Archive for Tháng Bảy 2011

Thực thi pháp luật Bảo vệ môi trường trong doanh nghiệp

Tháng Bảy 27, 2011

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 và tiếp theo là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị, các doanh nghiệp, các khu công nghiệp phải thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững”. Gần đây nhất, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011; trong đó đã xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế -xã hội nói chung và lĩnh vực môi trường nói riêng. Chiến lược cũng đã xác định mục tiêu cụ thể về môi trường: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải rắn nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn[1]. (more…)

Một số chính sách, thực tiễn và nguyên nhân thực thi PL BVMT của Doanh nghiệp VN

Tháng Bảy 26, 2011

Đất nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Phát triển kinh tế – xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều chính sách đổi mới đã được ban hành có tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực môi trường. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được chú trọng bảo vệ, quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả; các doanh nghiệp được khuyến khích chuyển đổi công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, tăng trưởng kinh tế nhanh thường đi kèm với các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không có các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn. Tăng trưởng sẽ không bền vững nếu sự tăng trưởng đó không tính đến các chi phí thiệt hại phải bỏ ra do ô nhiễm môi trường. Việt Nam cũng ở trong tình trạng các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra ở mức cao và đang có xu hướng gia tăng. Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Chất lượng môi trường và sự phát triển bền vững phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của các doanh nghiệp trong. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp đang là mối quan tâm lớn trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. (more…)

Một số vấn đề về thi hành PL BVMT trong các Khu công nghiệp VN

Tháng Bảy 25, 2011

Thứ nhất, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41/2004/NQ/TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”. Nhận thức rõ điều đó, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Đối với nước ta, vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu chế xuất nói riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và đề cập đến ngay từ những năm đầu hình thành, phát triển.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 và tiếp theo là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị, các Khu công nghiệp[1] phải thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững”. Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010 được Đại hội Đảng X thông qua đã nhấn mạnh vai trò của bảo vệ môi trường trong phát triển Khu công nghiệp bằng mục tiêu hết sức cụ thể: “Năm 2010, tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải”. Hàng năm, chỉ tiêu tỷ lệ các Khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn là một trong những chỉ tiêu kinh tế – xã hội quan trọng, được Quốc hội và nhân dân quan tâm, đánh giá. Gần đây nhất, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011; trong đó đã xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế -xã hội nói chung và lĩnh vực môi trường nói riêng. Chiến lược cũng đã xác định mục tiêu cụ thể về môi trường: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải rắn nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn[2]. (more…)

HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐCS VN VỀ HOÀN THIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

Tháng Bảy 24, 2011

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

Nhận thức lý luận của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân tại Việt Nam bắt nguồn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình phát triển lâu dài, bền bỉ và gắn chặt với lịch sử cách mạng và thời kỳ thể hiện tập trung nhất sự phát triển các quan điểm và đường lối của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là giai đoạn từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay. Tại Việt Nam, thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1994). Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1995) tiếp tục đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khoá VIII của Đảng (tháng 6 – 1997) về tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có một nhận định quan trọng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Đảng đã “từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đặt vấn đề tiếp tục “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX của Đảng (tháng 1 – 2004) khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đó là một hệ thống phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một vấn đề rất mới ở Việt Nam, nên nghị quyết của Đảng cũng chỉ phác thảo ra những hướng chung nhất về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa có giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, vừa phải thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. (more…)

Hội thảo xây dựng tiêu chí, phương pháp tổng kết thi hành Hiến pháp 1992

Tháng Bảy 20, 2011

Hôm qua (19/07/2011) tôi có đi dự Hội thảo “XÂY DỰNG TIÊU CHÍ, PHƯƠNG PHÁP TỔNG KẾT VIỆC THI HÀNH HIẾN PHÁP PHỤC VỤ CHO VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG HIẾN PHÁP NĂM 1992” do Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức thấy có mấy vấn đề muốn chia sẻ với mọi người:

CẦN ĐỔI MỚI MẠNH MẼ HƠN NỮA CÁC NỘI DUNG CỦA HIẾN PHÁP

          Tọa đàm diễn ra tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 07 năm 2011 do Viện Nghiên cứu lập pháp (thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội) phối hợp cùng Chương trình phát triển Liên hợp quốc tổ chức (đây là một trong chuỗi các Tọa đàm, Hội thảo được tổ chức nhằm chuẩn bị cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 trong thời gian sắp đến). Thành phần tham dự Tọa đàm gồm nhiều đại biểu, các nhà khoa học, chuyên gia đến từ các cơ quan, tổ chức khác nhau, các Viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo luật, lãnh đạo của một số Ủy ban của Quốc hội, đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội của một số địa phương (Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh,…) cùng các chuyên gia, cố vấn của UNDP. Tọa đàm do TS. Đinh Xuân Thảo (Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp) và TS. Hoàng Văn Tú (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp) làm Chủ tọa. Dưới đây là một số vấn đề được các đại biểu quan tâm trao đổi và thảo luận:

            1. Về sự cần thiết và tên của Tọa đàm

            Nhiều đại biểu băn khoăn về tên của Tọa đàm liệu có cần thiết hay không. Một số đại biểu cho rằng nên xác định luôn những vấn đề cần sửa đổi và nghiên cứu đề xuất, không nên đặt ra vấn đề tổng kết thi hành bởi từ trước đến nay các lần sửa đổi chưa có tiền lệ đặt ra vấn đề xây dựng các tiêu chí, phương pháp tổng kết thi hành Hiến pháp. Đại diện của Viện Nghiên cứu lập pháp đã có một số giải thích về vấn đề này. Nhìn chung, nội dung của việc tổng kết thi hành Hiến pháp bao gồm các nội dung: (1) đánh giá nội dung quy định của Hiến pháp, các Luật tổ chức và các văn bản pháp luật khác có liên quan; (2) đánh giá các cơ chế bảo đảm thi hành Hiến pháp trong thực tế. Việc xây dựng tiêu chí, phương pháp đánh giá là cần thiết vì đây là lần sửa đổi toàn diện Hiến pháp, hứa hẹn có những đổi mới cơ bản mang tính đột phá. Bên cạnh đó, các đại biểu cũng cho rằng thành phần Ủy ban sửa đổi Hiến pháp 1992 (sẽ được thành lập tại kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa XIII, khai mạc vào ngày 21/07/2011) nên có thêm thành phần các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ thực tiễn liên quan đến Hiến pháp. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động sửa đổi Hiến pháp, phát huy hơn sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhân dân vào hoạt động lập hiến của quốc gia.

            2. Về nội dung các tiêu chí, phương pháp đánh giá thi hành Hiến pháp

            Có thể nhận thấy các tham luận tại Tọa đàm hầu như chỉ tập trung vào các tiêu chí, phương pháp đánh giá nội dung, chất lượng của Hiến pháp chứ chưa có những tiêu chí, phương pháp đánh giá hiệu quả thi hành, cơ chế đảm bảo thi hành Hiến pháp trong thực tế. Bản thân các tiêu chí do các tác giả tham luận đưa ra thực sự chỉ chung chung, chưa cụ thể (dù đã có sự học hỏi kinh nghiệm quốc tế). Bên cạnh những tiêu chí như: tính bền vững, tính công khai và sự hiểu biết về Hiến pháp, bảo vệ các quyền tự do cá nhân trong Hiến pháp, trách nhiệm của Chính quyền trong Hiến pháp,…. thì PGS.TS. Bùi Xuân Đức (TW MTTQ VN) cho rằng nên bổ sung thêm 2 tiêu chí: cách thức thể hiện các chế định trong Hiến pháp (có phù hợp ko, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn hay không?) và tính luật cơ bản (xây dựng các quy định chung, nền tảng như thế nào, có tạo điều kiện cho việc cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật hay không?…). Hai tiêu chí này đã nhận được sự ủng hộ của các đại biểu tham dự. Bên cạnh đó, GS.TS Lê Minh Tâm (Hội Luật gia Việt Nam) cho rằng nên xác định các tiêu chí đánh giá theo 02 nhóm: nội dung Hiến pháp và đánh giá thực thi Hiến pháp trong thực tế. Đối với phương pháp đánh giá Hiến pháp, TS. Đặng Minh Tuấn (ĐHQG Hà Nội) đưa ra một số phương pháp như: tạo ra diễn đàn tranh luận đa dạng để tham gia tổng kết, đánh giá, soạn thảo Hiến pháp; đánh giá sự thực thi Hiến pháp theo tiếp cận so sánh. Các đại biểu cũng nhìn nhận rằng việc sửa đổi Hiến pháp phải được nhìn nhận khác so với sửa đổi các đạo luật khác để xác định được tầm quan trọng của vấn đề này.

            3. Một số vấn đề đặt ra qua Tọa đàm

            Một số đại biểu băn khoăn vì sao qua hơn 65 năm Việt Nam có đến 4 bản Hiến pháp. Trong khi đó, Hiến pháp của Hoa Kỳ qua hơn 200 năm vẫn chưa thay bằng Hiến pháp mới nào khác. Thực tế, Hiến pháp của Hoa Kỳ dù chưa được thay bằng bản Hiến pháp mới nào khác nhưng đã có 27 lần sửa đổi trong thời gian qua (tính ra cứ 10 năm sửa đổi 1 lần). Ngay cả Trung Quốc trong những năm qua cũng liên tục sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội mới. Như vậy quan niệm về một bản Hiến pháp có tính ổn định cao, lâu dài cần được nhìn nhận lại. Thực chất, nên sửa đổi Hiến pháp khi xã hội, nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ đó đã thay đổi, nhất là trong tình hình mới hiện nay của mỗi quốc gia, dân tộc. Đó là điều tất yếu, cần thiết, là việc mà quốc gia nào cũng phải làm. Điều này cũng có nghĩa là thế hệ đi trước đừng bao giờ áp đặt ý chí cho thế hệ sau, nhất là đối với Hiến pháp, hãy để thế hệ sau tự quyết định điều gì là phù hợp đối với bản thân. Bên cạnh đó, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung (ĐHQG Hà Nội) cũng khuyến nghị nên xác định mục tiêu sửa đổi Hiến pháp là gì để có định hướng nhất định, tránh sa đà, mất thời gian và tốn kém.

            Tại Tọa đàm, các đại biểu cũng đề cập đến một số nội dung sửa đổi cụ thể của Hiến pháp như: cân nhắc đến quyền phúc quyết Hiến pháp (đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1946), chế định trưng cầu dân ý,… Theo đó, các đại biểu nhấn mạnh Hiến pháp nên được đưa ra lấy ý kiến toàn dân, nếu được nên để toàn dân phúc quyết để nâng cao tính dân chủ của nhân dân. Bên cạnh đó, TS. Nguyễn Đình Lộc (nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp) cũng nêu ra vấn đề nên xác định lại khái niệm Hiến pháp là gì và cũng nhấn mạnh, không phải cứ Hiến pháp là tốt, là đều mang lại tác dụng tích cực cho kinh tế – xã hội (ví dụ như Hiến pháp năm 1980 là một bản Hiến pháp đã đưa nước ta vào khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng,…)./.

Trương Hồng Quang

Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1946

Tháng Bảy 20, 2011

Hoàn cảnh lịch sử. Ngày 22/9/1940, Pháp ký hiệp ước thỏa thuận cho phát xít Nhật sử dụng lãnh thổ Bắc Kỳ vào mục đích quân sự. Nhật đưa quân vào Đông Dương.

Bằng một hành động thống nhất trên toàn Đông Dương, trong đêm 9/3/1945, quân Nhật đồng loạt nổ súng và căn bản nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự của đối phương. Đến chiều ngày 10/3/1945 thì quân Pháp đầu hàng, phát xít Nhật làm chủ các vùng đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn và nhiều tỉnh lỵ… Những đơn vị quân Pháp còn cố thủ ở Cà Mau, Biển Hồ (Campuchia), một số vùng ở Bắc Đông Dương, cũng lần lượt bị thất thủ, chỉ còn một số tàn quân chạy qua biên giới Việt Trung.

Ngày 14/8/1945 Nhật tuyên bố đầu hàng quân đồng minh.

Ngày 19/8/1945 Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội và các vùng lân cận.

Ngày 23/8/1945 Khởi nghĩa giành chính quyền ở Thừa Thiên Huế.

Ngày 25/8/1945 Khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Sài Gòn.

Thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong phạm vi cả nước. Cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã hoàn toàn thành công. (more…)

MỘT NIỀM ĐAM MÊ TRẺ

Tháng Bảy 14, 2011

Nguyễn Sơn Hà, ĐH Luật Hà Nội

Khi nhắc đến Trương Hồng Quang, sinh viên ĐH Luật Hà Nội (đặc biệt các khóa từ 30 trở về sau) luôn nhớ đến một sinh viên với rất nhiều điều ấn tượng, đặc biệt ở anh có một niềm đam mê nghiên cứu khoa học rất đáng trân trọng. Thời học phổ thông anh đã từng đoạt rất nhiều giải thưởng các cấp, Olympic 30/4 và tham gia rất nhiều hoạt động Đoàn. Năm 2005, với giải quốc gia môn Văn học, anh được tuyển thẳng vào ĐH Luật HN và tiếp tục ghi dấu ấn trong những năm tháng sinh viên đáng nhớ của mình. Đặc biệt trong năm 2010, khi vừa mới ra trường được 1 năm, anh đã trở thành Cử nhân duy nhất hướng dẫn nhóm Sinh viên thực hiện đề tài đạt Giải Nhất cấp Quốc gia Cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học do Bộ GD & ĐT tổ chức. Gặp anh trong những ngày đầu năm 2011, với một giọng nói nhẹ nhàng của người miền trong, anh đã cho tôi một buổi trò chuyện khá thú vị. (more…)

DANH SÁCH ĐỀ TÀI HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM 2011

Tháng Bảy 12, 2011

Người hướng dẫn: NCV. Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

  1. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo tồn và phát triển hệ thống di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp, Phạm Thị Hải Yến (Khóa 33, Khoa Hành chính Nhà nước, Đại học Luật Hà Nội).
  2. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phố biến và giáo dục pháp luật cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam”, Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hương Liên (Khóa 33, Khoa Luật Hình sự, Đại học Luật Hà Nội).

Những mối tình quan họ, đến hẹn lại lên [LGBT, part 3]

Tháng Bảy 10, 2011

Nguyên nhân là gì?

Mấy hôm nay thấy khó chịu và biết rõ nguyên nhân nhưng thực sự vẫn thấy chưa rõ ràng và thấy có một chút hụt hẫng. Tất nhiên với mình thì mọi chuyện rồi cũng qua nhưng dường như những thứ còn sót lại sau đó vẫn còn vương vít ở đâu đây, thấy tắt đi những háo hức nguyên sơ nhất đã từng có. Cũng chính vì thế mà định không viết thêm gì về mấy chủ đề trong dịp cuối tuần nữa. Nhưng tối qua tình cờ ngồi xem một bộ phim trên đài HTV7 lại khiến mình muốn viết ngay một số thứ, sợ để lâu lại lười không viết nữa và cũng vì nó liên quan đến chủ đề mà mình quan tâm. Nội dung phim thì cũng chẳng có gì, vì phim Việt vẫn thường rơi vào tình trạng thừa mà thiếu. Nhưng ít ra mình thấy phim của SG có vẻ như phù hợp hơn với mình, vì trong tình hình hiện tại, thà xem những phim giải trí còn hơn là những phim chính thống mà nhạt nhẽo khác. Nhân vật chính là một chàng ngốc nhưng nhân vật tôi muốn nói đến lại là một nhân vật phụ khác của phim. (more…)

BÀN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT HIẾN PHÁP

Tháng Bảy 5, 2011

BÀN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT HIẾN PHÁP

Trương Hồng Quang

1. Khái quát về quyền phúc quyết Hiến pháp

1.1. Khái niệm quyền phúc quyết Hiến pháp

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa lập hiến và lịch sử phát triển của học thuyết nhà nước pháp quyền cho thấy sự phát triển gắn bó hữu cơ giữa Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp là bản văn ghi nhận ý chí của nhân dân, xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất sự lựa chọn chính trị của nhân dân. Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định các vấn đề cơ bản nhất như chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước[1]. Hiến pháp như xương sườn của quốc gia, là cơ cấu căn bản của toàn xã hội. Nói như nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, hiến pháp là “luật căn bản, luật gốc, luật mẹ, được Quốc hội lập hiến thông qua và nhân dân phúc quyết”[2]. Một Hiến pháp toàn dân phải đảm bảo tự do dân chủ của nhân dân trong đó. Hiến pháp trong thể chế dân chủ, chính nhằm cụ thể hoá những nhiệm vụ đó, đưa ra những thước đo, chuẩn mực, quy tắc ứng xử, giới hạn pháp lý nhà nước được phép làm, theo đúng những đòi hỏi của chủ nhân nó là người dân. Vì vậy, dân cần và phải biểu quyết Hiến pháp được xem là lẽ đương nhiên, là một trong những quyền cơ bản của nhân dân mỗi quốc gia. Dưới góc độ của khoa học pháp lý, quyền này được đề cập với tên gọi là phúc quyết hiến pháp[3].

Phúc quyết được hiểu đơn giản là sau khi một ai đó đã thông qua một quyết định, một ai khác sẽ phê chuẩn quyết định đó. Đối với quyền phúc quyết Hiến pháp, nội dung cơ bản là nhân dân biểu quyết thông qua một Hiến pháp mới hoặc các nội dung sửa đổi, bổ sung đối với Hiến pháp hiện hành. Mở rộng hơn, quyền này cũng có thể được thể hiện ở khía cạnh Hiến pháp sẽ có các điều luật quy định các trường hợp nào cần phải có sự phúc quyết của nhân dân (ví dụ như Hiến pháp Đức tại điều 29 quy định việc phân chia lại địa giới các tiểu bang sau khi được Quốc hội thông qua cần phải được phúc quyết bởi nhân dân tiểu bang đó).

Nếu Hiến pháp không được phúc quyết, cũng có nghĩa nhà nước tự đặt ra những thước đo, chuẩn mực, giới hạn pháp lý cho chính mình, thì quốc gia đó không hẳn, nhưng cũng không loại trừ, rơi vào rủi ro chính trị trả giá, chuyển sang độc tài, toàn trị, mà Đức Quốc xã là một điển hình[4]. Hiến pháp dân chủ Đức trước đó (Weimar Verfassung) có hiệu lực từ ngày 14/08/1919, đã bị vô hiệu hoá bằng một sắc lệnh Quốc trưởng, khi Đảng Đức quốc Xã (NSDAP) lên cầm quyền từ 1933 đến 1945, đặt Hitler Chủ tịch Đảng Quốc xã lên chức vụ Quốc trưởng (người Đức gọi là Führer), đứng đầu cả Chính phủ (hành pháp), lẫn Quốc hội do NSDAP nắm (lập pháp), và giữ luôn chức chánh án toà án tối cao (tư pháp), đưa cả nước theo đuổi chủ thuyết Hitler “dân tộc Đức thượng đẳng“, gây nên thảm hoạ nhân loại Thế chiến thứ hai. (more…)