Archive for Tháng Mười Một 2011

PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Tháng Mười Một 30, 2011

PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Trương Hồng Quang*

 (Bài viết đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2012)

1. Khái quát chung pháp luật thế giới về quyền của người đồng tính

Từ thế kỷ XIX trở về trước, nhiều quốc gia đã đưa đồng tính vào danh sách các bệnh về tâm thần. Quan niệm đồng tính luyến ái là rối loạn tâm lý là một quan niệm phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ XIX và sang đến một phần thế kỷ XX, và có lẽ nó lan truyền cùng với sự phổ biến của y học phương Tây[1]. Đến những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học đã khẳng định đồng tính luyến ái không phải là bệnh. Nhiều nước lần lượt loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, bắt đầu là Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào năm 1973. Tại Trung Quốc năm 2001 cũng đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Đồng tính luyến ái được coi là một phần của đa dạng tính dục con người, không phải là bệnh và cũng không phải là giới tính thứ ba. Đến năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới – cơ quan của Liên Hợp Quốc cố vấn chuyên môn cho các quốc gia về y tế đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Bên cạnh đó, tháng 6/2011, Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết khẳng định: ‘mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào’[2]. Đến ngày 7/3/2012, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với những người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới (thuật ngữ tiếng Anh viết tắt là LGBT)[3]. Như vậy, lần đầu tiên, người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã đưa ra một thông điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với vấn đề LGBT, và đây cũng là quan điểm của cả Liên Hiệp Quốc khi gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới. Những động thái này đã một lần nữa khẳng định đồng tính chỉ là một xu hướng tính dục như bao xu hướng khác (dị tính, lưỡng tính, vô tính,..) và góp phần xua đuổi quan niệm nặng nề tại các nước trên thế giới về giới đồng tính. Đến thời điểm hiện tại đã hình thành hai quan điểm quan trọng về nguyên nhân của xu hướng tình dục này, đó là do các mặt tác động về xã hội và do mặt sinh lí, thần kinh của con người[4]. (more…)

Advertisements

Kiến nghị công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính ở VN

Tháng Mười Một 30, 2011

Trương Hồng Quang

1. Các kiến nghị về vấn đề công nhận quyền của người đồng tính

Xuất phát từ các quyền tự do cơ bản, quyền bình đẳng của tất cả mọi người và nhận thấy những rào cản về mặt nhận thức của xã hội có thể dẫn đến việc hạn chế quyền hoặc không cho phép người đồng tính được hưởng các quyền lợi chính đáng của mình, có thể nhận định rằng việc tạo cơ hội để người đồng tính độc lập giải quyết các vấn đề của mình là điều cần thiết. Dựa vào các đặc điểm về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam, các nhà làm luật cần nghiên cứu, xem xét để đưa ra các quy định pháp luật về người đồng tính nhằm đảm bảo công bằng và phát triển xã hội theo phương châm lấy con người là trung tâm của mọi sự tiến bộ.

Hiện nay, hệ thống pháp luật ViệtNamchưa có các quy phạm riêng dành cho người đồng tính, nhưng những quy định về bảo vệ quyền con người ở phạm vi khái quát là tương đối hoàn chỉnh. Trong phạm vi công trình nghiên cứu này, các kiến nghị được đưa ra chủ yếu dựa trên đề xuất bổ sung các quy định đã có của pháp luật Việt Namhiện hành. (more…)

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Tháng Mười Một 28, 2011

Trương Hồng Quang


1. Một số vấn đề về đồng tính

1.1. Đồng tính là từ viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (homosexuality) là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục, cảm xúc giữa những người cùng giới tính. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law)[1], sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul (1880) của Gustav Jager[2], Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft- Ebing[3]. Từ đó thuật ngữ trên được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với người dị tính và người lưỡng tính[4]. Ngày nay, đồng tính luyến ái còn được gọi bằng các từ ngữ khác như: gay chỉ người đồng tính nam, les hay lesbian chỉ người đồng tính nữ, ở Việt Nam còn có một số từ như: bóng, bóng kín, đồng cô, pê đê (dùng cho nam), ô môi (dùng cho nữ). (more…)

CHỦ TRƯƠNG, ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ MỨC ĐỘ THỂ CHẾ HOÁ CHỦ TRƯƠNG NÀY TRONG LCC

Tháng Mười Một 21, 2011

Truong Hong Quang

1. Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá hoạt động công chứng

1.1. Khái quát chung về xã hội hoá hoạt động công chứng

Xã hội hoá là việc nhà nước chuyển giao cho tư nhân đảm nhiệm một số chức năng mà nhà nước đảm nhiệm. Xu thế chung là xã hội hoá các dịch vụ công, không mang tính chất hành chính đơn thuần. Xã hội hoá đã góp phần nâng cao chất lượng và đa dạng hoá dịch vụ. Các ngành y tế, giáo dục đã triển khai mạnh mẽ việc xã hội hoá từ nhiều năm nay, rất nhiều bệnh viện tư, phòng khám tư và trường tư thục đã ra đời và hoạt động tốt. Một số ngành khác cũng đã bước đầu thực hiện việc xã hội hoá như: vận tải bằng xe buýt, vệ sinh môi trường và hoạt động đã đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Việc xã hội hoá công chứng đã được đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng đây là một ngành nghề đặc thù vừa mang tính chất dịch vụ công vừa mang tính chất hành chính nhà nước, việc xã hội hoá đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết nên chưa được triển khai mạnh mẽ. Tuy nhiên, xã hội hoá công chứng đã trở thành một xu thế tất yếu để đáp ứng cho được các yêu cầu bức thiết của xã hội. (more…)

DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

Tháng Mười Một 8, 2011

DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Phạm Mai Diệp, Phạm Thị Hải Yến*

 1. Nhận diện di sản văn hóa phi vật thể

     Di sản văn hóa phi vật thể (intangible cultural heritage) hiện nay đã được đưa vào các chương trình bảo vệ khẩn cấp của thế giới cũng như của mỗi quốc gia. Thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” hay “di sản bất động” (immovable heritage) được biết đến từ những năm 40 của thế kỉ XX. Trong một thời gian dài, nhiều cuộc nghiên cứu đã được tiến hành để trả lời câu hỏi “di sản văn hóa phi vật thể là gì?”. Trong phần này, bài viết sẽ nhận diện di sản văn hóa phi vật thể trên ba phương diện cơ bản đó là: khái niệm; tính chất, đặc điểm và giá trị.

     1.1. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể

     Khoản 1 điều 2 mục I Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 đã ghi nhận “di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững”. Trong khái niệm này, UNSECO đã cố gắng cụ thể hóa tính “trừu tượng” của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc định dạng một số biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể như tập quán, biểu đạt tri thức, kỹ năng, các công cụ đồ vật, đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liên quan… Những biểu hiện này được ví như “hình thức chứa đựng” di sản văn hóa phi vật thể. Đó cũng chính là phần cốt lõi bên trong, chính là phần hồn của di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO ghi nhận dưới khía cạnh ý nghĩa đối với cộng đồng. Di sản văn hóa phi vật thể phải có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới. (more…)