhưng vẫn an toàn về đến nhà em ah, hihi

Đang tự hỏi anh bận thế thì có quan tâm đến những sự kiện gần đây không nhỉ?

Ma xó như anh, cái gì chả quan tâm

Đã có 02 “đám cưới đồng tính” ở Việt Nam, anh có để ý không?

Có, đọc nhiều là đằng khác. Nhưng thực sự anh thấy có nhiều điều không ổn cho lắm.

Thế ư, em lại thấy có nhiều hiệu ứng đấy chứ. Ngày càng có nhiều cặp đôi đồng tính nói lên tiếng nói của bản thân, động viên tinh thần của những người đồng tính khác, tạo ra hiệu ứng để xã hội quan tâm là rất đáng khích lệ trong tình hình hiện nay rồi mà ạ? (more…)

Advertisements

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SHTT

Tháng Sáu 18, 2011

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Trương Hồng Quang

Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

 1. Khái quát chung

1.1. Các quy định về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ – bộ phận không thể thiếu của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Trách nhiệm hiểu theo nghĩa chung nhất là “điều phải làm, phải gánh vác, phải nhận lấy về mình”. Học thuyết Macxit về bản chất xã hội của con người đã đưa ra những lý giải đúng đắn về trách nhiệm cá nhân: Vì rằng con người không thể tách mình ra khỏi xã hội và cuộc sống cộng đồng đòi hỏi phải có các quy phạm điều chỉnh xử sự của họ theo một trật tự chung nhất định, khi con người bằng ý thức và ý chí của mình lựa chọn cách xử sự đi trái với lợi ích của xã hội, người đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, hoặc là trách nhiệm xã hội hoặc là trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý là hệ thống những quy định của nhà nước về các biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi được quy định ở các chế tài của quy phạm pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho những người bị thiệt hại từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của chủ thể khác. Ở các nước khác nhau thì vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại được qui định khác nhau về hình thức bồi thường và cách xác định thiệt hại. Tuy nhiên, tất cả đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất: “Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại”. Nguyên tắc này đã được thể hiện một cách rõ ràng trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới như:

– Điều 1382 Bộ Luật dân sự (BLDS) Pháp qui định: “Bất cứ hành vi nào của một người gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại; Điều 1383 BLDS Pháp cũng qui định: “Mỗi người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do mình gây ra, không những do hành vi mà còn do sự cẩu thả hoặc không thận trọng”.

– Điều 420 BLDS Thái Lan qui định: “Một người cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống thân thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác thì bị coi là phạm một hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó”.

– Điều 416 BLDS Nhật Bản qui định: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại sẽ có giá trị đối với việc bồi thường các thiệt hại mà bình thường sẽ xảy ra do việc không thực hiện trái vụ. Trái chủ có quyền được bồi thường cả những thiệt hại xảy ra trong những tình huống đặc biệt, nếu các bên biết trước hoặc phải biết trước những tình huống đó”.

Trong BLDS Việt Nam năm 2005, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được qui định thành một chương riêng (chương XXI). Theo Điều 604: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: “Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: (i) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; (ii) Buộc xin lỗi, cải chính công khai; (iii) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; (iv) Buộc bồi thường thiệt hại; (v) Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại hàng hoá, nguyên vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ”. (more…)

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tháng Sáu 16, 2011

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ThS. Trần Thị Quang Hồng*

Trương Hồng Quang**

Bài đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 6/2011

 

1. Vài nét về Đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường (tên tiếng anh: Environmental Impact Assessment, viết tắt là ĐTM) là hoạt động đánh giá các tác động – bao gồm cả tích cực và tiêu cực – mà một dự án có thể gây ra đối với môi trường, cả ở các khía cạnh tự nhiên, xã hội và kinh tế[1]. Mục tiêu của ĐTM là để xem xét các tác động đối với môi trường trước khi quyết định có triển khai dự án hay không. Hiệp hội quốc tế về Đánh giá Tác động thì định nghĩa ĐTM là “hoạt động/quá trình xác định, dự báo, đánh giá và giảm thiểu các tác động về mặt sinh học vật lý, xã hội và các tác động liên quan khác của các đề án phát triển trước khi đưa ra các quyết định và cam kết. Sau ĐTM, nguyên tắc phòng ngừa và người gây ô nhiễm phải trả tiền sẽ được áp dụng để phòng ngừa, hạn chế hoặc đưa ra những yêu cầu về trách nhiệm một cách nghiêm ngặt hoặc yêu cầu bảo hiểm về môi trường đối với một dự án, dựa trên những tác động môi trường đã được dự báo[2]. Nhìn chung, ĐTM đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới để kiểm soát và giám sát một cách hiệu quả quá trình triển khai các dự án ở khía cạnh môi trường, chi phối quá trình ra quyết định đối với dự án (có được triển khai hay không) và quá trình thực thi dự án (khi được triển khai thì các biện pháp bảo vệ môi trường phải được thực thi như thế nào). Ở Việt Nam, ĐTM cũng đang ngày càng trở thành một công cụ bảo vệ môi trường quan trọng và chiếm một vị trí đáng kể trong các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên hoạt động ĐTM ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều bất cập và yếu kém về cả chất lượng cũng như việc tuân thủ quy trình ĐTM như pháp luật đã quy định. Bản thân quy định pháp luật hiện hành về ĐTM cũng chưa chặt chẽ[3]. Do vậy, cần có sự đánh giá và nhận thức lại về khía cạnh pháp lý cũng như hiện trạng thực hiện hoạt động ĐTM. (more…)

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Tháng Sáu 13, 2011

Lê Thị Hoàng Thanh*, Trương Hồng Quang**

Bài đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số tháng 6/2011.

I. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

1. Cơ sở pháp lý

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có lịch sử khá lâu đời ở Nhật Bản, văn bản đầu tiên về quyền tác giả ở Nhật Bản là Sắc lệnh về xuất bản, Shuppan Jorei, được ban hành năm 1869, bảo hộ việc xuất bản sách[1], Sắc lệnh này được sửa đổi vào năm 1875. Năm 1876, Sắc lệnh về hình ảnh đã được ban hành.

Đạo luật đầu tiên về quyền tác giả  được ban hành vào năm 1899. Văn bản luật này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Công ước Berne để đáp ứng cho việc Nhật Bản gia nhập công ước này. Đạo luật này có hiệu lực cho đến khi được thay thế bởi Luật quyền tác giả, Luật số 48 năm 1970. Luật Quyền tác giả được sửa đổi vào các năm 1984, 1985, 1988, 1989, 1992. Và vào năm 1994, Luật quyền tác giả được sửa đổi nhằm đảm bảo thực thi Hiệp định TRIPs. Luật Quyền tác giả được sửa đổi lần cuối cùng vào năm 2004 (Luật số 92 năm 2004).

Nhật Bản gia nhập Công ước Brussels năm 1948 và Công ước Paris năm 1971 và công ước Berne năm 1974. Đến năm 1978 Nhật Bản gia nhập Công ước Bảo hộ ghi âm- còn gọi là Công ước Geneva. Năm 1989, Nhật Bản chấp nhận gia nhập Công ước Rome về quyền kế cận.

Luật quyền tác giả Nhật Bản phân biệt khá rõ quyền tinh thần và quyền kinh tế (Điều 17.1 Luật Quyền tác giả). Cả hai quyền nay để đều đương nhiên được bảo hộ. Việc đăng ký không phải là để xác lập quyền tác giả mà có ý nghĩa củng cố quyền tác giả. Khi có tranh chấp tại Toà án, người đăng ký bản quyền sẽ có lợi. Thông thường khi có tranh chấp trách nhiệm chứng minh thuộc về nguyên đơn, nếu có đăng ký rồi thì nguyên đơn không phải chứng minh nữa mà bị đơn có trách nhiệm chứng minh (Điều 75, Điều 76, Điều 77 Luật quyền tác giả). Một khi đã xác lập quyền, người sở hữu quyền tác giả không cần phải chứng minh quyền tinh thần và quyền kinh tế trước toà, có thể hành động phù hợp với những hành vi có nguy cơ đe doạ quyền. Chủ sở hữu quyền có thể kiện ra tòa yêu cầu tòa bảo hộ quyền tinh thần và quyền kinh tế. Tòa án sẽ ra lệnh tiêu hủy các sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng như các công cụ để sản xuất các sản phẩm vi phạm và áp dụng các biện pháp khác. Chủ sở hữu quyền còn có thể tìm sự trợ giúp từ phía Cục Văn hóa, cơ quan có quyền trung gian hòa giảI trong các vụ việc về quyền tác giả (Điều 105 (1), Luật quyền tác giả). Tuy nhiên hội đồng hòa giải chỉ đưa ra ý kiến chứ không đưa ra quyết định mang tính bắt buộc. (more…)

Nghiên cứu viên nhân dân

Tháng Sáu 5, 2011

Sự nghiệp, tình yêu và nỗi nhớ!

Số chuyên đề Quảng cáo so sánh

Tháng Sáu 5, 2011

Số chuyên đề Thông tin Khoa học Pháp lý (Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp) – Số tháng 1/2011.

Tên chuyên đề: NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO SO SÁNH CỦA CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM

Tác giả: CN. Trương Hồng Quang

Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

 

Tóm tắt:

Quảng cáo là một nghệ thuật nhưng cũng là một chiến trường giữa các thương nhân. Bởi vậy, sự cạnh tranh trong quảng cáo là một điều tất yếu. Hoạt động quảng cáo được tiến hành dưới nhiều dạng, nhiều hình thức khác nhau, do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành. Trong các mối quan hệ xuất phát từ hoạt động quảng cáo thì các mối quan hệ thương mại, quan hệ cạnh tranh là các quan hệ đa dạng và phức tạp nhất trong đời sống kinh doanh. Quảng cáo so sánh (comparative advertising) là một trong những hoạt động, quan hệ cạnh tranh trong thương mại đó. Xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX, quảng cáo so sánh đang ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu trong kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh. Cho đến bây giờ, trong đời sống hàng ngày, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp những quảng cáo  trên các phương tiện thông tin đại chúng có nội dung như “như bột giặt T mới là trắng”, “dầu gội tốt nhất Việt Nam”, “sản phẩm có giá tốt nhất”… Tuy nhiên, pháp luật mỗi nước có những quy định và những quan điểm trong giới chuyên môn khác nhau về loại hình quảng cáo này.

Pháp luật Cạnh tranh được xây dựng và đi vào thực tiễn của Việt Nam chưa lâu. Quảng cáo so sánh là một trong những quan hệ pháp luật cạnh tranh nhạy cảm nhất và được xử lý rất khác nhau trong các hệ thống pháp luật khác nhau, bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng lại chứa đựng khá nhiều vấn đề phức tạp. Pháp luật cạnh tranh cũng như pháp luật thương mại của Việt Nam nói chung còn non trẻ nên những vấn đề phức tạp này được quy định còn khá sơ sài trong hệ thống văn bản pháp luật. Khi xây dựng và ban hành Luật cạnh tranh năm 2004, nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh chưa có được sự quan tâm đúng mức của các nhà làm luật và quảng cáo so sánh chỉ là một hành vi nhỏ trong hệ thống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Luật này. Với những nguyên do đó, việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, pháp luật thương mại nói chung cũng như pháp luật về quảng cáo so sánh nói riêng là yêu cầu cần thiết và đòi hỏi có quá trình lâu dài, đi từ những vấn đề nhỏ đến vấn đề phức tạp.

Việc nghiên cứu so sánh, tìm hiểu pháp luật về quảng cáo so sánh trong mối tương quan với pháp luật Liên minh châu Âu để hoàn thiện những quy định về vấn đề này là để góp phần xây dựng pháp luật cạnh tranh, pháp luật thương mại và tạo một môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh trong hoạt động quảng cáo cũng như nền kinh tế nói chung trong thời gian đến. Pháp luật của Liên minh châu Âu được lựa chọn để thực hiện việc so sánh luật xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: (more…)