THỰC TIỄN ĐƯA PHÁP LUẬT VÀO HƯƠNG ƯỚC VÀ THỰC THI HƯƠNG ƯỚC HIỆN NAY

Trương Hồng Quang[1]

(Một phần của nghiên cứu)

1. Hương ước và đưa quy định pháp luật vào Hương ước

Đến thời Trần (khoảng cuối thế kỷ XVII) Hương ước đã trở nên khá phổ biến trong hệ thống làng, xã Việt Nam. Hầu hết các Hương ước đều đề cập nội dung chính như: an ninh trật tự, quan hệ ứng xử, công ích công lợi, thưởng phạt, đến việc cụ thể bổn phận của con cái đối với cha mẹ, ông bà, vợ đối với chồng, anh đối với em… Như vậy, Hương ước là bản ghi chép các điều lệ (những quy tắc xử sự chung) mang tính bắt buộc phải tuân thủ, liên quan đến đời sống của cộng đồng dân cư sinh sống trong làng. Các điều lệ này hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết. Trước đây, Hương ước chủ yếu là do các vị có vai vế trong làng bàn bạc để xây dựng nên. Tuy nhiên, đến ngày nay, Hương ước cũng có đôi chút thay đổi. Như theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện Hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư ngày 19/06/1998 đã quy định rõ rằng dự thảo Hương ước sau khi được nhân dân, hội nghị cử tri hay hội nghị đại biểu hộ gia đình thông qua, thì cần phải được Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thi hành nhằm đảm bảo nội dung của Hương ước không trái với các quy định của pháp luật hiện hành hay các quy định xử phạt nặng nề, các khoản phí, lệ phí có thể gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hiện nay, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/10/2000 đã xác định Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư,góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật. Như vậy, Hương ước ngày nay và trước đây đã xuất hiện một số điểm thiếu đồng nhất, tuy nhiên, nội dung và vai trò của Hương ước làng xã trong đời sống người dân Việt Nam ta về cơ bản vẫn không hề thay đổi.

Trước khi có sự điều chỉnh chính thức bằng các văn bản pháp luật, Hương ước hay quy ước của làng thường có những nội dung rất gần gũi với đời sống và khá đơn giản như: quy định về chế độ ruộng đất[2]; quy định về chế độ khuyến nông, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường và các danh lam thắng cảnh, đền chùa, miếu mạo[3]; quy định về tổ chức xã hội, trách nhiệm của các chức định trong làng[4]; Quy định về văn hoá ứng xử, tín ngưỡng và các lễ khao vọng, cưới hỏi[5]; quy định về thưởng và phạt trong Hương ước[6]. Hiện nay, nội dung Hương ước thường mang tính quy mô, hệ thống và cụ thể hơn giai đoạn trước. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế – xã hội, trình độ dân trí, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống của cộng đồng dân cư, nội dung của Hương ước tập trung vào một số vấn đề cụ thể[7]: (i) Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm và phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ công dân; (ii) Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, xoá bỏ hủ tục, phát triển các hoạt động văn hoá lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết,…; (iii) Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản công cộng và tài sản công dân, bảo vệ môi trường sống,…; (iv) Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan,…; (v) Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, xây dựng làng, bản,thôn, ấp, cụm dân cư văn hoá, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia đìnhvà cộng đồng,…; (vi) Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng; (vii) Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn góp phần phòng chống các tệ nạn xã hội; (viii) Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương ước. Với những nội dung như vậy, càng ngày việc đưa nội dung các quy định pháp luật tương ứng vào Hương ước có vai trò rất quan trọng. Đây là một trong những hình thức đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn một cách gần gũi, đơn giản và hiệu quả nhất. Thông qua việc thực hiện Hương ước, các quy định của pháp luật sẽ được biết đến nhiều hơn, đi sâu vào cộng đồng dân cư hơn.

2. Đánh giá việc đưa các quy định pháp luật vào Hương ước và thực thi Hương ước hiện nay

3.1. Thực tiễn đưa các quy định pháp luật vào Hương ước

Thứ nhất, qua hơn 10 năm chủ trương thực hiện xây dựng Hương ước thôn, làng thống nhất trên cả nước đã có những thành công nhất định. Trong đó, việc chuyển tải các quy định pháp luật vào Hương ước là một thành công đáng ghi nhận. Các hình thức chuyển tải khá sáng tạo, phù hợp với đặc thù của địa bàn dân cư cụ thể. Ví dụ như hình thức chuyển các quy định pháp luật vào những nội dung các bản Hương ước, rồi thông qua già làng của các thôn, các bản làng trong xã để dịch ra tiếng H’rê lồng vào các buổi sinh hoạt, lễ hội của các làng để phổ cập đến đồng bào H’rê. Đó là cách làm đầy sáng tạo của tư pháp xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định[8]. Từ năm 2000, khi có chủ trương xây dựng Hương ước thôn, làng, cán bộ tư pháp xã An Hưng đã chuyển các quy định Luật Hôn nhân và gia đình; các quy định về dân tộc thiểu số, đăng ký và quản lý hộ tịch thành những quy định ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ như: quy định nam trên 20 tuổi, nữ trên 18 tuổi mới được đăng ký kết hôn; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng phải bình đẳng, tôn trọng và chung thuỷ; vợ chồng chỉ được sinh từ 1 đến 2 con, tránh đẻ dày; xoá bỏ các tục lệ rườm rà kém văn minh trong ma chay, cưới hỏi… thành những điều khoản dễ nhớ để đưa vào Hương ước. Để phổ biến nội dung Hương ước đến từng hộ đồng bào dân tộc H’rê ở đây, cán bộ tư pháp xã cũng đã đề xuất Ủy ban nhân dân xã hỗ trợ kinh phí để photo và cấp phát mỗi hộ một bản Hương ước bằng tiếng H’rê để thường xuyên học tập và thực hiện. Lựa chọn một số điều khoản trong Hương ước thiết thực với người dân, cán bộ tư pháp phóng to bằng chữ H’rê dán giữa nhà rông, mục đích để mọi người trước khi họp làng cùng đọc, cùng kiểm điểm lại những việc làm được và chưa làm được. Với những hình thức thiết thực như vậy, Hương ước và bản thân các quy định pháp luật đã dần trở nên gần gũi, quen thuộc hơn với người dân, nhất là ở những khu vực vùng sâu, vùng xa.

Thứ hai, không phải bất cứ nội dung nào của Hương ước cũng đều là sự ghi nhận lại các quy định pháp luật[9] bởi còn có những lệ riêng của thôn, làng nữa. Từ đó, các Hương ước thường tập trung chuyển tải nội dung các quy định pháp luật về một số vấn đề nhất định, ví dụ như về hôn nhân gia đình, dân số – kế hoạch hóa, bảo vệ môi trường, bảo vệ di sản văn hóa, bảo vệ nền văn hóa dân tộc,… Trong đó, các nội dung liên quan đến dân số, bảo vệ môi trường, bảo vệ di sản văn hóa thường được quan tâm xây dựng, chuyển tải quy định pháp luật vào Hương ước hơn cả. Đây chính là những vấn đề gần gũi, sát với đời sống cộng đồng và cần thiết hơn cả nhất là trong tình hình hiện nay khi chất lượng bảo vệ môi trường cũng như các truyền thống dân tộc đang đi xuống một cách nghiêm trọng.

Thứ ba, thực tế việc chuyển tải các quy định pháp luật vào Hương ước không làm mất đi bản chất của một quy phạm xã hội. Quy phạm xã hội khác quy phạm pháp luật, không bắt buộc tất cả mọi người phải làm theo mà chỉ những người có liên quan, chịu ảnh hưởng của quy phạm xã hội đó mới phải thực hiện. Trong thời kì công xã nguyên thủy, con người chưa biết đến pháp luật. Tuy nhiên, để quản lí mọi mặt đời sống, tổ chức thị tộc cần một công cụ, đó là các quy phạm xã hội, tồn tại dưới dạng các phong tục, tập quán, tín điều tôn giáo. Đây là những thói quen, niềm tin được hình thành từ lâu đời, được mọi người chấp nhận một cách phổ biến và tự nguyện tuân theo. Ngày nay, Hương ước dường như có tính hệ thống hơn, gần gũi và có tầm quan trọng hơn đối với cộng đồng dân cư. Việc đưa các quy định pháp luật vào Hương ước làm cho quy phạm pháp luật được nhân dân biết đến nhiều hơn, hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyển pháp luật nhưng không làm mất đi bản chất của Hương ước bởi việc xây dựng, ban hành Hương ước vẫn như cũ, vẫn đảm bảo bản chất vốn có. Dĩ nhiên, Hương ước vẫn là quy phạm xã hội, trong một chừng mực nào đó việc tuân thủ cũng có phần hạn chế nhất định.

Thứ tư, vai trò của cán bộ tư pháp, đặc biệt là cán bộ tư pháp xã ngày càng được phát huy trong việc xây dựng Hương ước ở địa phương. Theo quy định của Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN cán bộ tư pháp cấp xã có các nhiệm vụ: chỉ đạo, hỗ trợ các làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư xây dựng Hương ước phù hợp; chuẩn bị hồ sơ để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cấp xã kiểm tra, tạo điều kiện cho việc phổ biến, tuyên truyền và tổ chức thực hiện Hương ước; phát hiện và chấn chỉnh mọi biểu hiện sai trái, lệch lạc, tiêu cực trong việc xây dựng và thực hiện Hương ước, định kỳ báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp về việc xây dựng và thực hiện Hương ước ở địa phương. Theo đó, trong thời gian qua, trong việc xây dựng Hương ước, đặc biệt là việc chuyển tải các nội dung pháp luật vào Hương ước đã cho thấy vai trò quan trọng của các cán bộ tư pháp cấp xã. Việc chuyển các quy phạm pháp luật thành các quy định đơn giản, dễ hiểu bằng nhiều hình thức khác nhau vào Hương ước là sự sáng tạo, nỗ lực của các cán bộ tư pháp. Qua đó cho thấy, công tác tư pháp của cấp cơ sở có những đặc thù nhất định đòi hỏi phải có sự am hiểu, đi sâu đi sát và sống cùng cộng đồng dân cư mới có thể thực hiện tốt được.

Bên cạnh đó, việc đưa nội dung pháp luật vào Hương ước còn có những hạn chế nhất định. Vẫn tồn tại nhận thức sai lầm như cho rằng toàn bộ nội dung của một bản Hương ước đơn giản chỉ là đưa các quy định pháp luật của Nhà nước vào (từ đó làm mất đi bản chất cũng như bản sắc của Hương ước). Nội dung của một số Hương ước mới còn sơ sài, lặp lại pháp luật và chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách khô khan, thiếu cụ thể, chưa sát thực với điều kiện và đặc điểm của từng làng, câu chữ trong văn bản còn nặng tính hô hào, khẩu hiệu[10]. Có không ít bản Hương ước có những điều khoản không đúng với tinh thần của pháp luật, can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân, đi ngược lại cả những phong tục truyền thống từ lâu đời, thậm chí quy định cả những “hình phạt” vốn không thuộc thẩm quyền của cấp cơ sở. Nơi này, nơi kia chúng biến tướng thành một thứ “lệ làng” – với nghĩa tiêu cực của từ này – do các ông trưởng thôn, chủ tịch xã quan liêu, hách dịch, thiếu hiểu biết, tùy tiện đặt ra bắt dân phải tuân theo[11]. Một số ý kiến cũng cho rằng việc đưa nội dung quy định pháp luật vào Hương ước là không cần thiết bởi Hương ước chỉ nên quy định những vấn đề nhỏ, lẻ, quy tắc của một cộng đồng nhỏ còn quy định pháp luật đã được Nhà nước ban hành và buộc phải áp dụng trên toàn quốc.


[1] Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[2] Hương ước làng Quỳnh Đôi – Nghệ Tĩnh có tới 4 điều khoản nói về vấn đề này, trong đó điều 9 quy định “làng xét các nơi trong đồng điền nơi nào trồng hoa quả thì trồng cho hết không được bỏ hoang… Nếu có người không cày bừa để ruộng vườn hoang thì phải phạt”. Tuy nhiên, quy định về chế độ ruộng đất cơ bản đã bị bãi bỏ vì hiện nay quy định này thuộc thẩm quyền của Nhà nước quản lý.

[3] Điều 113 Hương ước làng Quỳnh Đôi – Nghệ Tĩnh quy định: “Nguyên làng ta có một dải ruộng hoang ở xứ Đập Bản và Vụng Cầu, làng nên cho khai khẩn thành ruộng trồng trọt để làm mối lợi thêm cho dân làng, nay làng bản hễ người nào có sức phá vỡ ra cày cấy được khoảng 4 năm, làng cho ăn không phải nộp thuế, ngoài 4 năm thì cứ lấy lúa trên ruộng, được bao nhiêu làng chia 3, làng chỉ lấy 1 phần, làng làm như thế trong 20 năm, hết hạn phải giao ruộng cho làng”.

Hương ước các làng còn quy định về những điều xử phạt rất nghiêm đối với những hành vi gây ô uế không khí, làm nhiễm bẩn nguồn nước, làm lây lan dịch bệnh trong xóm làng. Như điều 46 Hương ước làng Thanh Liệt (nay thuộc huyện Thanh Trì) ghi: “Người ta ai có mạnh khoẻ thì mới sống lâu, muốn dân làng được mạnh khoẻ thì ai cũng phải biết giữ gìn vệ sinh chung và vệ sinh riêng”.

[4] Tiết kế 1 trong Hương ước của làng Quýt Lâm, phủ Mộ Đức có ghi: “Sở đình hay nhà hội trong làng, nơi căn giữa, thì chức sắc ngồi từng trước, mấy người kỳ lão có danh vọng ngồi từng sau, chức sắc nhượng theo chức hàm, kỳ lão nhượng theo niên xỉ, thủ thứ mà ngồi”.

[5] Hương ước làng Quýt Lâm, phủ Mộ Đức có ghi các Tế tự gồm: Lễ Nguyên đán, Lễ tế Xuân thủ, Lễ cúng Hành khiển, Thượng điền, Hạ điền… Trong đó, Khoản 3, Tiết thứ 2 ghi rõ: “Mỗi năm đến sớm mai ngày 15 tháng giêng, thì tế Xuân thủ tại đình, thường dùng một con heo và phẩm vật, lựa một người kỳ cực đứng vai cứng, lễ ấy chi bạc năm đồng năm giác”.

[6] Ví dụ như về việc mất trộm, trong Hương ước làng Quýt Lâm có ghi: “Hễ nhà ai bị ăn trộm mất đồ vật gì, mà sự chủ vẫn biết đồ ấy hiện chứa tại nhà nào, thì phải chiếu theo tục cũ, lập tức tường với chức việc sở tại, thị thiền cho soát xét, như xét được quả tang, khinh thì phân xử, trọng thì giãi trình”.

[7] Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/10/2000.

[9] Thực chất chỉ cần các quy định của Hương ước đáp ứng được yêu cầu không trái với quy định pháp luật.

[10] PGS.TS. Bùi Xuân Đức, Hương ước mới: những vấn đề điều chỉnh pháp luật.

[11] Số liệu thống kê cho thấy trong số 230 hương ước trái pháp luật mà Viện Kiểm sát của 29 tỉnh phát hiện trong những năm 1999 đến tháng 8 năm 2001 thì có khá nhiều bản có nội dung không chỉ trái với quy định của pháp luật Nhà nước mà còn trái cả với nhân tính, đạo lý của nhân dân ta. Chẳng hạn, Hương ước của làng Bình Lộc, xã Bình Điền, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế quy định phụ nữ 20 tuổi, nam giới 22 tuổi mới được kết hôn. Điều này là trái với Luật Hôn nhân và Gia đình. Quy ước của 7 làng thuộc huyện Hương Trà quy định phụ nữ nào không lấy được chồng thì trên 30 tuổi mới có quyền làm mẹ và chỉ được sinh 1 con. Có hương ước (số này không ít, chiếm tới 7%) quy định hình thức “xử lý hình sự” đối với các tội: đánh bạc, trộm cắp, mua bán, tiêm chích ma túy… mà như đã biết những tội và hình phạt này được quy định trong Bộ luật Hình sự. Có hương ước nêu thành nguyên tắc: “Nếu người làng không chấp hành đúng hương ước, quy ước của làng, xã thì sẽ bị xử lý hình sự”. Xem: Mạnh Quân, “Lệ làng”: Lắm khi hơn cả “phép vua”, Báo Thanh Niên, số ra ngày 25/8/2001.

Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Pháp luật hành chính Nhà nước

2 phản hồi on “THỰC TIỄN ĐƯA PHÁP LUẬT VÀO HƯƠNG ƯỚC VÀ THỰC THI HƯƠNG ƯỚC HIỆN NAY”

  1. lan anh Says:

    Bài viết của anh rất hay, có ý nghĩa cho việc áp dụng pháp luật tương tự.
    Anh giải đáp giúp em mục đích của việc đưa pháp luật vào đời sống là gì?

    • Mr.PigLet Says:

      Cảm ơn em đã đọc bài của anh nhé🙂.
      PL được ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ của xã hội, xuất phát từ đời sống, xã hội nên phải đưa PL vào đời sống thì PL mới có ý nghĩa, có sức sống được chứ em🙂


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: