Một số vấn đề về thi hành PL BVMT trong các Khu công nghiệp VN

Thứ nhất, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41/2004/NQ/TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”. Nhận thức rõ điều đó, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Đối với nước ta, vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu chế xuất nói riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và đề cập đến ngay từ những năm đầu hình thành, phát triển.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 và tiếp theo là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị, các Khu công nghiệp[1] phải thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững”. Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010 được Đại hội Đảng X thông qua đã nhấn mạnh vai trò của bảo vệ môi trường trong phát triển Khu công nghiệp bằng mục tiêu hết sức cụ thể: “Năm 2010, tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải”. Hàng năm, chỉ tiêu tỷ lệ các Khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn là một trong những chỉ tiêu kinh tế – xã hội quan trọng, được Quốc hội và nhân dân quan tâm, đánh giá. Gần đây nhất, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011; trong đó đã xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế -xã hội nói chung và lĩnh vực môi trường nói riêng. Chiến lược cũng đã xác định mục tiêu cụ thể về môi trường: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải rắn nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn[2].

Để cụ thể hóa các định hướng nêu trên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã được ban hành. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong từng thời kỳ và bước đầu đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Đối với các khu công nghiệp, Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/7/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp (KKT, KCNC, KCN và CCN) đã xác định các nguyên tắc: “1. Phải thực hiện các nội dung bảo vệ môi trường KKT, KCNC, KCN và CCN được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; 2. Bảo vệ môi trường KKT, KCNC, KCN và CCN phải được thực hiện thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính, trong tất cả các giai đoạn: Lâp quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, xét duyệt dự án đầu tư; thi công xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật; thi công xây dựng các dự án đầu tư và trong suốt quá trình hoạt động” (điều 3).

Thứ hai, tại Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp đã quy định Bộ Tư pháp có chức năng quản lý nhà nước về công tác thi hành pháp luật, với nhiệm vụ cụ thể là theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước, hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước. Theo dõi chung về thi hành pháp luật là nhiệm vụ mới đối với Bộ Tư pháp. Đây là công việc phức tạp về tính chất, rộng về phạm vi và nặng về khối lượng. Nội dung công việc theo dõi là thu thập có hệ thống và phân tích các thông tin liên quan tới quá trình tổ chức thực hiện pháp luật. Việc thu thập và phân tích thông tin đó làm cơ sở cho việc tiếp theo là hoạt động đánh giá thực trạng việc tổ chức thi hành pháp luật. Nội dung của việc đánh giá là mổ xẻ, phân tích so sánh những gì đã đề ra với kết quả thực tế đạt được và cách thức tiến hành để đạt được kết quả đó đồng thời chỉ ra những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của những bất cập, tồn tại để từ đó có cơ sở đề xuất những kiến nghị. Theo đó, việc theo dõi, đánh giá tổ chức thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường có thể coi là việc thu thập một cách hệ thống các thông tin (thông qua các chỉ số được thiết kế nhằm vào mục đích cụ thể), phân tích so sánh giữa mục tiêu đề ra (quy định của pháp luật đi vào cuộc sống) với thực tế đạt được (thực tế tuân thủ, áp dụng quy định của pháp luật) và chỉ ra sự tác động của quy định pháp luật cùng những tồn tại, bất cập và rút ra nguyên nhân, đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung hay tăng cường cho phù hợp với mục tiêu.

Mặc dù trong thời gian qua, hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường liên quan đến khu công nghiệp cũng như hệ thống các cơ quan quản lý, thi hành pháp luật đã được ban hành, thành lập nhưng thực tế, bên cạnh các kết quả đạt được thì chất lượng môi trường, hoạt động của các đơn vị quản lý khu công nghiệp tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế thể hiện dưới các góc độ sau đây:

Thứ nhất, số lượng khu công nghiệp vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường chiếm số lượng lớn. Tính đến nay, cả nước đã có trên 200 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 71.394ha; trong đó, có 173 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Hiện, đã có 105 khu công nghiệp đã xây dựng và đi vào vận hành công trình xử lý nước thải tập trung, chiếm 60% tổng số các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động[3]. So với kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỷ lệ các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đi vào vận hành đã tăng đáng kể, từ 35% năm 2006 lên 60% vào năm 2011. Theo công bố kết quả kiểm tra của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, hiện có đến 40% các khu công nghiệp trên cả nước vi phạm pháp luật về môi trường[4]. Ví dụ như: ở miền Bắc, ngoài các khu công nghiệp Phú Minh, Quang Minh (Hà Nội), Thụy Vân (Phú Thọ)… gây bức xúc trong dư luận vì hành vi xả thải ra môi trường, thì riêng trong năm 2010, các đoàn kiểm tra của Tổng cục Môi trường đã phát hiện, có 04 khu đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng chưa đạt yêu cầu và bảy khu công nghiệp xả nước thải vượt quy chuẩn. Đáng chú ý, một đơn vị xả nước thải vượt quy chuẩn trên mười lần và ba đơn vị xả thải vượt quy chuẩn từ hai tới dưới năm lần; Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh cũng đã công bố hàng loạt khu công nghiệp xả thải gây ô nhiễm môi trường. Điển hình là các khu công nghiệp Cát Lái 2, Hiệp Phước, Tân Tạo, Tân Thới Hiệp, Tây Bắc Củ Chi và Bình Chiểu, với lưu lượng nước xả thải trên 1.000 m3/ngày đêm. Tại Bình Dương, đoàn thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phát hiện 14 trong tổng số 21 khu công nghiệp tại địa phương này xả thải gây ô nhiễm môi trường. Trong đó, tám khu xả thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải cho phép hơn 10 lần gồm: Bình Đường, Sóng Thần 2, Tân Đông Hiệp A, Tân Đông Hiệp B, Đồng An 1, Mỹ Phước 3, Nam Tân Uyên và Việt Hương 2; 3/21 khu xả thải vượt chuẩn cho phép từ 5 đến dưới 10 lần gồm VSIP 2, Mỹ Phước 1, Mai Trung… Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, Đoàn thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phát hiện 2 khu công nghiệp xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép là Phú Mỹ 1 và Mỹ Xuân A2. Tại “điểm nóng” Tân Hải, huyện Tân Thành, trong 22 doanh nghiệp chế biến hải sản thì chỉ có 2 doanh nghiệp có hệ thống xử lý có nước thải đạt yêu cầu,…

Thứ hai, công tác bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp tại Việt Nam thời gian qua còn có một số hạn chế như sau[5]:

Về nước thải: đa số các khu công nghiệp đều phát triển sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực nên phát thải nhiều loại nước thải khác nhau. Việc gom và xử lý chung là khó khăn. Mặc dù số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các Ban quản lý các khu công nghiệp, tại khu vực xung quanh khu công nghiệp ở một số địa phương, một số tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép. Nguyên nhân là do việc vận hành và kiểm tra vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa có quy định pháp luật cụ thể, cũng như chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao cho nên một số khu công nghiệp không vận hành các trạm xử lý nước thải liên tục. Ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính các khu công nghiệp và cộng đồng dân cư sống gần các khu công nghiệp đó.

– Về khí thải: mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện nhưng trang thiết bị phục vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh. Chất lượng môi trường không khí tại các khu công nghiệp, đặt biệt là các khu công nghiệp được thành lập trên cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải đang bị suy giảm. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất của các khu công nghiệp cũng là vấn đề cần được quan tâm. Cụ thể như các đơn vị chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất đang gây ô nhiễm tại chính các cơ sở sản xuất đó và đã tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động.

Về chất thải nguy hại và chất thải rắn: Một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ. Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong khu công nghiệp nên chất thải nguy hại không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ về ô nhiễm môi trường. Về chất thải rắn, tại một số khu công nghiệp chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử lý, vì vậy, khó khăn trong việc thu gom, xử lý. Một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp tự lưu giữ và xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn. Lượng chất thải rắn nguy hại đang có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây, đặc biệt là tại các khu có nhiều doanh nghiệp điện tử, sản xuất hóa chất, lắp ráp thiết bị cao cấp. Nhiều KCN cũng chưa có khu vực phân loại và trung chuyển chất thải rắn. Không khí tại một số KCN cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng do khí thải từ các nhà máy sản xuất.

Ở một số địa phương, việc thực hiện ủy quyền cho Ban quản lý các khu công nghiệp trong quản lý môi trường chưa triệt để. Do vậy, nảy sinh một số vấn đề như: cơ quan này cấp phép về môi trường trong khi cơ quan khác là đơn vị kiểm tra (ví dụ: UBND huyện cấp cam kết bảo vệ môi trường, Ban quản lý các khu công nghiệp kiểm tra việc thực hiện cam kết); việc thanh, kiểm tra về môi trường chồng chéo và không hiệu quả.

Thứ ba, ý thức doanh nghiệp trong các khu công nghiệp về bảo vệ môi trường đã được cải thiện. Tuy nhiên, việc đầu tư cho công tác môi trường làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận đạt được. Do vậy, tại một số nơi, việc bảo vệ môi trường chưa được doanh nghiệp tự giác thực hiện, vẫn cần được tuyên truyền thường xuyên, đồng thời có cơ chế thanh, kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật về môi trường. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì vẫn còn nhiều bất cập trong việc tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường của một số khu công nghiệp, cũng như công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt là việc xả thải ra môi trường; ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp còn yếu, việc xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, nước thải tại một số khu công nghiệp chưa nghiêm túc, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sống của người dân  xung quanh.

Thứ tư, các cơ chế bảo đảm thực thi còn chưa thực sự phát huy tác dụng[6]. Cụ thể, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan cấp Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường) và cấp địa phương (Ban quản lý khu công nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cảnh sát môi trường) còn chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên. Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, một số Ban quản lý khu công nghiệp đã thành lập bộ phận Thanh tra, nhưng vai trò của Ban quản lý khu công nghiệp trong công tác thanh tra khu công nghiệp còn chưa rõ ràng do pháp luật hiện hành về Thanh tra không quy định loại hình Thanh tra Ban quản lý khu công nghiệp trong hệ thống thanh tra Nhà nước. Bên cạnh đó, tại các Ban quản lý khu công nghiệp có phòng Môi trường, tuy nhiên chưa được trang bị các thiết bị, dung cụ quan trắc cần thiết để kịp thời phát hiện những sai phạm trong công tác môi trường. Mặt khác, theo pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Ban quản lý khu công nghiệp không có quyền xử phạt vi phạm hành chính khi phát hiện các sai phạm về môi trường nên làm giảm hiệu quả công tác quản lý môi trường. Hơn nữa, Ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung ở các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn còn hạn chế. Mặt khác, việc huy động các nguồn vốn đầu tư cho xây dựng công trình xử lý nước thải còn nhiều khó khăn. Doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp gặp nhiều trở ngại về thủ tục vay vốn từ Quỹ môi trường, ngân hàng, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): nguồn vốn vay hạn chế, lãi suất cao, điều kiện cho vay phức tạp do dự án xây dựng công trình xử lý nước thải khó hoàn vốn.

Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ngày càng gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý môi trường còn chưa đạt hiệu quả, chưa chặt chẽ, cụ thể. Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường còn một số bất cập (ví dụ như quy định về Ban quản lý khu công nghiệp, Báo cáo đánh giá tác động môi trường, việc phân cấp trách nhiệm đối với các đơn vị có liên quan trong bảo vệ môi trường khu công nghiệp còn có bất cập, chức năng của các đơn vị tham gia còn chồng chéo, tuy đã có quy hoạch phát triển khu công nghiệp nhưng chưa thống nhất, thiếu khoa học,…), thiếu đồng bộ, chưa có những quy định toàn diện về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp[7]. Việc tổ chức triển khai các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường gặp khá nhiều khó khăn đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như: tuyên truyền, giáo dục để các đối tượng liên quan đến lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại hiểu biết và nâng cao ý thức tự giác trong việc thực hiện trách nhiệm của mình; việc thực hiện chức năng, vai trò quản lý nhà nước trong việc triển khai giám sát thực thi; vấn đề đầu tư vốn, phương tiện xử lý chất thải nguy hại; việc xác định mức độ vi phạm và các chế tài xử phạt; việc triển khai các công cụ quản lý chưa hiệu quả;… Cho đến nay, chúng ta chưa giải quyết được thấu đáo các vấn đề trên và thực sự chưa thu được những kết quả như mong đợi… Hầu hết các văn bản liên quan đến khu công nghiệp đều tập trung vào những vấn đề cải thiện môi trường đầu tư còn hành lang pháp lý về quản lý môi trường khu công nghiệp chậm được ban hành. Có thể nhận thấy, việc triển khai tổ chức thi hành pháp luật bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp chưa thực sự nghiêm túc và còn khá nhiều bất cập. Đối với Ban quản lý khu công nghiệp thì chưa đủ điều kiện thực hiện chức năng làm đầu mối chịu trách nhiệm quản lý môi trường khu công nghiệp, trách nhiệm của các bên bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp còn nhiều bất cập,…

Từ những thực tế nói trên, chúng tôi cho rằng việc khẩn trương rà soát, hệ thống hóa và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp; tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng việc tổ chức thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp là một nhu cầu cần thiết để tổng kết, đánh giá và đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp trong thời gian sắp đến.


[1] Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, Khu công nghiệp được hiểu là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này (khoản 1, điều 2).

[2] TS. Hồ Ngọc Hải, Bảo vệ môi trường – Trách nhiệm của toàn xã hội, nguồn:

http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1512&chitiet=32266&Style=1, ngày 13/06/2011.

[3] Thông tin do Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Thế Phương cung cấp, http://vea.gov.vn, ngày 25/3/2011.

[4] Báo cáo hiện trạng môi trường khu công nghiệp năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường.

[5] Lê Thành Quân – Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 9/5/2011

http://www.khucongnghiep.com.vn/news_detail.asp?ID=163&CID=163&IDN=2431&lang=vn; Báo cáo hiện trạng môi trường Khu công nghiệp năm 2009 – Bộ Tài nguyên và môi trường.

[6] ThS. Vũ Quốc Huy (Bộ Kế hoạch và đầu tư), Quản lý nhà nước về môi trường Khu công nghiệp – Thực trạng và nhiệm vụ cần triển khai trong thời gian tới, ngày 10/03/2011.

[7] Báo cáo hiện trạng môi trường khu công nghiệp năm 2009 – Bộ Tài nguyên và môi trường, trang 61.

———————————————————

Truong Hong Quang

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Luật Môi trường, Pháp luật Kinh tế

One Comment trên “Một số vấn đề về thi hành PL BVMT trong các Khu công nghiệp VN”

  1. tin nhanh Says:

    I like the helpful information you provide to your articles.
    I will bookmark your blog and check once more right
    here regularly. I am slightly certain I’ll be informed plenty of new stuff right here! Good luck for the next!


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: