Archive for Tháng Tám 2011

NQ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011

Tháng Tám 16, 2011

QUỐC HỘI

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Căn cứ Luật tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 83/2007/QH11;

Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12;

Sau khi xem xét Tờ trình số 08/TTr-UBTVQH13 ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1

Điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 như sau:

1. Bổ sung dự thảo Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào Chương trình thông qua tại kỳ họp thứ nhất;

2. Chuyển dự án Luật tài nguyên nước (sửa đổi), Luật giáo dục đại học từ Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ nhất sang Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2;

3. Bổ sung dự án Luật cơ yếu, Luật biển Việt Nam vào Chương trình thông qua tại kỳ họp 2;

4. Chuyển dự án Luật hợp tác xã (sửa đổi) từ Chương trình thông qua tại kỳ họp thứ 2, sang Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012;

5. Bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế, Luật phòng, chống rửa tiền vào Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2;

6. Bổ sung dự án Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011. (more…)

Advertisements

THỰC TIỄN ĐƯA PHÁP LUẬT VÀO HƯƠNG ƯỚC VÀ THỰC THI HƯƠNG ƯỚC HIỆN NAY

Tháng Tám 13, 2011

Trương Hồng Quang[1]

(Một phần của nghiên cứu)

1. Hương ước và đưa quy định pháp luật vào Hương ước

Đến thời Trần (khoảng cuối thế kỷ XVII) Hương ước đã trở nên khá phổ biến trong hệ thống làng, xã Việt Nam. Hầu hết các Hương ước đều đề cập nội dung chính như: an ninh trật tự, quan hệ ứng xử, công ích công lợi, thưởng phạt, đến việc cụ thể bổn phận của con cái đối với cha mẹ, ông bà, vợ đối với chồng, anh đối với em… Như vậy, Hương ước là bản ghi chép các điều lệ (những quy tắc xử sự chung) mang tính bắt buộc phải tuân thủ, liên quan đến đời sống của cộng đồng dân cư sinh sống trong làng. Các điều lệ này hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết. Trước đây, Hương ước chủ yếu là do các vị có vai vế trong làng bàn bạc để xây dựng nên. Tuy nhiên, đến ngày nay, Hương ước cũng có đôi chút thay đổi. Như theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện Hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư ngày 19/06/1998 đã quy định rõ rằng dự thảo Hương ước sau khi được nhân dân, hội nghị cử tri hay hội nghị đại biểu hộ gia đình thông qua, thì cần phải được Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thi hành nhằm đảm bảo nội dung của Hương ước không trái với các quy định của pháp luật hiện hành hay các quy định xử phạt nặng nề, các khoản phí, lệ phí có thể gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hiện nay, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/10/2000 đã xác định Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư,góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật. Như vậy, Hương ước ngày nay và trước đây đã xuất hiện một số điểm thiếu đồng nhất, tuy nhiên, nội dung và vai trò của Hương ước làng xã trong đời sống người dân Việt Nam ta về cơ bản vẫn không hề thay đổi. (more…)

HỘI THẢO KHOA HỌC THANH NIÊN “QUYỀN CON NGƯỜI: TIẾP CẬN LIÊN NGÀNH KHOA HỌC XàHỘI”

Tháng Tám 8, 2011

Hội thảo do Đoàn thanh niên Viện KHXH Việt Nam tổ chức vào ngày 01/08/2011 với sự tài trợ của Dự án Diễn đàn Giáo dục Quyền con người ở bậc Đại học và Sau Đại học tại Hội trường số 3D (Viện Khoa học Xã hội VN). GS,TS. Võ Khánh Vinh – Phó Chủ tịch Viện KHXH VN, Giám đốc Dự án đã tham dự và chủ trì Hội thảo.

Có thể nhận thấy, Hội thảo khoa học này là một trong những hình thức sinh hoạt thanh niên đặc thù của các cán bộ làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu hiện nay. Vì vậy, Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều nghiên cứu viên trẻ đến từ các đơn vị thuộc Viện KHXH VN (Viện Nhà nước & Pháp luật, Viện xã hội học, Viện Dân tộc học, Viện sử học, Viện Thông tin KHXH, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện NC Môi trường và PTBV, Viện triết học,….) và các đơn vị nghiên cứu ngoài viện KHXH VN (Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp, Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội,…). Qua gần 3 tháng phát động, BTC Hội thảo đã nhận được 41 tham luận gửi về, qua thẩm định, đánh giá 8 tham luận xuất sắc nhất đã được chọn để trình bày tại 02 phiên chính thức. Sau đây là một số vấn đề chính của Hội thảo: (more…)

ĐOÀN TẬP HUẤN, KHẢO SÁT NHIỆM VỤ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

Tháng Tám 8, 2011

 Thực hiện các Nhiệm vụ bảo vệ môi trường năm 2011, trong thời gian từ từ 02-05/08/2011, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp đã tổ chức hai đoàn công tác tại tỉnh Đồng Nai với hai nhiệm vụ: “Tập huấn tăng cường năng lực tham gia xây dựng pháp luật và kiểm tra VB QPPL về bảo vệ môi trường của cán bộ ngành tư pháp” và “Lồng ghép các yêu cầu xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tư pháp đảm bảo phát triển bền vững trong các chiến lược, quy hoạch”. Các đoàn công tác do hai đồng chí: GS,TS Lê Hồng Hạnh (Viện trưởng), TS. Võ Đình Toàn (Phó Viện trưởng) làm Trưởng đoàn cùng sự tham gia của các nghiên cứu viên của Viện Khoa học Pháp lý. (more…)

NHẬN THỨC VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Tháng Tám 8, 2011

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

(Bài đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 3/2012)

1. Hiểu như thế nào về người đồng tính?

Khái niệm đồng tính luyến ái (hay đồng tính) được dùng để chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. Đây là quan niệm phổ biến hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thức được các dạng người đồng tính cũng như bản chất của đối tượng này. Có thể đề cập một số thuật ngữ liên quan đến đồng tính như sau[1]:

Straight: là người dị tính luyến ái (chỉ yêu, quan hệ tình dục với người khác giới, chiếm đa số trong xã hội hiện nay).

Gay: là người đồng tính nam, thường chia làm 2 dạng (gay lộ: là người đồng tính nam ăn mặc, cử chỉ như phụ nữ; gay kín: là người đồng tính nam có nam tính, và mọi người khó phát hiện là gay).

Lesbian (hoặc les) là người đồng tính nữ, có thể chia làm 3 dạng (Fem: chỉ người đồng tính nữ có nữ tính và mọi người khó phát hiện là les; Butch: là người đồng tính nữ có nam tính, cử chỉ điệu bộ giống đàn ông; Soft butch: là từ để chỉ một dạng khác của người đồng tính nữ, có bề ngoài và cá tính mạnh mẽ nhưng ở mức độ chừng mực, không cố gắng hết sức nhằm loại bỏ những đặc điểm nữ tính của mình (như cố tình ép ngực, cắt tóc ngắn,…)).

Come out: là hành động công khai cho mọi người biết mình là người đồng tính.

Pê-đê (chỉ người đồng tính nam) và ô môi (có thể chỉ người đồng tính nữ). Trong đó thực chất từ “Pede” là một danh từ được Việt hóa từ khi tiếng Pháp trở nên phổ biến tại nước ta từ đầu thế kỷ XX và thường được đọc thành “Pê đê” để dùng gọi một nhóm người trong xã hội với nhiều cách dùng và ẩn ý khác xa với nguyên nghĩa ban đầu. Ngày nay, đa số người Việt (dị tính) hiện tại dùng từ này với ý miệt thị, để chỉ những nhóm người có xu hướng tình cảm và tình dục cùng giới. Vậy Pê đê có nghĩa là gì? Đồng tính có nghĩa là gì? Liệu tất cả Pê đê có phải là Đồng tính hay ngược lại, tất cả Đồng tính đều là Pê đê không? Trong thực tế, từ pê đê mà người Việt vẫn thường dùng, là tiếng đọc trại và đọc gọn của từ Pederaste trong tiếng pháp, dùng để ám chỉ những Pedophile (những kẻ ấu dâm trẻ em). Vậy người Pháp đã hiểu và dùng Pederaste như thế nào? Theo tự điển online “Dictionnaire d’argot fin-de-siècle” của Charles Virmaître, mục từ số 17708, 17709, 17710, thì Pederaste được giải nghĩa như sau: “Ce mot est trop connu pour avoir besoin de l’expliquer autrement que jar ceci: homme qui commet volontairement des erreurs de grammaire et met au masculin ce qui devrait être au féminin (Argot du peuple)“. Dịch nghĩa: Pederaste là một từ quá thông dụng và luôn được hiểu và được giải thích để chỉ: những người đàn ông đã mắc phải những tội lỗi hoặc sai lầm cơ bản (des erreurs de grammaire) một cách cố ý (volontairement) và dù là mang hình thể giống đực, nhưng cần được xem là thứ lại cái (ce qui devrait être au feminine). Trong thực tế, người Pháp áp dụng cách hiểu đó cho Pederaste để dùng chỉ tất cả các đối tượng nào là bị cho là đồng tính. Nghĩa là thay vì dùng l’homosexualité, họ lại dùng pederaste. Nói cách khác, họ đồng hóa l’homosexualité thành pederaste. Như vậy, đối với cách dùng và cách hiểu trong tiếng Pháp, Pederaste được dùng một cách thông dụng để miệt thị và sỉ nhục (a derogatory term and affront) những người đồng tính, và đồng hóa họ với Pedophile, nghĩa là những người ấu dâm, có huynh hướng cưỡng chế tình dục với trẻ em. Nói gọn lại, theo cách hiểu của tiếng Pháp: đồng tính nghĩa là những kẻ ấu dâm trẻ em, không có sự phân biệt giữa hai loại người. Thực chất điều này nghe có vẻ quy chụp, nhưng thực tế nó là như thế. Theo chúng tôi, việc sử dụng từ trên là quá ấu trĩ và thực sự nếu ai hiểu đúng nghĩa của từ này thì vô hình chung đã hiểu sai về người đồng tính. Có thể nhận thấy, các từ đồng tính luyến ái, gay, lesbian là từ khoa học và mang tính trung lập song các từ pê-đê, xăng pha nhớt, bóng lộ, bóng kín, hai thì, hifi mang tính xúc phạm ít hoặc nhiều. (more…)