Sự tự do theo đuổi xu hướng tình dục của mỗi con người phải được hiểu là một phần của tự do nhân quyền

Tiếp nối câu chuyện lần trước, xin tạm dừng đoạn hội thoại ở đó vì đoạn sau đã chuyển sang một vấn đề khác, đó là về biển Đông. Mà trong quan niệm của tôi, những gì mà một bộ phận giới trẻ đang làm có vẻ như không hiệu quả và không đáng cho lắm. Đã không còn là những lúc cứ mãi dùng những từ ngữ lên án suông, biểu tình hòa bình,… nữa bởi đây là thời điểm của những hành động thực sự hơn đứng dưới góc độ vị trí của mỗi người. Vì vậy, cũng không muốn bàn luận nhiều ở đây nữa, làm gì thì làm, chậm thì chết thôi.

Hôm nay tôi chỉ muốn chia sẻ với các bạn ba điều:

–         Một là, tại sao tổ chức WHO lại loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh?

–         Hai là, bạn hiểu gì về từ “pê-đê” được sử dụng trong đời sống xã hội hiện nay?

–         Ba là, những quốc gia nào đã công nhận kết hôn đồng giới (đến tháng 6/2011)?.

Về điều thứ nhất – một giai đoạn tiền đấu tranh của cộng đồng người đồng tính.

Như đã nói ở phần trước thì từ năm 1990, tổ chức WHO đã loại đồng tính ra khỏi danh sách các loại bệnh. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cộng đồng giới tính này. Trước năm 1990, dường như các kiến thức về đồng tính trên thế giới chưa có nhiều, chưa được định hình một cách cụ thể, và do đó, các quan niệm cũ, các tác động ảnh hưởng từ xung quanh đã khiến cho các tổ chức có cái nhìn chưa đúng đắn về hiện tượng đồng tính. Nguồn gốc của hiện tượng này đều được các tài liệu nghiên cứu cho rằng đã xuất hiện từ rất xa xưa trên trái đất. Tập quán tình dục thay đổi theo thời gian. Khái niệm “đồng tính luyến ái” hiện đang được hiểu ở các nước Tây phương là một khái niệm mới, không tương ứng với khái niệm trước đây. Trong cuộc đời của nhiều người quan trọng trong lịch sử như Alexandre Đại Đế, Leonardo da Vinci, Michelangelo, Plato, v.v. có thể được xem là có quan hệ tình dục với người cùng phái, nhưng khái niệm “đồng tính luyến ái” hiện đại là một khái niệm họ chưa được biết đến.

Tại châu Á việc ái tình đồng tính là một việc hằng ngày từ xưa. Những người Tây phương đến các khu này thường sửng sốt về việc nó được chấp nhận và trưng bày công khai. Tại Trung Quốc, quan hệ đồng tính được ghi nhận từ năm 600 TCN. Nhiều từ nói trại được dùng để miêu tả việc này. Các mối quan hệ thường giữa những người có tuổi tác và địa vị xã hội khác biệt nhau. Trong quyển Hồng Lâu Mộng, những việc âu yếm và quan hệ tình dục giữa những người đồng giới không gì xa lạ đối với độc giả. Tại Nhật Bản, thói quen này được gọi là shudo (chúng đạo) hay nanshoku (nam sắc), đã được ghi lại trong nhiều tài liệu trên một nghìn năm và là một phần quan trọng trong các tu viện đạo Phật cũng như truyền thống samurai. Nền văn hóa ái tình đồng tính này đã dẫn đến một truyền thống hình vẽ và văn chương ghi nhận và ca tụng các quan hệ này. Tương tự, tại Thái Lan không có khái niệm “đồng tính luyến ái” mãi đến cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên, kathoey hay “trai nữ” (cô chàng) là một phần trong xã hội Thái trong nhiều thế kỷ. Họ là những người nam giới ăn mặc quần áo phụ nữ, có thể đã cắt bỏ phần ngoài của bộ phận sinh dục nam. Họ thường được xã hội chấp nhận, không bị phiền toái, tuy nhiên một gia đình có con trai trở thành kathoey thường thất vọng. Quan niệm của đạo Phật trong xã hội Thái chấp nhận một giới tính thứ ba.

Tại phương Tây, Những tài liệu Tây phương lâu đời nhất (trong hình thức mỹ thuật, văn học, và truyền thuyết) về mối quan hệ đồng tính được tìm thấy từ Hy Lạp thời thượng cổ, nơi các mối quan hệ đồng tính được xã hội tạo nên, được thành lập qua thời gian từ thành phố này đến thành phố khác. Lệ này, một hệ thống của những mối quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một thanh niên đang trưởng thành, được xem là có giá trị dạy dỗ, đồng thời để kiềm chế mức độ gia tăng dân số, đôi khi bị xem là làm mất trật tự. Plato đã ca ngợi những lợi ích của việc này trong các tác phẩm lúc đầu, nhưng trong các tác phẩm sau này ông đã đề nghị ngăn cấm nó. Trong thời Phục Hưng, những thành phố ở miền bắc nước Ý, đặc biệt là Firenze và Venezia, rất nổi tiếng về việc ái tình đồng tính, được phần đông dân số nam theo và được tạo theo kiểu mẫu ở Hy Lạp và La Mã. (Ruggiero, 1985; Rocke, 1996). Tuy nhiên, trong khi phần đông dân số người nam theo tục lệ này, những nhà chức trách vẫn khởi tố, phạt và bắt bớ nhiều người. Chính nhạc disco có nguồn gốc từ sự liên kết ban đầu với lối sống của một bộ phận giới đồng tính luyến ái nam ở Thành phố New York và sau đó được phát triển trên nền tảng nhạc đại chúng da đen trong những năm của thập niên 1970.

Trong những năm tháng đó, nhiều quốc gia đã đưa đồng tính vào danh sách các bệnh về tâm thần. Quan niệm đồng tính luyến ái là rối loạn tâm lý là một quan niệm phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ 19 và sang đến một phần thế kỷ 20, và có lẽ nó lan truyền cùng với sự phổ biến của y học phương Tây. Đến những thập niên cuối thế kỷ 20, khoa học đã khẳng định đồng tính luyến ái không phải là bệnh. Nhiều nước lần lượt loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, bắt đầu là Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào năm 1973. Tại Trung Quốc năm 2001 cũng đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Đồng tính luyến ái được coi là một phần của đa dạng tính dục con người, chứ không phải là bệnh. Đến năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới, là cơ quan của Liên Hiệp Quốc cố vấn chuyên môn cho các quốc gia về y tế, đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Động thái này đã một lần nữa khẳng định đồng tính chỉ là một xu hướng tính dục như bao xu hướng khác (lưỡng giới, vô tính,..) góp phần xua đuổi quan niệm nặng nề tại các nước trên thế giới về giới đồng tính. Nguyên nhân lớn nhất nằm ở khía cạnh sinh học: vẫn chưa có kết luận cuối cùng về nguyên nhân đồng tính. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại đã hình thành hai quan điểm quan trọng về nguyên nhân của xu hướng tình dục này, đó là: do các mặt tác động về xã hội và do mặt sinh lí, thần kinh của con người (vấn đề này xin được phân tích cụ thể hơn ở các phần sau).

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, việc tổ chức WHO loại bỏ đồng tính khỏi danh sách bệnh dường như chưa được tác dụng như mong đợi tại các quốc gia cụ thể trên thế giới trong những giai đoạn tiếp theo. Trong giai đoạn đó, các tổ chức quốc tế khác vẫn chưa ban hành những tuyên bố nào bảo vệ những người có xu hướng lệch lạc tình dục, các quốc gia phần lớn là không đồng tình với xu hướng đồng tính, thậm chí có một số quốc gia còn cho đó là tội, phải bị xử phạt, thậm chí là đi tù, tử hình,… (chẳng hạn như Ba Lan năm 1932, Đan Mạch năm 1933, Thụy Điển năm 1944 và Anh năm 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ là hạn chế cho đến giữa những năm 70). Thực sự đây quả là những điều tưởng chừng như đau đớn đối với giới đồng tính. Ngay cả ở Việt Nam, theo ThS. Lê Quang Bình (Viện trưởng ISEE) cũng thông tin rằng có nhiều gia đình thấy con gái mình chỉ thích chơi với con gái, yêu con gái, nghĩ con gái mình thiếu “mùi đàn ông”, đã cho con gái uống thuốc ngủ rồi thuê người đến cưỡng hiếp con gái mình với mong muốn con gái mình sẽ trở lại bình thường. Đây quả thật là điều không thể tưởng tượng được, nó cho thấy đối tượng đồng tính phải chịu những sự dằn vặt và đau khổ hơn gấp nhiều lần so với người thường.

Về vấn đề thứ hai – cách ứng xử thể hiện văn hóa của con người trong thời hiện đại?

“Pede” – một danh từ được Việt hóa từ khi tiếng Pháp trở nên phổ biến tại nước ta từ đầu thế kỷ 20 và thường được đọc thành “Pê đê” để dùng gọi một nhóm người trong xã hội với nhiều cách dùng và ẩn ý khác xa với nguyên nghĩa ban đầu. Ngày nay, đa số người Việt (dị tính) hiện tại dùng từ này với ý miệt thị, để chỉ những nhóm người có xu hướng tình cảm và tình dục cùng giới. Vậy Pê đê có nghĩa là gì? Đồng tính có nghĩa là gì? Liệu tất cả Pê đê có phải là Đồng tính hay ngược lại, tất cả Đồng tính đều là Pê đê không?

Trong thực tế, từ pê đê mà người Việt vẫn thường dùng, là tiếng đọc trại và đọc gọn của từ Pederaste trong tiếng pháp, dùng để ám chỉ những Pedophile (những kẻ ấu dâm trẻ em). Vậy người Pháp đã hiểu và dùng Pederaste như thế nào?

Theo tự điển online “Dictionnaire d’argot fin-de-siècle” của Charles Virmaître, mục từ số 17708, 17709, 17710, thì Pederaste được giải nghĩa như sau:

Ce mot est trop connu pour avoir besoin de l’expliquer autrement que jar ceci : homme qui commet volontairement des erreurs de grammaire et met au masculin ce qui devrait être au féminin (Argot du peuple).

Dịch nghĩa: Pederaste là một từ quá thông dụng và luôn được hiểu và được giải thích để chỉ: những người đàn ông đã mắc phải những tội lỗi hoặc sai lầm cơ bản (des erreurs de grammaire) một cách cố ý (volontairement) và dù là mang hình thể giống đực, nhưng cần được xem là thứ lại cái (ce qui devrait être au feminine)

Trong thực tế, người Pháp áp dụng cách hiểu đó cho Pederaste để dùng chỉ tất cả các đối tượng nào là bị cho là đồng tính. Nghĩa là thay vì dùng l’homosexualité, họ lại dùng pederaste. Nói cách khác, họ đồng hóa l’homosexualité thành pederaste. Như vậy, đối với cách dùng và cách hiểu trong tiếng Pháp, Pederaste được dùng một cách thông dụng để miệt thị và sỉ nhục (a derogatory term and affront) những người đồng tính, và đồng hóa họ với Pedophile, nghĩa là những người ấu dâm, có huynh hướng cưỡng chế tình dục với trẻ em. Ngắn một lời, theo cách hiểu của tiếng Pháp: đồng tính nghĩa là những kẻ ấu dâm trẻ em, không có sự phân biệt giữa hai loại người. Thực chất điều này nghe có vẻ quy chụp, nhưng thực tế nó là như thế. Chỉ có một điều cần biết rằng chính người Pháp cũng đã sử dụng từ nói trên bắt nguồn từ HY Lạp. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu ngọn nguồn thì sẽ thấy được khá thú vị hơn nữa.

Theo tôi, việc sử dụng từ trên là quá ấu trĩ và thực sự nếu ai hiểu đúng nghĩa của từ này thì vô hình chung đã hiểu sai về người đồng tính. Bên cạnh đó, văn hóa ứng xử để ở đâu mà nhiều người vẫn ngang nhiên xúc phạm những con người khác trong xã hội như thế ?

Về vấn đề thứ ba – sự tự do theo đuổi xu hướng tình dục của mỗi con người phải được hiểu là một phần của tự do nhân quyền.

Hiểu được điều đó, và qua một quá trình đấu tranh chính trị, lập pháp, đạo đức,… lâu dài, thậm chí là đổ xương máu, các quốc gia sau đây đã công nhận kết hôn đồng giới, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người đồng tính, đặc biệt là các cặp vợ chồng đồng tính:

1. Hà Lan (Luật hôn nhân đồng giới ban hành năm 2001, cùng với năm ban hành Luật về an tử – Euthanasia)

2. Bỉ (ban hành Luật hôn nhân đồng giới năm 2003 – 1 năm sau khi ban hành Luật về an tử – Euthanasia)

3. Tây Ban Nha (năm thông qua: 2005)

4. Canada (năm thông qua: 2005)

5. Nam Phi (năm thông qua: 2006)

6. Na Uy (năm thông qua: 2008)

7. Thụy Điển (2009)

8. Bồ Đào Nha (2010)

9. Iceland (2010)

10. Argentina (15/7/2010, là quốc gia đầu tiên ở Mỹ la tinh chấp nhận)

11. Brazin (2011)

12. Hoa Kỳ (NewYork-2011,….)

Bên cạnh đó, theo báo cáo của ILGA (INTERNATIONAL LESBIAN, GAY, BISEXUAL, TRANS AND INTERSEX ASSOCIATION) cho đến tháng 5/2010, có 32 quốc gia trên thế giới chấp nhận đồng tính nữ nhưng không chấp nhận đồng tính nam. Danh sách các quốc gia này bao gồm có: Bangladesh, Belize, Brunei, Ghana, Grenada, Guyana, Jamaica, Kenya, Kiribati, Kuwait, Lesotho, Malawi, Mauritius, Myanmar, Namibia, Nauru, Nigeria, Pakistan, Palau, Papua New Guinea, St. Kitts and Nevis, Samoa, Seychelles, Sierra Leone, Singapore, Swaziland, Tonga, Turkmenistan, Tuvalu, Uzbekistan, Zambia, và Zimbabwe. Cũng theo báo cáo này, quan hệ đồng tính bị cấm tại 44 quốc gia trên thế giới, trong đó có một số quốc gia như Iran, Mauritania, Saudi Arabia, Sudan, Yemen, (và một phần của Nigeria + Somalia) có thể xử phạt đến chết nếu phát hiện quan hệ đồng tính. Trong báo cáo này không đề cập tới Việt Nam nhưng chúng ta biết rằng tại Việt Nam không có quy định ủng hộ hay xử phạt về quan hệ đồng tính.

Có lẽ note hôm nay hơi dài. Bất kì cái gì liên quan đến lịch sử đều không ngắn. Tôi không muốn đưa quá nhiều kiến thức ở đây. Chỉ đơn giản là thấy những điều gì cần được tuyên truyền rộng hơn thì viết. Bên cạnh đó cũng có sử dụng một số nguồn tài liệu (trân trọng cảm ơn).

(Còn nữa).

Advertisements
Explore posts in the same categories: Pháp luật Dân sự

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: