KHUNG CHÍNH SÁCH CHO VIỆC ĐỊNH CƯ DÂN TRÊN CÁC HẢI ĐẢO


ThS. Dương Bạch Long[1]

Trương Hồng Quang[2]

 1. SƠ LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ ĐỊNH CƯ DÂN TRÊN CÁC HẢI ĐẢO

Đưa dân ra đảo, hải đảo để định cư là một trong những chính sách quan trọng trên nhiều phương diện của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, việc đưa người dân ra hải đảo sinh sống ổn định có ý nghĩa rất lớn đối với an ninh, quốc phòng. Một mặt chính sách này góp phần khẳng định chủ quyền của quốc gia, mặt khác, tạo ra một môi trường sinh sống mới, xây dựng kinh tế mới để tạo ra sự đa dạng trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

 Tại Việt Nam, ngay từ thế kỷ XVII, những đội dân binh đã được đưa ra hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Tới năm 1816, chúa Nguyễn đã cử đội thủy binh đầu tiên ra đảo phối hợp với dân binh bảo vệ vùng biển và khai thác nguồn lợi thủy hải sản. Họ được triều đình cấp lương thực để sống trong 6 tháng, sau đó trở về đất liền tránh bão biển. Hiện nay, chúng ta cũng đang học cách của cha ông thuở trước nhưng với điều kiện mới, có thể xây dựng cơ sở kỹ thuật hiện đại hơn để người dân sinh sống lâu dài trên đảo. Điều đó không chỉ giúp ngư dân đánh bắt cá xa bờ cảm thấy yên tâm hơn mà còn là cách khẳng định chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ của Việt Nam”[3].

Có thể nhận thấy, xây dựng các vùng kinh tế mới là là một chính sách của Chính phủ Việt Nam nhằm tổ chức, phân bố lại lao động và dân cư trong cả nước, chuyển một khối lượng lớn dân cư từ các vùng đồng bằng và thành phố tới các vùng trung du, miền núi, biên giới, hải đảo. Chính sách này được triển khai tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1961 và trên toàn quốc từ sau khi đất nước thống nhất cho đến tận năm 1998. Trong 27 năm, Việt Nam đã di chuyển có tổ chức được 1.368.691 hộ, trong đó di cư trong nội bộ tỉnh là 702.761 hộ với 3 342.253 người, từ tỉnh này sang tỉnh khác là 665.930 hộ với 2.809.373 người[4]. Các chủ trương này xuất phát từ nhiều lý do. Về lý do kinh tế, năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết đại hội về các nhiệm vụ của kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất, trong đó có đoạn: “Phải phân bố hợp lý sức sản xuất ở đồng bằng, trung du và miền núi, điều chỉnh sức người giữa các vùng, quy hoạch từng bước các vùng kinh tế, thực hiện sự phân công phối hợp giữa các vùng kinh tế với nhau”. Chủ trương này của Đảng Lao động Việt Nam được thực hiện bằng việc tổ chức di dân từ các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng lên sinh sống và sản xuất tại các địa phương miền núi và trung du phía Bắc. Năm 1976, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV về Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của Kế hoạch 5 năm 1976-1980 có đoạn: Sử dụng hết mọi lực lượng lao động xã hội; tổ chức và quản lý tốt lao động, phân bố lại lao động giữa các vùng và các ngành nhằm tăng rõ rệt năng suất lao động xã hội. Trong khi việc di dân từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng lên các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là các tỉnh biên giới vẫn được tiếp tục, các chương trình di chuyển lao động và di dân từ các tỉnh đồng bằng phía Bắc tới Tây Nguyên (đặc biệt là Đăk Lăk, Lâm Đồng), Đông Nam Bộ (đặc biệt là Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai), di dân từ thành phố Hồ Chí Minh sang các địa phương nông thôn ở Đông và Tây Nam Bộ được triển khai. Việc tổ chức di dân được giao cho chính quyền các địa phương và Tổng cục Khai hoang xây dựng kinh tế mới và sau này là Ban chỉ đạo Phân bố lao động và dân cư trung ương thực hiện. Nhà nước khuyến khích mọi người lao động và gia đình chuyển đến làm ăn các vùng kinh tế mới, trước hết là lao động những vùng nông thôn có mức bình quân ruộng đất thấp và không có điều kiện phát triển ngành nghề, lao động ở thành thị thiếu việc làm hoặc không có điều kiện để được sử dụng hợp lý. Các thành phần ở vùng kinh tế mới tuyển lao động theo độ tuổi tối đa 40 đối với nam và 35 đối với nữ. Đối với người có nghề chuyên môn, dân tộc ít người, hoặc trường hợp cần tuyển cả vợ chồng thì có thể tuyển với độ tuổi cao hơn (nam 45, nữ 40). Miền đất đến chủ yếu là vùng làm kinh tế ở hải đảo, vùng sâu vùng xa, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. Người dân miền Bắc theo các chuyến tàu Bắc Nam, Người miền Nam theo xe đò được cấp tiền vé, trang bị cho mỗi lao động hai công cụ sản xuất thích hợp. Các gia đình có nhiều khó khăn được trợ cấp, được bảo vệ sức khỏe, cung cấp hàng hóa trước khi lên vùng kinh tế mới, mua mặt hàng theo tem phiếu đã cấp. Khuyến khích làm kinh tế gia đình. Về lý do chính trị, sau năm 1975 ngoài lý do kinh tế, việc di dân ra vùng kinh tế mới còn có chủ ý chính trị để giảm số người thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa tập trung ở những đô thị, nhất là vùng Sài Gòn để dễ kiểm soát phần tử chống đối. Phương pháp cưỡng bức dân thành thị đi kinh tế mới gồm thu hồi hộ khẩu, rút thẻ mua gạo và các nhu yếu phẩm, và cấm trẻ em nhập học khiến đối tượng phải di chuyển ra vùng nông thôn. Theo lệnh ngày 19/5/1976 thì chính phủ đề ra năm hạng dân thành thị phải chuyển ra vùng kinh tế mới:

  1. Dân thất nghiệp
  2. Dân cư ngụ bất hợp pháp
  3. Dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho công chức và quân nhân
  4. Tiểu thương gia, tiểu địa chủ, đại thương gia
  5. Người gốc Hoa, dân theo đạo Công giáo.

Tổng kết di dân vùng kinh tế mới từ năm 1976 đến năm 2000[5]

Kế hoạch 5 năm

Chỉ tiêu

Thực hiện

Trung bình mỗi năm

1976-1980

4 triệu

1,5 triệu

304.120

1981-1985

1 triệu

1,3 triệu

251.460

1986-1990

1,6 triệu

1,1 triệu

228.520

1991-1995

1 triệu

0,9 triệu

180.400

1996-2000

1 triệu

0,2 triệu

105.350

Tổng cộng

8,6 triệu

5 triệu

239.700

          Một vấn đề có thể đề cập đến nữa là sự cần thiết của việc đưa dân ra đảo và tạo điều kiện định cư cho dân ở đảo trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền về lãnh thổ. Về mặt lịch sử, biển gắn bó mật thiết và có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước ta. Các thế hệ người Việt đã gắn bó với biển và có sinh kế phụ thuộc vào biển cả, đặc biệt đối với người dân sống ở các huyện ven biển và hải đảo (chiếm 17% tổng diện tích và khoảng trên 23% dân số cả nước). Nước ta có lợi thế “mặt tiền hướng biển”, thuận lợi trong giao thương với thế giới bên ngoài nhưng cũng “xung yếu” về mặt an ninh, quốc phòng. Cho nên, chủ trương gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển là hết sức đúng đắn, mang tính nhất quán trong tư tưởng chỉ đạo của Đảng – Xây dựng đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, mang tính thực tiễn trong bối cảnh của một khu vực địa chính trị cực kỳ phức tạp – biển Đông. Việt Nam là một quốc gia ven biển có bờ biển dài trên 3.200 km, có các vùng biển và thềm lục địa khoảng một triệu km2, gần 3.000 đảo nằm rải rác trên biển Đông từ Bắc chí Nam, bao gồm các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm giữa biển. Biển và đảo ngày càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị… Vì vậy, lịch sử phát triển của đất nước ta luôn gắn chặt với việc bảo vệ các vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền của đất nước. Hiện nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện, Đại hội Đảng lần thứ X (2006) chỉ rõ: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế (…) nhanh chóng phát triển kinh tế-xã hội ở các hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Theo luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 và các Tuyên bố, các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước được ban hành trong mấy chục năm gần đây, Việt Nam có chủ quyền và quyền tài phán đối với những vùng biển và hải đảo của mình với các chế độ pháp lý khác nhau. Ở biển Đông, Việt Nam có khoảng 3.000 đảo, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở hai khu vực vịnh Bắc bộ và Nam bộ. Những đảo, quần đảo ven biển có dân cư sinh sống như: Cô Tô, Cái Bầu (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Hòn Lớn, Hòn Tre (Khánh Hòa), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du (Kiên Giang)… Đặc biệt có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ngoài khơi phía Đông tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận vào đến các tỉnh Nam bộ, bao gồm nhiều đảo nhỏ, nhiều bãi cát ngầm, bãi đá, bãi san hô. Nhiều đảo đã có dân sinh sống hàng thế kỷ nhưng còn một số đảo chưa có. Việc đưa dân ra đảo này lập nghiệp ngoài việc phát triển kinh tế còn nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Người dân Việt Nam đã ra sinh sống tại các đảo từ nhiều thế kỷ trước, nhưng vẫn mang tính chất tự phát. Từ những năm 1980 trở lại đây, đưa dân ra đảo đã trở thành chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Theo đó, ngoài phát triển kinh tế biển đảo, việc đưa dân ra đảo sinh sống còn nhằm mục đích an ninh quốc phòng, khẳng định và giữ vững chủ quyền biển đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong 130 quốc gia bỏ phiếu thông qua, là một trong 119 quốc gia ký và là quốc gia thứ 63 phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (ngày 23/6/1994, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 5 đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước). Ngày 16/11/1994, Công ước có hiệu lực thi hành. Chúng ta có đường biên giới trên biển với Trung Quốc và Campuchia, có vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa chung với hầu hết các nước xung quanh Biển Đông như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philipin và Brunei. Đến nay, chúng ta đã ký kết được Hiệp định về ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan ngày 09/8/1997 (đã được phê chuẩn tại Quyết định của Chủ tịch nước số 23-QĐ/CTN ngày 29/12/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 27/02/1998), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc ngày 25/12/2000 và Hiệp định phân định vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam -Indonesia ngày 26/6/2003 (đã được phê chuẩn tại Quyết định của Chủ tịch nước số 846/2003/QĐ/CTN ngày 18/1l/2003). Hiện nay, trên biển chúng ta còn bốn vấn đề lớn liên quan đến biên giới lãnh thổ cần phải giải quyết, đó là (1) tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc; (2) tranh chấp chủ quần trên quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6 bên gồm Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và Brunei; (3) phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và (4) việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa. Trong đó, việc giải quyết tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đặc biệt phức tạp và khó khăn do vị trí chiến lược của hai quần đảo này cũng như các yếu tố tài nguyên ở khu vực xung quanh hai quần đảo; do mối quan hệ mật thiết với các vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển khác cũng như ảnh hưởng tới quan hệ giữa các nước liên quan. Đây cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của các cường quốc và là yếu tố đảm bảo sự cân bằng và ổn định trên Biển Đông. Vì vậy, việc di dân ra đảo rất cần thiết và cấp bách để giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc phòng trên vùng biển rộng lớn của nước ta, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và phục vụ thiết thực cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Hiện nay, về điều kiện thực tế, các huyện đảo của Việt Nam chia thành ba nhóm là các nhóm huyện đảo tiền tiêu – biên giới (Cô Tô, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ), nhóm huyện đảo tiền tiêu (Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo) và nhóm huyện đảo tuyến trong (Vân Đồn, Cát Hải, Kiên Hải). Về các điều kiện tự nhiên, hệ thống đảo ở nước ta ngoài hai vùng đảo – biển xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa là các quần đảo san hô còn năm vùng đảo – biển ven bờ với 13 cụm đảo. Các đảo, cụm đảo, và vùng đảo – biển có vị trí vô cùng quan trọng và có nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá và phong phú về khoáng sản, hệ sinh thái, cảnh quan. Trong quá trình thực hiện việc di dân ra đảo, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và thực thi các giải pháp cụ thể. Được sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, ngành ở trung ương, và địa phương, hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội tham gia đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản lý 12 huyện đảo, làm thay đổi diện mạo vùng đảo trên, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, nhiều huyện đảo vẫn còn nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng xã hội, như điện, đường, trường, trạm, nhất là nước sinh hoạt. Các đảo nhìn chung gặp khó khăn về nguồn nước ngọt, đất trồng trọt, hay gặp thời tiết bất thường. Bên cạnh đó chỉ có một số đảo có công trình văn hoá phúc lợi. Hơn nữa, một số chính sách và biện pháp trước đây nay không còn phù hợp, cần được cấp bách bổ sung, điều chỉnh để tạo ra các bước đột phá mới trong công cuộc phát triển kinh tế biển phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước.

2. CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM VỀ ĐỊNH CƯ DÂN TRÊN CÁC HẢI ĐẢO

2.1. Các chính sách cơ bản nhằm định cư dân trên các hải đảo

Văn bản sớm nhất liên quan đến chính sách định cư dân trên các hải đảo chính là Chỉ thị số 429-CP ngày 5/12/1979 thực hiện chính sách đối với cán bộ miền núi, hải đảo do Thường vụ Hội đồng Chính phủ ban hành. Có thể thấy văn bản này tập trung vào chính sách đối với cán bộ miền núi, hải đảo, với những nội dung như: cán bộ công tác lâu dài ở các xã, hợp tác xã, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, thị xã, thị trấn ở sát biên giới phía Bắc và các hải đảo xa (những hải đảo có phụ cấp khu vực từ 40% trở lên như đã quy định trong các văn bản của Chính phủ và của các Bộ có liên quan) được phụ cấp khuyến khích bằng 20% lương cấp bậc; công tác lâu dài ở các xã, hợp tác xã thuộc miền núi, biên giới và các hải đảo khác (trừ những đảo xa đã nói ở trên) và các cơ quan của huyện ở biên giới phía Bắc được phụ cấp bằng 10% lương cấp bậc; Học sinh các trường chuyên nghiệp: đại học, trung cấp, công nhân học nghề,… tốt nghiệp ra trường được phân công công tác ở miền núi, biên giới, hải đảo, kể cả người địa phương và những nơi khác đến, đều được hưởng 100% lương khởi điểm và được giảm một phần ba (1/3) thời gian tập sự; Cán bộ, công nhân, nhân viên công tác ở miền núi, biên giới, hải đảo đi nghỉ phép hàng năm, khi đi đường được thanh toán tiền tàu xe và các khoản phụ cấp khác như đi công tác; khi đi công tác xuống xã, hợp tác xã được phụ cấp công tác phí, kể cả phụ cấp lưu trú.  Chủ trương di dân ra đảo đã được kiên trì thực hiện trong hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp dân đã ra đảo sống một thời gian rồi lại quay về do điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội trên đảo chưa đảm bảo để dân yên tâm, ổn định cuộc sống lâu dài. Nguyên nhân quan trọng xuất phát từ hệ thống chính sách của Nhà nước trong thời kỳ này còn chưa chú trọng đến vấn đề định cư dân ở đảo và vướng nhiều hạn chế cũng như khó khăn nhất định.

Trong những giai đoạn tiếp theo, Việt Nam đã dần ban hành nhiều chính sách liên quan đến di dân và định cư ở đảo, hải đảo hơn so với giai đoạn trước kia[6]. Một số văn bản có thể kể đến như Thông tư số 04/LĐTBXH-Đ ngày 14/2/1995 hướng dẫn về chế độ trợ cấp cho hộ gia đình di dân ra đảo do Bộ Lao động, thương binh và xã hội ban hành[7]; Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc, Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 3/1/2002 sửa đổi Nghị định 20/1998/NĐ-CP về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số và Thông tư liên tịch số 07/2002/TTLT-BTM-UBDTMN-BTC-BKHĐT ngày 12/8/2002 của Bộ Thương mại, Uỷ ban Dân tộc, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, về hướng dẫn thi hành hai Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 và Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 03/01/2002 nêu trên. Qua những văn bản này đã cho thấy chúng ta đã dần quan tâm đến việc tạo ra những điều kiện thuận lợi phát triển thương mại, kinh tế cho vùng hải đảo – một trong những điều kiện quan trọng để góp phần ổn định đời sống, nhân dân có thể yên tâm sinh sống lâu dài ở vùng hải đảo hơn.

Tiếp theo đó, ngày 16/09/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 190/QĐ-TTg về chính sách di dân, thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003-2010. Theo đó, những hộ dân di chuyển ra hải đảo nhận được mức hỗ trợ từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ. Ngoài ra, đối với những hộ dân do điều kiện sản xuất và đời sống quá khó khăn phải di chuyển đến các dự án trong và ngoài tỉnh được hỗ trợ từ 2-8 triệu đồng/hộ. Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 09/2004/TTLT-BNN-BTC hướng dẫn chế độ hỗ trợ di dân theo Quyết định 190/2003/QĐ-TTg về chính sách di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003 – 2010 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính ban hành đã có những quy định cụ thể hơn về chế độ hỗ trợ đối với các đối tượng di dân ra hải đảo sinh sống. Có thể thấy, Quyết định số 190 nói trên là một trong những văn bản quan trọng nhất đối với vấn đề định cư dân ở đảo, hải đảo bởi theo quy định hiện nay thì chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình được bố trí, sắp xếp, ổn định ở các xã biên giới Việt – Lào, Việt – Cămpuchia, hải đảo: thực hiện  theo qui định tại Quyết định số 190/2003/QĐ-TTg, ngày 16/9/2003 Thủ tướng Chính phủ và Thông tư Liên tịch số 09/2004/TTLT-BNN-BTC ngày 31/3/2004 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ hỗ trợ di dân theo Quyết định số 190/2003/QĐ-TTg ngày 16/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

          Xuất phát từ những vấn đề cấp bách của công tác di dân thực hiện bố trí dân cư trong thời gian qua, ngày 24/08/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg “Phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2015”[8] (gọi tắt là Quyết định 193). Mục tiêu của Quyết định 193 là thực hiện quy hoạch, bố trí, sắp xếp lại dân cư ở những vùng cấp bách như: vùng thiên tai và vùng đặc biệt khó khăn về đời sống, vùng biên giới, hải đảo, ổn định dân di cư tự do, vùng xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, giảm nghèo và bảo vệ môi trường và củng cố an ninh, quốc phòng. Đáng lưu ý là mục tiêu di dân, phát triển vùng kinh tế mới không còn là mục tiêu của Quyết định 193[9]. Để triển khai thực hiện Quyết định 193, Chính phủ ban hành một số chính sách liên quan đến đất đai, hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, và hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình. Để cụ thể về chính sách hỗ trợ gia đình di dân, thực hiện bố trí dân cư theo Quyết định 193, Chính phủ đã ban hành Quyết định 78/2007/QĐ-TTg “Về một số chính sách thực hiện Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ” với một số nội dung như:

(i) Hộ gia đình di chuyển ra hải đảo, mức hỗ trợ như sau:

– Đối với đảo cách đất liền dưới 50 hải lý là 80 triệu đồng/hộ, trong đó hỗ trợ ở nơi đi 8 triệu đồng/hộ, hỗ trợ ở nới đến 72 triệu đồng/hộ;

– Đối với đảo cách đất liền từ 50 hải lý trở lên là 132 triệu đồng/hộ, trong đó hỗ trợ ở nơi đi 12 triệu đồng/hộ, hỗ trợ ở nới đến 120 triệu đồng/hộ;

– Đối với đảo có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, phương tiện vận chuyển khó khăn, mức hỗ trợ căn cứ theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

(ii) Chính sách hỗ trợ cộng đồng: hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu đối với vùng bố trí, sắp xếp dân cư tập trung, bao gồm các hạng mục: Bồi thường, giải phóng mặt bằng (nếu có); san lấp mặt bằng đất ở tại điểm tái định cư; khai hoang đất sản xuất; đường giao thông (nội vùng dự án và đường nối điểm dân cư mới đến tuyến giao thông gần nhất); thủy lợi nhỏ; phòng học bậc phổ thông cơ sở, nhà mẫu giáo, nhà trẻ; trạm y tế; công trình cấp nước sinh hoạt tập trung và một số công trình thiết yếu khác; có chính sách khuyến khích mô hình di dân xen ghép để giảm bớt sức ép về đất đai và cơ sở hạ tầng khi xây dựng dự án tái định cư tập trung.

Nhà nước cũng có những chính sách liên quan đến dân số ở đảo, hải đảo Việt Nam. Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện với nhiều mô hình hiệu quả, đề án kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển (đề án 52) đã thu được những kết quả khả quan, góp phần cải thiện và nâng cao sức khoẻ, chất lượng sống của người dân nơi đây. Tuy nhiên, công tác dân số miền biển vẫn còn nhiều gian nan[10]. Đề án 52 được triển khai từ năm 2009 với mục tiêu là từng bước hoàn thiện và ban hành chính sách đặc biệt về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình (SKSS/KHHGĐ), từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng dân số để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư, làm ăn lâu dài trên biển, vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển Tổ quốc. Cho tới nay, 28/28 tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương đã phê duyệt đề án 52 giai đoạn 2009 – 2020; 26 tỉnh, thành phố thành lập Ban Quản lý Đề án cấp tỉnh; 149 quận, huyện thành lập tiểu ban quản lý cấp huyện (trừ 2 huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Đặc biệt có 12 tỉnh, thành phố được hỗ trợ thêm kinh phí hoạt động từ nguồn của địa phương (Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bạc Liêu và Kiên Giang) với tổng số khoảng 9 tỷ đồng. Tính đến nay, 28 tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương đã thành lập được 169 đội lưu động, bình quân mỗi đơn vị cấp huyện có 1 đội lưu động, 17 tỉnh đã thành lập mỗi tỉnh 1 đội lưu động tuyến tỉnh để hỗ trợ kỹ thuật cho đội lưu động tuyến huyện. Các đội lưu động đã tổ chức truyền thông, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, KHHGĐ; chăm sóc SKSS cho các nhóm đối tượng của đề án.

Một vấn đề quan trọng phải đề cập đến, đó là vấn đề kinh tế biển, trong đó có phát triển kinh tế ở các đảo, hải đảo. Tư tưởng chỉ đạo lớn nhất về biển đảo của cách mạng là lời dạy của Bác Hồ năm 1961 “Ngày trước, ta  chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển… bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó[11]. Lời dạy của Bác đã khẳng định chủ quyền trọn vẹn của Tổ quốc ta bao gồm cả vùng đất, vùng trời, vùng biển; khẳng định vị trí chiến lược của biển nước ta cả về kinh tế lẫn an ninh quốc phòng và nhiệm vụ giữ biển là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV ngày 14/12/1976 đã đề cập đến một nền kinh tế mới- kinh tế miền biển : “tiến hành phân vùng quy hoạch sản xuất để phát triển tất cả các vùng: đồng bằng, trung du, miền núi và miền biển”[12]. Đại hội cũng đề ra chủ trương “…xây dựng ngành hải sản nước ta thầnh một ngành công nghiệp quan trọng”, “đóng tàu vận tài biển, tàu đánh cá, tàu hút bùn”, “Phát triển nhanh đội tàu biển, xây dựng, mở rộng, quản lý tốt hệ thống cảng biển”. Đại hội còn nêu chỉ tiêu cụ thể sản xuất  1 triệu tấn cá. Đại hội lần thứ VI của Đảng là đại hội của đường lối “đổi mới”đã nêu rõ: nước ta có đất liền, có vùng biển rộng lớn, có khả năng phát triển nghề cá, giao thông vận tải đường biển…, kết hợp kinh tế với quốc phòng, xác định phát triển kinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Đặc biệt, từ năm 1989, ta bắt đầu có thêm hai mặt hàng xuất khẩu lớn có giá trị chiến lược là gạo và dầu thô. Xuất khẩu dầu thô đươc khai thác ngoài khơi là một thành phần chủ yếu của sự phát triển không ngừng của kinh tế biển Việt Nam đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã thông qua phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền, quyền lợi quốc gia trên biển của nước ta từ nay đến năm 2000 là “Từng bước khai thác toàn diện các tiềm năng to lớn của biển, phát triển kinh tế hải đảo, làm chủ lãnh hải và thềm lục địa, thực hiện chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế”, tạo ra bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền, tăng cường quốc phòng và an ninh trên biển ở Việt Nam. Báo cáo chính trị tại Đại Hội Đảng cũng nêu rõ:”Khai thác tổng hợp kinh tế biển, nuôi trồng , đánh bắt và chế biến thuỷ sản, nhất là các loại có khả năng xuất khẩu, gắn liền với chiến lược khai thác và bảo vệ vùng biển của đất nước”. Như vậy, Đại Hội Đảng đã nêu ra các quan điểm mới trong chính sách và quản lý nhà nước về biển, đó là quan điểm tổng hợp , toàn diện và kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng an ninh trên biển. Ngày 5/6/1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 03-NQ/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt. Nghị quyết của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: ” Vị trí và đặc điểm địa lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia , bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển”, “Trở thành một nước mạnh về kinh tế biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam”. Ngày 5/8/1993, Thủ tướng Chính  phủ đã ra Chỉ thị 399 về kế hoạch triển khai Nghị quyết 03 NQ/TW của Bộ Chính trị.

Trên tinh thần phương hướng nhiệm vụ và những thành quả của công cuộc phát triển kinh tế biển, tăng cường quốc phòng an ninh trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII,  Đại hội VIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vị trí và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế biển, đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ như sau: Khai thác tối đa tiềm năng biển và lợi thế vùng biển, ven biển, kết hợp với an ninh quốc phòng; xây dựng cơ cấu kinh tế trong vùng hướng mạnh về xuất khẩu; hình thành các trung tâm kinh tế biển, các đô thị lớn, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch và thương mại với hệ thống cảng biển được mở rộng và xây dựng mới, nhất là các cảng nước sâu;phát triển các hành lang kinh tế ven biển”. Trong 11 chương trình và lĩnh vực phát triển mà Đại hội đã đề ra có các chỉ tiêu cụ thể về kinh tế biển như sau: sản lượng thuỷ hải sản khoảng 1,6-1,7 triệu tấn, xuất khẩu thuỷ hải sản 1-1,1 tỷ U SD; khai thác khoảng 16 triệu tấn dầu thô từ biển. Tiếp theo đó, Đại hội IX của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 2001-2010, trong đó lần đầu tiên đã đưa ra một đề mục riêng biệt về kinh tế khu vực biển và hải đảo: “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển. Đẩy mạnh nuôi, trồng, khai thác, chế biến hải sản; thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí, phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển; mở mang du lịch; bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đảy các vùng khác. Xây dựng căn cú hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với bảo vệ an ninh vùng biển”. Đây là lần đầu tiên, chiến lược phát triển kinh tế biển của nước ta được thể hiện một cách đầy đủ và hết sức toàn diện trong văn kiện của Đại hội Đảng, khẳng định vai trò và nhiệm vụ phát triển  kinh tế biển là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong đời sống của đất nước ta. Liên quan đến phát triển kinh tế biển, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/06/2005 về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản trên biển và hải đảo.

      Ngày 28/4/2010, Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 568/QĐ-TTg về quy hoạch phát triển kinh tế đảo đến năm 2020 với nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chính sách định cư ở đảo, hải đảo (gọi tắt là Quyết định 568). Theo Quyết định này, bên cạnh mục tiêu giữ vững chủ quyền biển, đảo, một mục tiêu quan trọng khác là phải nâng mức đóng góp của kinh tế đảo trong kinh tế cả nước từ 0,2% hiện nay lên khoảng 0,5% vào năm 2020. Quyết định 568 cũng xác định một mục tiêu quan trọng là phải làm sao để hệ thống đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền quốc gia ở các vùng biển, đảo của Tổ quốc. Quyết định này xác định rõ tại nước ta, các đảo có điều kiện thuận lợi như Cát Bà, Lý Sơn, Thổ Chu, Phú Quốc và một số đảo thuộc khu vực Trường Sa muốn phát triển khai thác hải sản bền vững trước hết cần phải chuyển hướng từ nghề cá gần bờ, ven đảo sang khai thác xa bờ bằng cách quản lý chặt hoạt động khai thác, giảm mạnh số phương tiện đánh bắt ven bờ, phát triển các đội tàu có công suất lớn, trang bị hiện đại, đủ sức vươn ra khơi xa. Cạnh đó, cơ sở hạ tầng nghề cá như cảng, bến cá, dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu tránh bão cho tàu thuyền và hạ tầng nuôi trồng hải sản cũng phải được xây dựng đồng bộ. Về du lịch, trước mắt sẽ sớm hình thành hai khu du lịch sinh thái biển đảo lớn, chất lượng cao là Phú Quốc và Vân Đồn với các loại hình vui chơi, giải trí mang đặc trưng vùng đảo như lặn biển, câu cá cảnh, du thuyền đáy kính để ngắm san hô… Phấn đấu đến năm 2020 du lịch đảo thu hút được 2,7-2,8 triệu lượt khách (trong đó có 700.000-850.000 lượt khách quốc tế). Một số đảo có vị trí quan trọng như Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Lý Sơn… cũng sẽ được đầu tư xây dựng một số trung tâm tìm kiếm cứu nạn hiện đại. Khi có thiên tai xảy ra, các trung tâm này sẽ phối hợp cùng các trạm tìm kiếm cứu nạn thuộc các lực lượng vũ trang trên đảo đáp ứng yêu cầu tìm kiếm cứu nạn để ứng phó kịp thời và tại chỗ.

      Song song với phát triển kinh tế, các “pháo đài tiền tiêu” tại các đảo xa bờ như Bạch Long Vỹ, Cô Tô, Lý Sơn, Thổ Chu, Trường Sa… là một phần không thể thiếu trong định hướng phát triển kinh tế đảo. Chính phủ xác định phải huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, các lực lượng vũ trang và nhân dân trên đảo hình thành thế trận quốc phòng toàn dân trong việc bảo vệ vững chắc các vùng biển, đảo. Cạnh đó phải xây dựng và hiện đại hóa các lực lượng quản lý, bảo vệ biển đảo (không quân, hải quân, biên phòng, công an, cảnh sát biển…) bảo đảm tính cơ động, sẵn sàng chiến đấu cao và chủ động đối phó trong mọi tình huống. Với những đảo nhỏ ít hoặc không có dân sinh sống nhưng có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng, nhiệm vụ hàng đầu là tăng cường tiềm lực quốc phòng để canh giữ và bảo vệ vững chắc. Đồng thời, kết hợp phát triển các ngành kinh tế có lợi thế để bảo tồn thiên nhiên. Quyết định 568 cũng đã nhấn mạnh việc bố trí các công trình kinh tế và dân cư trên các đảo nhất thiết phải chú ý đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, sẵn sàng phối hợp, ứng cứu lẫn nhau trong các tình huống. Ngược lại, các lực lượng vũ trang trên đảo ngoài nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo cần đẩy mạnh phát triển sản xuất, đồng thời hỗ trợ và tạo điều kiện để các hoạt động kinh tế trên biển được thường xuyên, an toàn và hiệu quả”. Bên cạnh đó, cũng theo Quyết định 568, mô hình “Xây dựng đảo thanh niên” sẽ tiếp tục thực hiện để đưa dân ra các đảo sinh sống lâu dài. Đối với các đảo chưa có dân, có vị trí quan trọng, điều này càng trở nên quan trọng hơn. Trước mắt sẽ tiến hành điều tra, khảo sát cụ thể, xác định điều kiện tự nhiên của từng đảo, cơ cấu ngành nghề để có kế hoạch di dân hợp lý. Chính phủ cũng nêu rõ một số giải pháp để thu hút và khuyến khích nhân dân ra định cư lâu dài trên đảo, khuyến khích ngư dân phát triển và khai thác nuôi trồng hải sản tại các vùng biển xa bờ. Theo đó, cần sớm nghiên cứu, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp với vị trí, chức năng từng đảo, cụm đảo. Với các vùng đảo đặc biệt khó khăn, ngoài chính sách chung cần có ưu đãi cao hơn. Áp dụng các chính sách cử tuyển và trợ cấp học phí cho con em vùng đảo đi học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học… trở về công tác tại đảo. Ngoài ra, đối với các đảo trọng điểm về phát triển kinh tế, cần cụ thế hóa cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh trong thời gian tới.

      Có thể nhận thấy, Quyết định 568 nêu trên là một trong những bước ngoặt lớn, góp phần định hướng nâng cao chất lượng đời sống ở các đảo, hải đảo thông qua việc đề ra các giải pháp phát triển kinh tế biển, tăng cường các nguồn lực bảo vệ an ninh, quốc phòng và khuyến khích di dân ra sinh sống ở các đảo.

      Ngoài những chính sách cơ bản nêu trên, Việt Nam cũng đã đặt ra các định hướng quan trọng để thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 như:

      – Nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và những người hoạt động trên biển;

      – Sau năm 2020, thứ tự phát triển kinh tế biển có sự thay đổi: 1) Kinh tế hàng hải; 2) Khai thác, chế biến dầu, khí và các loại khoáng sản; 3) Khai thác và chế biến hải sản; 4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5) Các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Trước mắt, tập trung đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, xây dựng đội tàu mạnh, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho những người dân sinh sống ở những vùng thường bị thiên tai; đồng thời, xây dựng các cơ sở bảo vệ môi trường biển.

      – Xây dựng hệ thống cung cấp điện, nước ngọt bảo đảm cho quá trình phát triển kinh tế biển và phục vụ sinh hoạt của dân cư ven biển, trên biển và các đảo. Xây dựng hệ thống thông tin, quan sát biển, hình thành hệ thống nghiên cứu và dự báo về biển (có trọng tâm, trọng điểm theo lĩnh vực và theo vùng).

2.2. Các vấn đề khó khăn, hạn chế và tồn tại của hệ thống chính sách và thực thi chính sách về định cư cho dân ở hải đảo

Thứ nhất, các điều kiện về đời sống tại đảo, hải đảo. Trong quá trình thực hiện việc di dân ra đảo, nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và thực thi các giải pháp cụ thể. Được sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, ngành ở trung ương, và địa phương, hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội tham gia đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản lý 12 huyện đảo, làm thay đổi diện mạo vùng đảo trên, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Nhìn chung, cuộc sống của người dân ở nhiều đảo đã được cải thiện rất nhiều, đặc biệt là về hạ tầng cơ sở nhà ở, trường học, bệnh viện… Tuy nhiên, vấn đề khó khăn lớn nhất hiện nay chính là vấn đề nước sạch, nguồn điện năng và  phương tiện thông tin (điện thoại, internet…). Chính sách ưu đãi đưa ra nhìn chung chưa thự sự hướng đến sự ổn định để khi người dân ra đảo có thể hòa nhập ngay với công việc, sinh hoạt thường ngày.

Là một quốc gia có lợi thế lớn về biển, Việt Nam cần có một chiến lược phát triển tương xứng với các lợi thế đó, một chiến lược cơ bản phát huy các thế mạnh về biển của Việt Nam với các ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển đời sống kinh tế xã hội của các vùng biển đảo, đồng thời phải có một chính sách đúng đắn để bảo vệ sức khoẻ và an toàn sinh mạng của con người trên biển. Bảo vệ sức khoẻ con người trong tình hình và điều kiện mới là điều kiện tiên quyết để bảo đảm mọi chủ trương và đường lối, kế hoạch phát triển biển đảo của Đảng và Nhà nước ta đi đến thành công[13]. Việc bảo vệ sức khoẻ và an toàn sinh mạng trên biển phải đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế-xã hội đa dạng: từ đời sống của nhân dân trên tuyến đảo và ven biển đến các ngành nghề chuyên môn trong lĩnh vực khai thác, quản lý, sử dụng và bảo vệ biển;  vấn đề cấp cứu và tìm kiếm cứu nạn trên biển; tăng cường công tác nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường và tranh thủ sự hợp tác quốc tế về biển. Tại nhiều đảo, do điều kiện sống không đảm bảo, thiếu cơ sở hạ tầng và các dịch vụ y tế, xã hội… nên hiện nay vẫn chưa có dân ở mà chỉ có các lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong: đảo thanh niên Bạch Long Vĩ, đảo Trần, đảo Cồn Cỏ… Tuy nhiên, các địch vụ xã hội, đặc biệt là mạng lưới y tế biển đảo tại đây còn manh mún, chủ yếu là dựa trên cơ sở các trạm quân y, chưa có đầu tư hợp lý…, tạo tâm lý lo ngại cho dân có nguyện vọng ra đảo sống và sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng không tốt đến chủ trương di dân ra đảo của Nhà nước. Đây là trở ngại rất lớn đối với việc phát triển nhanh kinh tế biển đảo theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có thể nói, đã đến lúc việc hình thành và phát triển mạng lưới y tế biển đảo trong toàn quốc, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ cho lực lượng lao động và dân cư  biển đảo là một yêu cầu cấp bách, cần được quan tâm xây dựng và triển khai.

Thứ hai, chưa có những nghiên cứu toàn diện liên quan đến các vấn đề tạo nền tảng cho việc định cư ở đảo, hải đảo. Việt Nam hiện nay có hơn 3.000 đảo, quần đảo nhưng một số đảo chưa thể đưa dân ra sinh sống do điều kiện địa lý tự nhiên như: địa hình núi, thuộc diện cần bảo tồn. Hiện nay chưa có những đánh giá cụ thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng hòn đảo nào thích hợp với cuộc sống của người dân; chưa có đánh giá thực tiễn cuộc sống của người dân như thế nào để kịp thời bổ sung, điều chỉnh chính sách hỗ trợ, đầu tư cho họ.

      Thứ ba, vẫn còn có những khó khăn tồn tại trong việc thực hiện Quyết định 193 liên quan đến định cư cho dân ở đảo, cụ thể như sau:

      – Về vốn đầu tư và huy động vốn:

      Quyết định 193 đưa ra những mục tiêu trong 5 năm di chuyển 75 nghìn hộ (trung bình mỗi năm 15 nghìn hộ) là vượt quá khả năng thực hiện trong tình hình hiện nay về khả năng bố trí đất đai và nguồn vốn. Trước hết, Quyết định 78/2008/QĐ-TTg về khái toán nguồn vốn cho thực hiện Quyết định 193 cho giai đoạn 2006-2010 là 4900 tỷ là không đủ để thực hiện các mục tiêu trên. Kinh nghiệm thực hiện các dự án di dân, tái định cư vừa qua cho biết chỉ tính riêng giải quyết di chuyển cho 30.000 hộ ra khỏi vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn (100 triệu/hộ) và 10.000 hộ dân di chuyển đến vùng biên giới và hải đảo (250 triệu/hộ) đã đòi hỏi phải tiêu tốn ít nhất trên 5.000 tỷ. Vì vậy, hiện nay tình trạng thiếu vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đền bù đất ở các dự án tái định cư đang là một khó khăn lớn ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của Chương trình. Vốn đầu tư cho công tác di dân những năm qua mới chỉ đáp ứng 30%-40% so với nhu cầu thực tế, hơn nữa đầu tư lại dàn trải kéo dài, thiếu đồng bộ. Việc huy động các nguồn lực khác cùng tham gia vào chương trình ở một số nơi đã làm, song hầu hết các khu vực miền núi là các tỉnh nghèo chủ yếu vẫn trông chờ vào ngân sách đầu tư của trung ương.

      – Chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình di dân mặc dù đã được Nhà nước nhiều lần thay đổi theo hướng điều chỉnh sự hỗ trợ cao hơn, song vẫn còn ở mức thấp, khó thực hiện, chưa giải quyết được những khó khăn, cơ bản của dân đến định cư là nhà ở, nước sinh hoạt và vốn sản xuất, đặc biệt là đối với các đối tượng di dân vùng thiên tai, vùng khó khăn về đời sống. Kết quả điều tra về đánh giá tác động của Quyết định 193 do Trung tâm Môi trường và Phát triển cộng đồng thực hiện vào năm 2009 cho biết: cán bộ địa phương và người di dân đều có chung nhận xét là mức đầu hỗ trợ của nhà nước để thực hiện Quyết định 193 thấp và rất khó tạo điều kiện cho người di chuyển ổn định đời sống sau tái định cư.

       3. MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

          – Nhìn chung hệ thống chính sách, đặc biệt là các văn bản pháp luật hiện hành chưa đề cập đầy đủ các vấn đề liên quan đến định cư cho dân ở đảo, hải đảo (văn hóa, y tế, sinh hoạt cộng đồng,…). Vì vậy, trong thời gian đến cần hoàn thiện các văn bản pháp luật hiện hành và ban hành thêm một số chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển sâu rộng hơn việc định cư của dân ở khu vực này. Trong thời gian qua, một số cơ quan, đơn vị đã gửi văn bản nêu đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 07/2002/TTLT-BTM-UBDTMN-BTC-BKHĐT ngày 12/8/2002 của Bộ Thương mại, Uỷ ban Dân tộc, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, về hướng dẫn thi hành Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 và Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 03/01/2002 của Chính phủ về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về miễn, giảm thuế, lãi suất tín dụng; trợ giá, trợ cước… Bên cạnh đó cần nâng cao năng lực xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về chính sách di dân. Để nâng cao năng lực xây dựng các văn bản pháp luật cần tăng cường năng lực cho cán bộ xây dựng chính sách. Hiện nay vẫn còn tình trạng các Quyết định đã được Chính phủ ban hành, nhưng các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành thực hiện các Quyết định của Chính phủ thường chậm. Nhiều Quyết định của Chính phủ không triển khai ngay được vì các địa phương phải chờ đợi Thông tư hướng dẫn. Nên phân cấp trách nhiệm cho Bộ chủ quản xây dựng các Thông tư hướng dẫn và tự chịu trách nhiệm về các quy định của mình; giảm thiểu thông tư hướng dẫn liên bộ vì làm mất nhiều thời gian thỏa thuận và giải trình chậm thực hiện các quyết định của chính phủ. Cần đổi mới việc xây dựng chính sách theo hướng tiếp cận từ cấp cơ sở và người chịu tác động của quyết định để đảm bảo tính khả thi và ổn định của chính sách. Vì vậy việc ban hành chính sách phải dựa vào các kết quả điều tra, nghiên cứu để đánh giá thực trạng và những nhu cầu của cơ sở khi thực hiện các chủ trương chính sách của Chính phủ.

Định hướng cho chính sách di dân ra đảo

Phải gắn chặt các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội với việc giữ vững chủ quyền, bảo vệ an ninh quốc phòng. Cần có chính sách ưu tiên, quy hoạch bố trí dân cư, sản xuất kinh doanh phục vụ mục tiêu cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cho các đảo, cụm đảo, vùng đảo – tiền tiêu – biên giới. Các huyện đảo tiền tiêu cần ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng và bố trí dân cư phục vụ việc đánh bắt cá và giao thông hàng hải. Các huyện đảo tuyến trong cần tập trung nguồn lực cho việc phát triển kinh tế và có điều kiện tốt để phục vụ quốc phòng. Việc xây dựng kế hoạch cần làm gấp cho kế hoạch năm năm và quy hoạch đến năm 2020. Chính sách di dân ra đảo cần được đầu tư thích đáng, có hiệu quả từ trung ương đến các ngành và địa phương và phải được cụ thể hoá phù hợp với đặc điểm của từng đảo, nhóm đảo, huyện đảo.

– Giải pháp cho việc thực hiện chính sách di dân ra đảo

Căn cứ vào thực tiễn thực hiện chính sách di dân ở nước ta trong hơn 50 qua với những bài học và những kinh nghiệm quý giá đã đúc kết được, căn cứ vào các định hướng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nước ta nói chung và chiến lược biển nói riêng từ nay đến năm 2020, chính sách di dân của chúng ta cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và giữ vững chủ quyền, bảo đảm an ninh quốc phòng trên vùng biển. Chính sách di dân khẳng định nhất quán với việc định cư, ổn định dân lâu dài trên đảo nhằm phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Chính sách di dân phải thể hiện được những ưu tiên phải ưu đãi của nhà nước nhằm tạo những điều kiện thuận lợi, khắc phục những khó khăn nhanh chóng ổn định đời sống cư dân trên đảo, phát triển kinh tế – xã hội mang lại sự phồn vinh cho đảo và nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Theo đó, cần xây dựng và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng trước hết là đường giao thông (nội bộ trên đảo, giữa các đảo và đất liền bao gồm đường sá, cầu tàu, bến tàu) nước sạch (phục vụ sinh hoạt và sản xuất), điện và các cơ sở vật chất kỹ thuật khác như chợ, trường học, trạm y tế, nhà văn hoá,… Khuyến khích đầu tư hỗ trợ vốn, tạo mọi điều kiện cho các ngành, các tổ chức và cá nhân phát triển kinh tế chú trọng ưu tiên các ngành khai thác, chế biến thuỷ hải sản, dịch vụ (phục vụ sửa chữa phương tiện vận tải, đánh cá, phát triển du lịch).

– Giải pháp hỗ trợ ổn định dân cư trên đảo bao gồm việc cấp đất, hỗ trợ xây dựng nhà ở, bố trí công ăn việc làm cho các thành viên trong gia đình, có điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá tinh thần. Cần xây dựng hệ thống các giải pháp về phát triển giao thông biển – đảo và cầu nối giữa đảo với đất liền với các phương tiện vận tải thuận tiện, an toàn và rẻ tiền; giải pháp về việc huy động các nguồn vốn để phục vụ cho các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trên các đảo. Ngoài ra, cũng phải đảm bảo quá trình đưa dân ra đảo đi liền với việc khai thác, sử dụng bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển, đảo một cách hợp lý, bền vững. Nhà nước cần xây dựng cơ sở vật chất, mỗi người có một  ngôi nhà, trên đảo cũng có những hạ tầng tối thiểu như đường, trường học, bệnh viện…; xây dựng những phương thức hoạt động sản xuất gắn với họ như đánh bắt hải sản, trồng trọt, đảm bảo người dân ra đảo là có công việc ngay. Có thể nhận thấy, xây dựng cơ sở hạ tầng tương đối đầy đủ là điều kiện tiên quyết trước khi đưa dân ra đảo sinh sống. Bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu kỹ về các biện pháp làm tăng thảm thực vật, tăng diện tích rừng ở các đảo bởi đó chính là điều kiện để có nguồn nước ngọt tốt hơn. Ngoài ra, phải xây dựng hồ chứa nước ngọt để lưu trữ nước sau những trận mưa; xây dựng hệ thống năng lượng điện mặt trời… để đảm bảo hoạt động sinh sống trên đảo, giúp khoảng cách giữa cuộc sống của người dân trên đảo xa và đất liền dần được thu hẹp.

Người dân định cư trên đảo phải nhận được hỗ trợ kinh phí từ Nhà nước, cùng với thu nhập từ công việc trên đảo, đảm bảo cho họ có thu nhập tốt hơn so với ở trong đất liền. Ngoài ra, cần đưa dân khi di cư ra đảo nên đi kèm quân, kết hợp với Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển ở một số đảo. Số lượng quân đưa ra các đảo tùy thuộc vào vị trí của đảo gần đất liền hay không, diện tích, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội… của đảo. Ví dụ, phải có chính sách phù hợp với những đảo nằm gần khu vực tranh chấp.

– Để bảo đảm phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng biển trong thời hội nhập, còn phải tiến hành phân vùng biển dựa trên hệ sinh thái và quy hoạch sử dụng biển và hải đảo nhằm xác định rõ những khu vực dành riêng cho nhiệm vụ quốc phòng, những khu vực cho phép và khuyến khích phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như những khu vực phát triển đa mục đích… Ngoài ra, sớm triển khai và hoàn thành việc đặt tên tiếng Việt cho các đảo và vùng địa lý ở vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Đối với các hải đảo phải tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức hành chính phù hợp, tăng cường nâng cao năng lực quản lý về biển của chính quyền các huyện đảo, xã đảo nhằm phát triển mạnh kinh tế, xã hội kết hợp bố trí dân cư và tổ chức lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, hải đảo[14].

Để thực hiện tốt các chính sách trên, cần xây dựng và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng trước hết là đường giao thông  nước sạch, điện và các cơ sở vật chất kỹ thuật khác; khuyến khích đầu tư hỗ trợ vốn, tạo mọi điều kiện cho các ngành, các tổ chức và cá nhân phát triển kinh tế; kịp thời đúc rút kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến, nhân rộng các mô hình thích hợp trong việc tổ chức di dân, ổn định nơi ăn ở lâu dài, phát triển kinh tế – xã hội có hiệu quả cao; tăng cường việc tuyên truyền cuốn hút mọi thành phần kinh tế, nguồn nhân lực để trở thành biển là nhà, đảo là quê hương.

– Cần có những chương trình đào tạo về kiến thức biển, đảo cho người dân. Điều này sẽ giúp người dân sinh sống trên đảo nhận thức rõ ràng hơn về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải để an tâm lao động, sinh hoạt. Ngư dân nuôi trồng, đánh bắt xa bờ sẽ an tâm hơn khi trên các đảo có người dân Việt Nam sinh sống. Họ có thể trú tạm vào đó khi gặp bão, tìm được sự cứu trợ khi cần thiết, khi tàu bè gặp sự cố…/.


[1] Phó trưởng ban NCPL Hành chính Nhà nước, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[2] Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[3] Dẫn theo lời của Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã.

[4] Trịnh Huy Quách và Hoàng Thị Tây Ninh.

[5] Lâm Văn Bé, “Những biến động dân số Việt Nam”, Truyền Thông số 37 & 38, Mùa Thu 2010, tr 132-134.

[6] Để tìm hiểu chính sách định cư, chúng tôi cho rằng nên gắn với việc tìm hiểu chính sách di dân ra đảo, hải đảo sinh sống mới có cái nhìn đầy đủ và toàn diện.

[7] Theo Thông tư này, đối tượng được trợ cấp bao gồm: Các hộ gia đình (tối thiểu có từ hai lao động trở lên, thông thạo nghề biển) tình nguyện di chuyển ra đảo để làm ăn và sinh sống lâu dài theo các chương trình, dự án; Thanh niên xung phong tham gia xây dựng kinh tế; bộ đội, cán bộ làm nhiệm vụ bảo vệ và quản lý đảo hết thời gian nghĩa vụ, có nhu cầu đưa gia đình ra đảo hoặc thành lập gia đình riêng tình nguyện ở lại đảo lâu dài. Bên cạnh đó, hai loại đối tượng nói trên phải được ghi vào kế hoạch di dân hàng năm.

[8] Được cụ thể hóa bởi Thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg, ngày 24 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng: thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006- 2010 và định hướng đến năm 2015”; Thông tư số 14/2010/TT-BNNPTNT ngày 19/2/2010 quy định Quy trình bố trí, ổn định dân cư thực hiện Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ.

[9] Quyết định 193 nêu chỉ tiêu cụ thể thực hiện kế hoạch của chương trình di dân thực hiện bố trí dân cư đến 2010 là 75.000 hộ, bao gồm: 30.000 hộ đang sống ở vùng thiên tai và vùng đặc biệt khó khăn, 10.000 hộ vùng biên giới hải đảo, 33.000 hộ dân di cư tự do; 2.000 hộ ở vùng xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ. Quyết định 193 cũng quy định 4 loại dự án thực hiện gồm: Dự án bố trí, sắp xếp ổn định dân cư ở vùng đặc biệt khó khăn; Dự án bố trí, sắp xếp ổn định dân cư ở vùng biên giới, hải đảo; Dự án bố trí, sắp xếp ổn định dân di cư tự do. Dự án bố trí, sắp xếp dân cư ở vùng xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng.

[10] Đề án 52 từng bước nâng cao chất lượng sống cho cư dân biển,

http://www.thiduakhenthuongvn.org.vn/TDKT/index.php?option=com_content&task=view&id=2937

[11] Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cán bộ, chiến  sĩ  Hải Quân, ngày 15 tháng 3 năm 1961.

[12] Văn kiện Đại Hôi Đảng lần thứ IV.

[13] Huỳnh Minh Chính (Vụ biển, Ban Biên giới – Bộ Ngoại giao), Vai trò y tế biển đảo trong phát triển kinh tế biển Việt Nam.

[14] PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi (Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam), Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm chủ quyền vùng biển quốc gia.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: