HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐCS VN VỀ HOÀN THIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

Nhận thức lý luận của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân tại Việt Nam bắt nguồn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình phát triển lâu dài, bền bỉ và gắn chặt với lịch sử cách mạng và thời kỳ thể hiện tập trung nhất sự phát triển các quan điểm và đường lối của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là giai đoạn từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay. Tại Việt Nam, thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1994). Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1995) tiếp tục đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khoá VIII của Đảng (tháng 6 – 1997) về tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có một nhận định quan trọng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Đảng đã “từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đặt vấn đề tiếp tục “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX của Đảng (tháng 1 – 2004) khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đó là một hệ thống phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một vấn đề rất mới ở Việt Nam, nên nghị quyết của Đảng cũng chỉ phác thảo ra những hướng chung nhất về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa có giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, vừa phải thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam.

Tiếp nối những thành công của Đại hội Đảng lần thứ X được tổ chức từ 18 đến 25 tháng 4 năm 2006, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, cải cách tư pháp và các hoạt động tư pháp được xem là một trong những hoạt động quan trọng được quan tâm hàng đầu hiện nay. Bài viết sau đây sẽ nhìn nhận lại hệ thống quan điểm của Đảng về hoàn thiện các hoạt động tư pháp qua các thời kỳ đáp ứng nhu cầu xây dựng văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI.

Thứ nhất, từ Đại hội Đảng VI (1986) đến Đại hội Đảng VII (1991). Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tập trung vào lĩnh vực kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không phải bằng đạo lý, pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng.

Thứ hai, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994), lần đầu tiên, quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mới được chính thức đặt ra với những nội dung rất cơ bản, tạo tiền đề tư tưởng – chính trị cho sự khởi đầu một quá trình đổi mới, cải cách quan trọng bộ máy nhà nước nói chung, cải cách tư pháp nói riêng.

Trong bản phác thảo mô hình Nhà nước pháp quyền đó, Đảng ta đã khẳng định:

–   Nhà nước pháp quyền quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN do Đảng lãnh đạo;

–   Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do thảo luận, tranh luận, phát biểu các ý kiến nhằm xây dựng đất nước, xây dựng các chủ trương chính sách của Đảng, các dự án luật quan trọng của nhà nước;

–   Nguyên tắc tổ chức, phân công quyền lực nhà nước là đảm bảo quyền lực thống nhất, phân công rõ và phát huy hiệu lực của cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Với việc khẳng định sự tồn tại của quyền tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước thống nhất, văn kiện Hội nghị đưa ra định hướng về kiện toàn tổ chức và đổi mới hoạt động của hệ thống tư pháp. Đây là luận điểm rất quan trọng, thể hiện tư duy đổi mới cả hệ thống tư pháp, không chỉ dừng lại ở những nội dung cụ thể đối với từng cơ quan tư pháp riêng lẻ. Các định hướng tổng thể đó liên quan đến những vấn đề thuộc nội bộ hệ thống tư pháp cũng như quan hệ giữa hệ thống tư pháp với cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, cụ thể:

–   Phân định hợp lý thẩm quyền giữa các cơ quan tư pháp trên cơ sở tổng kết các mô hình tổ chức của từng cơ quan và tính hiệu quả chung của cả hệ thống tư pháp.

–   Từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo kịp đòi hỏi của sự phát triển kinh tế – xã hội, đồng bộ với yêu cầu và nội dung đổi mới hệ thống chính trị, đặc biệt là đổi mới của cả bộ máy nhà nước.

–   Bảo đảm các cơ quan tư pháp phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật mọi hành vi phạm pháp; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, cửa quyền, chống tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi[1].

Thứ ba, từ Đại hội Đảng VIII đến nay. Các định hướng trên được cụ thể hoá và phát triển trong nghị quyết của Đại hội Đảng VIII, IX, các Hội nghị trung ương khoá VII,VIII, IX và phát triển thêm một bước ở Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị khoá IX ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Có thể khái quát một số chủ trương chính, có tính xuyên suốt của Đảng trong việc chỉ đạo đổi mới hệ thống tư pháp như sau:

– Khẳng định chức năng của cả hệ thống tư pháp: Hoạt động Tư pháp phải nhằm ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân[[2]].

– Yêu cầu chung đối với hệ thống tư pháp – Các cơ quan Tư pháp phải là mẫu mực của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải thể hiện công lý, tính độc lập, tính dân chủ, công khai trong hoạt động; là lực lượng nòng cốt, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp trong đời sống hàng ngày.

– Đổi mới tổ chức và hoạt động của từng cơ quan tư pháp với toà án là khâu trung tâm của cả hệ thống tư pháp.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp phải đảm bảo giữ vững các nguyên tắc: phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền tư pháp; trong hoạt động tố tụng: tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, khắc phục tình trạng tố tụng cắt khúc, đùn đẩy trách nhiệm; yêu cầu phân định rõ thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng trong hoạt động của các cơ quan tư pháp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ các cơ quan tư pháp.

(i) Về đổi mới tổ chức và hoạt động toà án

Về tổ chức:

–   Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử; phân định lại thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân các cấp: từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện theo hướng chủ yếu xét xử sơ thẩm; Toà án nhân dân tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao thực hiện chức năng giám đốc thẩm và hướng dẫn đường lối xét xử; xoá bỏ thẩm quyền và thủ tục xét xử sơ chung thẩm của Toà án nhân dân tối cao và Toà án quân sự trung ương.

–   Thành lập các toà chuyên môn phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội; mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, hội nhập kinh tế quốc tế.

Về hoạt động:

– Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lơi ích hợp pháp liên quan để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định.

– Nghiên cứu quy định và áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, phạm tội quả tang, hậu quả pháp lý ít nghiêm trọng.

– Đổi mới thủ tục giám đốc thẩm để bảo đảm việc xét xử vừa đúng đắn vừa nhanh chóng[[3]].

Về quản lý toà án:

–   Tổng kết kinh nghiệm quản lý toà án; nhiệm vụ quản lý toà án địa phương phải góp phần đảm bảo tính độc lập và hiệu quả hoạt động của toà án; gắn việc theo dõi, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn với việc nhận xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ;

– Nghiên cứu phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán thuộc toà án các cấp theo hướng Chủ tịch nước chỉ bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

(ii) Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát

Về chức năng: Đã có sự chuyển biến quan trọng trong việc nhận thức lại về chức năng của Viện kiểm sát: từ yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân cần làm tốt 3 chức năng: kiểm sát chung, công tố và kiểm sát tư pháp (Hội nghị Trung ương 8 khoá VII) đến yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát theo cả 3 chức năng quy định trong Hiến pháp, nhưng tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”(Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII, 1997), sau đó khẳng định Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện tốt 2 chức năng – công tố và kiểm sát tư pháp (Đại hội Đảng IX, Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị);

Về tổ chức và hoạt động:

– Hoạt động công tố được xác định thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà thông qua việc bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác

– Hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp tập trung vào kiểm sát việc bắt, giam, giữ, tạm giam, tạm giữ theo hướng kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giam, tạm giữ trong những trường hợp chưa cần áp dụng các biện pháp này, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan sai trong việc bắt, tạm giam, tạm giữ thuộc phạm vi phê chuẩn của mình.

– Giảm bớt chồng chéo về chức năng trong hoạt động kiểm sát.

(iii) Về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra

–   Sắp xếp lại cơ quan điều tra theo hướng gọn đầu mối: Bộ Công an thống nhất chỉ huy các cơ quan điều tra thuộc Bộ; nghiên cứu sáp nhập các cơ quan điều tra thuộc công an ở địa phương; tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều tra trong quân đội đổi mới cho phù hợp với hướng tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều tra nhà nước; chỉ tổ chức cơ quan điều tra ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

– Kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động của cơ quan điều tra nhằm bảo đảm sự thống nhất trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm quyền dân chủ và an toàn của công dân (Hội nghị TW 3 khoá VIII);

– Chuyên môn hoá lực lượng điều tra; quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan điều tra

(iv) Về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án

Về tổ chức và quản lý thi hành án: Ngay từ Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1995), Đảng đã chủ trương kiện toàn các tổ chức thi hành án, xây dựng Luật Thi hành án theo hướng tập trung thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án vào Bộ Tư pháp, Đến 1997, Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII tái khẳng định “Chuẩn bị các điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan quản lý tập trung thống nhất công tác thi hành án”.

Về hoạt động thi hành án: yêu cầu chung là bảo đảm các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực phải được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh, đầy đủ, nhanh chóng. Chấn chỉnh các trại giam để giáo dục, cải tạo tốt phạm nhân; có chính sách tái hoà nhập đối với người mãn hạn tù. Xây dựng đề án thay đổi việc tổ chức thi hành án phạt tử hình (Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị).

(v) Về đổi mới tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp

Các quan điểm chung là củng cố và tăng cường các tổ chức bổ trợ tư pháp theo hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp phù hợp với chủ trương xã hội hoá; kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp trên cơ sở quy định rõ nguyên tắc, nội dung hoạt động của các tổ chức bổ trợ tư pháp.

Các quan điểm chung là củng cố và tăng cường các tổ chức, hoạt động động luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp theo hướng nâng cao vai trò, năng lực (cả về số lượng và chất lượng hoạt động) của các tổ chức này trong việc hỗ trợ đắc lực hoạt động tư pháp và hỗ trợ cho mọi cá nhân, tổ chức tiếp cận hệ thống pháp luật và tư pháp; đổi mới quản lý nhà nước đối với các tổ chức bổ trợ tư pháp phù hợp với chủ trương xã hội hoá; kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật.

Về đổi mới tổ chức, hoạt động: Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí; tăng cường, củng cố các tổ chức luật sư; Cải tiến nội dung và thủ tục công chứng để phục vụ nhân dân, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, chính xác; Củng cố và hoàn thiện các tổ chức giám định tư pháp, thành lập Viện giám định pháp y quốc gia; Nghiên cứu thành lập Cảnh sát tư pháp (trước mắt do Bộ Công an quản lý) để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ phiên toà, hỗ trợ công tác thi hành án, dẫn giải bị can, bị cáo, quản lý các trại giam…; Nghiên cứu xây dựng một cơ quan thực hiện thống nhất công tác thống kê tư pháp, nâng cao chất lượng công tác này.

– Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các trường hợp oan sai do người có thẩm quyền tố tụng gây ra: từ yêu cầu minh oan công khai, truy cứu trách nhiệm cá nhân người có thẩm quyền (Hội nghị TW 8 khoá VII); khắc phục những biểu hiện hữu khuynh trong đấu tranh chống tội phạm, đồng thời chống tình trạng bắt và giam giữ oan sai, xét xử không công minh, vi phạm quyền dân chủ của công dân (Hội nghị TW 3 khoá VIII) đến yêu cầu khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về bồi thương thiệt hại đối với những trường hợp bị oan sai trong hoạt động tố tụng, nghiên cứu xây dựng Quỹ bồi thường thiệt hại về tư pháp (Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị).

– Xây dựng đội ngũ cán bộ, các chức danh tư pháp trong sạch – vững mạnh: Xây dựng đội ngũ thẩm phán, thư ký toà án, điều tra viên, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư… về cơ bản đủ số lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị và đạo đức chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, trong sạch, vững mạnh; Tiêu chuẩn hoá các chức danh tư pháp theo hướng nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức, có trình độ đại học luật và được đào tạo về kỹ năng nghề nghiệp theo chức danh; tiến tơi thực hiện thi sát hạch trước khi bổ nhiệm; Lập quy hoạch tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ tư pháp theo từng loại chức danh với tiêu chuẩn cụ thể; quy định thời hạn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, cải tiến thủ tục bổ nhiệm theo hướng gọn, kịp thời, bảo đảm dân chủ, công khai; thực hiện luân chuyển cán bộ tư pháp giữa các cấp và có chế độ, chính sách phù hợp để thực hiện việc luân chuyển đó; Hoàn thiện cơ chế lựa chọn, bầu cử, bồi dưỡng, quản lý và nâng cao chất lượng của hội thẩm nhân dân, đề cao trách nhiệm và vai trò của hội thẩm nhân dân trong xét xử; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, đánh giá, xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ yếu kém, vi phạm kỷ luật; Thống nhất đầu mối đào tạo nghề nghiệp cho các chức danh tư pháp, riêng điều tra viên do Bộ Công an đào tạo.

– Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chế độ, chính sách đảm bảo điều kiện cho cơ quan, cán bộ tư pháp hoạt động hiệu quả.

Đảm bảo đủ các điều kiện tối thiểu về trụ sở, phương tiện làm việc để từng bước hiện đại hoá các cơ quan tư pháp phù hợp với chủ trương tăng thẩm quyền xét xử cho các toà án cấp huyện.

Chính sách, chế độ lương, phụ cấp trách nhiệm, đãi ngộ phù hợp với đặc thù và vị trí tôn vinh của nghề nghiệp các chức danh tư pháp

– Đổi mới và củng cố mối quan hệ giữa hệ thống tư pháp với nhân dân theo hướng: Huy động sự tham gia rộng rãi và tích cực của nhân dân vào công tác tư pháp, phòng chống vi phạm pháp luật ngay tại địa bàn dân cư; nâng cao hiệu quả của các hình thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án như hoà giải, trọng tài góp phần xử lý đúng, nhanh chóng các mâu thuẫn, khiếu kiện trong nhân dân, giảm nhẹ công việc cho toà án và cơ quan nhà nước khác; Tăng cường và nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan đại biểu nhân dân, các tổ chức xã hội và của nhân dân đối với cơ quan, hoạt động tư pháp; Đẩy mạnh công tác giải thích pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật về tư pháp, nhất là thông qua các hoạt động tư pháp cụ thể như các phiên toà xét xử lưu động của toà án để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tăng cường sự hiểu biết và niềm tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp và nền công lý nước nhà.

– Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống tư pháp, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với cơ quan tư pháp.

            Như vậy, Đảng ta đã có một quá trình nghiên cứu, cụ thể hóa và thực thi trên thực tế các chủ trương cải cách tư pháp. Các nội dung cải cách tư pháp do Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết số 08 nêu ra vừa thể hiện tính liên tục, kế thừa phát triển của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa thể hiện sự tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của thế giới về khoa học tổ chức quyền lực nhà nước và quản lý xã hội được vận dụng từng bước một cách thích hợp vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

Trong Văn kiện Đại hội X, khi tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta không những tiếp tục khẳng định chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, mà còn ghi nhận điều chúng ta “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” là một đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Nhà nước pháp quyền là một bước đột phá trong tư duy và thực tiễn xây dựng Nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta. Đó là cơ sở chính trị cho việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu về nhà nước pháp quyền, đổi mới một cách căn bản, có hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là ngày một, ngày hai chúng ta có thể xác lập ngay được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong lý luận và cả trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết mà cải cách tư pháp là một trong những nội dung đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm. Trong thời gian sắp đến, Văn kiện Đại hội Đảng XI cần tiếp tục kế thừa những thành tựu về cải cách tư pháp của các thời kì trước trên tinh thần cập nhật, bổ sung và hoàn thiện đáp ứng những yêu cầu mới của quá trình đổi mới hiện nay./.


[1] Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII,1/1994, các trang 56-58,63.

[2] Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

[3] Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII, 6/1997

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: