DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Phạm Mai Diệp, Phạm Thị Hải Yến*

 1. Nhận diện di sản văn hóa phi vật thể

     Di sản văn hóa phi vật thể (intangible cultural heritage) hiện nay đã được đưa vào các chương trình bảo vệ khẩn cấp của thế giới cũng như của mỗi quốc gia. Thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” hay “di sản bất động” (immovable heritage) được biết đến từ những năm 40 của thế kỉ XX. Trong một thời gian dài, nhiều cuộc nghiên cứu đã được tiến hành để trả lời câu hỏi “di sản văn hóa phi vật thể là gì?”. Trong phần này, bài viết sẽ nhận diện di sản văn hóa phi vật thể trên ba phương diện cơ bản đó là: khái niệm; tính chất, đặc điểm và giá trị.

     1.1. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể

     Khoản 1 điều 2 mục I Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 đã ghi nhận “di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững”. Trong khái niệm này, UNSECO đã cố gắng cụ thể hóa tính “trừu tượng” của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc định dạng một số biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể như tập quán, biểu đạt tri thức, kỹ năng, các công cụ đồ vật, đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liên quan… Những biểu hiện này được ví như “hình thức chứa đựng” di sản văn hóa phi vật thể. Đó cũng chính là phần cốt lõi bên trong, chính là phần hồn của di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO ghi nhận dưới khía cạnh ý nghĩa đối với cộng đồng. Di sản văn hóa phi vật thể phải có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới.

     Bản sắc của mỗi dân tộc là khác nhau và di sản văn hóa phi vật thể, vì thế không có biểu hiện giống nhau ở mỗi quốc gia. Tại Nhật Bản, điều 2 của Luật bảo vệ tài sản văn hóa có đưa ra định nghĩa di sản văn hóa phi vật thể là “nghệ thuật, kĩ năng thu nhận được từ các vở kịch, âm nhạc và nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hóa phi vật thể khác sở hữu giá trị lớn về lịch sử và nghệ thuật đối với một đất nước”. Còn tại Hàn Quốc thì quan niệm “tài sản văn hóa phi vật thể chỉ dẫn đến kịch, âm nhạc, nghề thủ công và các hình thức biểu đạt di sản văn hóa phi vật thể khác có giá trị nổi bật về lịch sử, nghệ thuật và học thuật nổi bật[1]. Cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể của Hàn quốc khá gần với cách hiểu của Nhật Bản. Với Myanmar, nước này không dùng phương pháp liệt kê mà chỉ nêu ra đặc tính cơ bản của di sản văn hóa phi vật thể, theo đó “văn hóa vật thể là khía cạnh vật chất còn văn hóa phi vật thể là khía cạnh tinh thần của đời sống. Những ngành nghệ thuật nhìn được bằng thị giác thuộc về văn hóa vật thể, nghệ thuật biểu diễn là văn hóa phi vật thể”[2]. Còn Croatia – một đất nước ở châu Âu thì quan niệm rằng di sản văn hóa phi vật thể có thể bao trùm các dạng đặc biệt và các hiện tượng của hoạt động sáng tạo trí óc được truyền từ đời này sang đời khác bằng bất kì cách thức nào, và đặc biệt là “ngôn ngữ, thổ ngữ, tiếng bản địa và tất cả các loại văn học truyền thống; sáng tạo dân tộc trong những lĩnh vực của nhạc, múa, truyền thuyết, trò chơi, lễ hội, phong tục cũng như các giá trị dân tộc truyền thống khác; kĩ năng truyền thống và nghề thủ công[3].

     Qua cách định nghĩa trên của UNESCO và một số nước, có thể nhận thấy:

     – Thứ nhất, vì di sản văn hóa phi vật thể là di sản mang tính trừu tượng cao, khó nắm bắt nên cần phải đưa ra các hình thức biểu hiện cơ bản của loại hình di sản này. Không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các quốc gia, mà dựa trên đặc điểm văn hóa, mỗi quốc gia sẽ đưa ra các hình thức biểu hiện cụ thể của di sản văn hóa phi vật thể;

     – Thứ hai, nếu chỉ dựa vào hình thức biểu hiện thì chưa đủ mà còn cần căn cứ vào các yếu tố khác như: sức sống lâu dài của di sản (chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác), sự vận động, gắn bó với đời sống con người (tái tạo để thích nghi với môi trường sống); giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật,…;

     – Thứ ba, vai trò quan trọng nhất của di sản văn hóa phi vật thể là đại diện cho bản sắc dân tộc. Thông qua di sản văn hóa phi vật thể chúng ta có thể hiểu hơn về quan niệm, cách nghĩ, tâm tư, tình cảm, lối sống tốt đẹp của cộng đồng, mà khó có thể tìm thấy ở một cộng đồng khác.

     Quan điểm về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được ghi nhận tại Điều 1 của Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) theo đó di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Về cơ bản, cách xác định này tiếp thu quan điểm của UNESCO. Tuy nhiên trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (2009) không liệt kê các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể như một số quốc gia khác trên thế giới. Việc chi tiết, cụ thể hóa được thể hiện trong Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa. Theo đó, có 7 hình thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: (i) tiếng nói chữ viết; (ii) ngữ văn dân gian; (iii) nghệ thuật trình diễn dân gian, (iv) tập quán xã hội và tín ngưỡng; (v) lễ hội truyền thống, (vi) nghề thủ công truyền thống; (vii) tri thức dân gian.

     1.2. Đặc điểm, tính chất của di sản văn hóa phi vật thể

     Trong tài liệu của UNESCO mang tên “What is intangible culture heritage?” (tạm dịch Di sản văn hóa phi vật thể là gì?) có phân tích tính chất của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: (i) tính truyền thống, đương đại, sống động; (ii) tính bao hàm, (iii) tính đại diện, (iv) tính tùy thuộc vào cộng đồng[4]. Từ đây, có thể rút ra một số đặc điểm, tính chất của di sản văn hóa phi vật thể như sau:

     – Di sản văn hóa phi vật thể được chuyển giao qua nhiều thế hệ, được tái tạo để thích nghi với môi trường sống. Nhiều nhà nghiên cứu còn gọi đây là “di sản sống”. Sự vận động, biến đổi là  điều tất yếu, bởi di sản văn hóa phi vật thể có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống con người. Con người, cộng đồng là một phần của di sản. Khi cộng đồng và đời sống cộng đồng thay đổi thì di sản văn hóa phi vật thể cũng sẽ biến đổi để thích hợp với cộng đồng. Tính chất này làm nên sự khác biệt cơ bản giữa di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Bản chất của di sản văn hóa phi vật thể là sự tiếp nối và biến đổi còn bản chất của di sản văn hóa vật thể là sự cố định và nguyên trạng. Quá trình chuyển giao di sản văn hóa phi vật thể cần liên tục và bất kì sự tái tạo cũng phải dựa trên cái “gốc” đã được chuyển giao.

     – Di sản văn hóa phi vật thể đã từng hoặc đang được lưu truyền, sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Theo UNSECO ghi nhận đó là “tính bao hàm” của di sản. Di sản văn hóa phi vật thể gắn kết mỗi cá nhân, khiến cá nhân cảm thấy mình là một phần của xã hội. Tính phổ biến, phổ cập, dễ hiểu thậm chí còn quan trọng hơn cả tính độc đáo, đặc biệt của di sản.

     – Di sản văn hóa phi vật thể phải đại diện cho bản sắc của dân tộc. Di sản đó cần thể hiện được những nét đẹp về văn hóa, lối sống, cách sống của cộng đồng. Đó là những nét đẹp nổi bật, riêng biệt mà khó có thể tìm thấy ở cộng đồng khác.

     – Di sản văn hóa phi vật thể cần được công nhận bởi cộng đồng sáng tạo sử dụng di sản. Đúng như UNESCO nhận định “thiếu đi sự công nhận của cộng đồng thì không ai có thể quyết định cho họ rằng những sự biểu đạt hay tập quán đó là di sản của họ[5]. Cộng đồng là một phần của di sản và do đó, họ là những người hiểu rõ nhất về nội dung cũng như giá trị của di sản.

     1.3. Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể

     Đánh giá giá trị của di sản văn hóa phi vật thể là điều cần thiết để thấy được tầm quan trọng của di sản đối với đời sống của con người. UNESCO và các quốc gia đều công nhận di sản văn hóa phi vật thể có những giá trị cơ bản sau: giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị khoa học, giá trị gắn kết các dân tộc.

     Giá trị lịch sử: sự ra đời và phát triển của các di sản văn hóa phi vật thế gắn liền với lịch sử của mỗi dân tộc. Qua những di sản còn được giữ đến ngày nay, người ta có thể biết được cách sống, lối sống của người xưa cũng như sự phát triển văn hóa của dân tộc qua mỗi giai đoạn.

     Giá trị nghệ thuật: các di sản văn hóa phi vật thể đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn cho thấy sức sáng tạo đặc biệt và dồi dào của con người. Giá trị nghệ thuật thể hiện quan điểm về thẩm mỹ hay còn gọi là “Cái Đẹp” của con người trong các giai đoạn lịch sử. Quan điểm này là khác nhau, nhưng có sự đóng góp cho việc xây dựng giá trị hoàn thiện và phát triển về nghệ thuật sau này.

     Giá trị khoa học: thể hiện ở kho tàng kiến thức và kỹ năng giàu có ở mỗi loại hình di sản được truyền từ đời này sang đời khác. Chỉ những di sản văn hóa có tác động tích cực, có tính ứng dụng, có chất lượng và có khả năng mang lại hiệu quả cho con người mới được con người thừa nhận và truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.

     Di sản văn hóa phi vật thể có giá trị gắn kết các dân tộc với nhau bởi loại hình di sản văn hoá này thể hiện rõ nét đời sống, lối sống của cộng đồng người. Do đó, việc hiểu biết về di sản văn hóa phi vật thể của từng dân tộc, từng quốc gia khác nhau sẽ là cầu nối giữa các nền văn hóa, qua đó giúp các quốc gia hiểu biết, tôn trọng, hợp tác lẫn nhau.

     Ngoài ra di sản văn hóa phi vật thể còn có giá trị về kinh tế: UNESCO đánh giá giá trị kinh tế của di sản văn hóa phi vật thể đối với mỗi cộng đồng ở hai khía cạnh: tri thức và kĩ năng đã được truyền tải trong cộng đồng đó cũng như các sản phẩm là kết quả của tri thức và kĩ năng ấy[6]. Việc sử dụng tri thức, kỹ năng (như biểu diễn nghệ thuật) và sản phẩm từ các tri thức kĩ năng (như sản phẩm thủ công truyền thống) sẽ đem lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng.

     Tóm lại, có thể xây dựng các tiêu chí cơ bản sau để nhận diện di sản văn hóa phi vật thể:

     – Hình thức biểu hiện của di sản: hình thức này được xác định khác nhau theo pháp luật mỗi quốc gia. Theo Luật di sản văn hóa Việt Nam và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ thì di sản văn hóa phi vật thể bao gồm 7 hình thức đã nêu ở phần trên;

     – Tính chất, đặc điểm của di sản bao gồm: (i) được chuyển giao qua nhiều thế hệ, tái tạo thích nghi với môi trường sống; (ii) đã từng hoặc đang được lưu truyền và sử dụng rộng rãi trong cộng đồng, (iii) đại diện cho bản sắc của cộng đồng; (iv) được cộng đồng công nhận;

     – Giá trị của di sản: di sản cần mang giá trị cao về lịch sử, nghệ thuật, khoa học và giá trị gắn kết các dân tộc.

2. Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

  2.1. Khái quát hệ thống pháp luật hiện hành về di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

     Đảng và nhà nước ta luôn xác định chính sách nhất quán về văn hóa đó là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tôn trọng sự đa dạng văn hóa của các dân tộc cùng với chủ trương bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa cổ truyền của các dân tộc hay còn gọi là di sản văn hóa. Một trong những công cụ để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng đó là hệ thống pháp luật.

     Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất để bảo tồn và phát triển hệ thống di sản văn hóa thông qua các văn bản: Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành luật sửa đổi bổ sung năm 2009. Về cơ bản, Luật di sản văn hóa phù hợp với các điều ước quốc tế về di sản văn hóa mà Việt Nam đã tham gia. Trong Luật di sản văn hóa có những quy định riêng đối với di sản văn hóa phi vật thể. Trong đó, Luật này đề cập cụ thể đến mục đích của luật, khái niệm về di sản văn hóa, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể; quyền và nghĩa vụ của các cá nhân đối với di sản văn hóa. Đặc biệt còn có quy định cụ thể đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên nếu so với di sản văn hóa vật thể thì những quy định về di sản văn hóa phi vật thể còn tương đối khiêm tốn.

     Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật kể trên, nhà nước còn ban hành nhiều văn bản khác để cụ thể hoá chính sách, phương hướng, mục tiêu cũng như những cách thức để thực hiện hoạt động bảo tồn, phát triển di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng. Có thể kể đến như: Quyết định số 25-TTg ngày 19/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII, thông qua ngày 16/07/1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;  Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/05/2009 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020) cũng nêu vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; Quyết định số 36/2005/QĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ ngày 24/02/2005, lấy ngày 23/11 hàng năm là “ngày Di sản văn hóa Việt Nam”. Đây là một trong những hành động thiết thực khẳng định giá trị của di sản văn hóa, giúp cho người dân quan tâm và tôn vinh giá trị của di sản văn hóa, bao gồm cả di sản văn hóa phi vật thể.

     Những quốc gia trên thế giới đi đầu trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể có thể kể đến đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Từ rất sớm họ đã có ý thức và triển khai việc xây dựng một văn bản luật quy định về di sản văn hóa phi vật thể để có thể duy trì và phát triển di sản một cách hiệu quả nhất. Đánh giá đúng tầm quan trọng và giá trị di sản văn hóa nói chung cũng như tính cấp thiết về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, Việt Nam đã và đang học tập các quốc gia khác trong việc bảo tồn và phát triển hệ thống di sản văn hóa phi vật thể.

     2.2. Ưu điểm của các quy định pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể hiện nay

     Thứ nhất, các quy định về di sản văn hóa phi vật thể đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Các quy định về di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng được đánh giá là phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng mà cụ thể là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều 9 Luật di sản văn hóa năm 2001 có nêu: “Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”. Quy định này thể hiện đường lối chung của Đảng về văn hóa với nội dung: “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá – nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ cả ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định để bảo đảm cho sự phát triển toàn diện bền vững của đất nước[7]. Qua đó Đảng xác định văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực phát triển kinh tế; văn hóa và kinh tế phải có sự hỗ trợ, gắn kết nhau. Các biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được xây dựng trên phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.  Sự kết hợp này vừa thể hiện sự đồng thuận giữa Nhà nước và nhân dân, vừa mang lại hiệu quả cho việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, Luật di sản văn hóa đã đưa ra các quy định thích hợp để thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ, phát huy di sản như: tham gia các tổ chức và điều ước quốc tế, cho phép tổ chức, trưng bày cổ vật ở nước ngoài, sưu tầm di sản văn hóa của người nước ngoài ở Việt Nam, đặc biệt là hợp tác quốc tế để bảo hộ di sản văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.

     Thứ hai, Việt Nam có hệ thống pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể khá đầy đủ và toàn diện.

     Năm 2001 Việt Nam ban hành Luật di sản văn hóa với cách tiếp cận khái niệm di sản văn hóa hoàn thiện và đầy đủ hơn bao gồm: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Đến năm 2009, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2001 tiếp tục hoàn thiện về cách nhận diện cũng như biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Bên cạnh Luật di sản văn hóa với những quy định pháp lý chung, nền tảng còn có các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành. Nội dung pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của hoạt động bảo vệ bao gồm: nhận diện các loại hình di sản văn hóa phi vật thể; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân; các biện pháp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể; quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể. Nội dung các điều luật ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Trong Luật di sản văn hóa năm 2001, nội dung bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể chiếm 11 điều (ít hơn so với các quy định về di sản văn hóa vật thể). Sau gần 8 năm thi hành, các điều khoản về di sản văn hóa phi vật thể được sửa đổi, bổ sung đáng kể với sự cụ thể, chi tiết, phù hợp với lý luận và thực tiễn. Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể  được xác định bao gồm 7 loại hình cơ bản[8]; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong việc quản lý di sản văn hóa phi vật thể có sự phân công rõ ràng, trao quyền mạnh mẽ cho địa phương. Chính quyền địa phương là chủ thể tự kiểm kê và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương mình. Các nhóm biện pháp bên cạnh việc sử dụng phương thức bảo vệ truyền thống như sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy… còn có sự tham gia hỗ trợ của các chính sách kinh tế như chính sách ưu đãi thuế đối với sản phẩm thủ công truyền thống. Đối với nghệ nhân – những báu vật nhân văn sống, các quy định đã thể hiện rõ thái độ ứng xử của Nhà nước, vừa tôn vinh, đề cao, tôn trọng, vừa chăm lo đời sống của những nghệ nhân có hoàn cảnh khó khăn như quy định tại điều 26 Luật di sản văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điều 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 (sửa đổi, bổ sung điều 65 của Luật thi đua khen thưởng)[9].

     Thứ ba, các quy định về di sản văn hóa phi vật thể có sự phù hợp với các Công ước quốc tế.

     Việt Nam là một trong số những quốc gia sớm phê chuẩn Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO[10] và là thành viên của Ủy ban Liên chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động và các chính sách quốc tế có liên quan đến Công ước này[11]. Cùng với việc tham gia Công ước là sự đảm bảo các quy định của Công ước nói trên phải được nội luật hóa vào pháp luật của quốc gia. Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của UNESCO, tại lần sửa đổi bổ sung vào năm 2009, khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể đã xác định lại theo hướng xúc tích và trọng tâm “di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Cách định nghĩa này đảm bảo các tiêu chí xác định di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam phù hợp với quốc tế. Qua đó Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ ở tầm quốc tế.

     Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tại điều 11 có quy định các quốc gia thành viên phải nhận diện và xác định rõ các loại hình khác nhau của di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ của mình. Công ước cũng đã đưa ra những nhóm di sản văn hóa phi vật thể cơ bản, định hướng cho việc nhận diện di sản văn hóa phi vật thể ở các quốc gia thành viên, theo đó di sản văn hóa phi vật thể thể hiện ở những hình thức “các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống”. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Việt Nam đã tiếp thu cách phân nhóm này để xác định các loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Trong Công ước của UNESCO về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể có nêu rõ để đảm bảo cho việc nhận diện nhằm mục đích bảo vệ, mỗi quốc gia thành viên phải lập danh mục thống kê về di sản văn hóa phi vật thể trên lãnh thổ của mình. Tiếp thu quy định này, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2001 ghi nhận “kiểm kê di sản văn hóa là hoạt động nhận diện, xác định giá trị, lập danh mục di sản văn hóa”. Trên cơ sở quy định của Luật di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 04/2010 ngày 30/06/2010 hướng dẫn kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể. Thông tư cũng đưa ra mục đích của kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể là nhằm nhận diện giá trị, xác định hiện trạng di sản văn hóa phi vật thể để phục vụ việc xây dựng kế hoạch và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể.

     Trong Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003 đặc biệt nhấn mạnh đến sự tham gia của cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, theo đó khuyến nghị các quốc gia thành viên cần phải nỗ lực để đảm bảo khả năng tham gia tối đa của các cộng đồng, nhóm người, tích cực lôi kéo họ vào công tác quản lý. Từ đó, Việt Nam đã xây dựng biện pháp nhằm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể với quy định chỉ đạo tại Điều 17 Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.

     2.3. Hạn chế của các quy định pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể           

     Thứ nhất, khái niệm di sản văn hóa phi vật thể chưa hợp lý.

     So với Luật di sản văn hóa phi vật thể năm 2001, Luật sửa đổi bổ sung năm 2009 đã có sự thay đổi căn bản trong việc đưa ra khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể. Theo đó “di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Tuy nhiên cách xác định này cũng còn nhiều điều cần xem xét thêm. Về tiêu chí để xác định di sản văn hóa phi vật thể đó là không ngừng được tái tạo. Tiêu chí này đã thể hiện rõ đặc điểm của di sản văn hóa phi vật thể là di sản “sống”, gắn liền với đời sống của cộng đồng, hiện hữu không chỉ ở quá khứ mà cả trong cuộc sống hiện tại. Tuy nhiên hiểu thế nào cho đúng nghĩa của “tái tạo”, giới hạn của sự tái tạo ấy đến đâu? Về tiêu chí di sản văn hóa phi vật thể phải được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tuy nhiên chuyển giao qua bao nhiêu thế hệ thì sẽ được coi là phù hợp với tiêu chí này[12]. Như chúng ta cũng biết sự xác định tiêu chí chuyển giao qua các thế hệ phần lớn được nghiên cứu dựa trên kí ức của những nghệ nhân, những người lưu giữ và truyền tải di sản, do đó nó cũng chỉ có tính chất tương đối bởi trí nhớ con người không phải bao giờ cũng chính xác. Trên thực tế, việc nhận diện các di sản văn hóa phi vật thể là khá khó khăn (đặc biệt là lễ hội dân gian). Theo thống kê, chúng ta có khoảng 500 nghìn lễ hội lớn nhỏ trải dài từ Bắc đến Nam nhưng không phải lễ hội nào cũng là di sản văn hóa phi vật thể. Để tìm ra những lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể thì phải đáp ứng tiêu chí về giá trị khoa học, lịch sử, văn hóa, thể hiện bản sắc dân tộc. Các tiêu chí này cần được xây dựng dựa trên những yếu tố cụ thể nào để có thể thấy được sự khác biệt nổi trội của lễ hội đó so với các lễ hội khác là điều không đơn giản.

     Thứ hai, quan điểm về phát triển di sản văn hóa phi vật thể chưa được nhận thức thống nhất.

     Tháng 7/2009, tỉnh Hà Nam đã thực hiện dự án nâng cấp lễ hội đền Lảnh Giang (huyện Duy Tiên). Lễ hội được phục dựng theo hướng bên cạnh những yếu tố truyền thống còn có thêm các yếu tố mới của nghệ thuật biểu diễn đương đại như âm thanh, hiệu ứng, kĩ thuật[13]. Sự kiện này đã nhận được khá nhiều ý kiến trái chiều. Có ý kiến cho rằng đó là lai căng, làm mất đi tính chất truyền thống của lễ hội. Tuy nhiên, ban tổ chức lễ hội thì cho rằng việc tái hiện lễ hội Lảnh Giang trong một hình thức mới hơn và đầy đủ hơn là một hướng thử nghiệm phục hồi và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Ví dụ này đã cho thấy quan điểm phát triển di sản văn hóa phi vật thể chưa được nhận thức một cách thống nhất. Luật di sản văn hóa hiện nay chưa đưa ra một định hướng chung về việc phát triển di sản văn hóa phi vật thể: phát triển theo nguyên tắc nào, theo cách thức nào để di sản văn hóa phi vật thể vừa có sức sống bền vững vừa giữ được những giá trị cơ bản. Các quy định của pháp luật mới chỉ đưa ra giới hạn phát triển di sản văn hóa phi vật thể ở việc không được hủy hoại và làm giảm giá trị của loại hình di sản văn hóa này. Các hành vi gây nguy cơ hủy hoại và làm giảm giá trị của di sản văn hóa phi vật thể được quy định cụ thể tại khoản 2, điều 4 của Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Dưới góc độ lí luận, di sản văn hóa phi vật thể được coi là “di sản sống” bởi chúng không ngừng được tái tạo để thích nghi với xã hội. Việc tái tạo hay phát triển di sản văn hóa này xuất phát từ  nhu cầu, nguyện vọng của cộng đồng dân cư. Thích nghi với xã hội hay phù hợp với cuộc sống là mục đích của việc phát triển di sản văn hóa phi vật thể. Nếu phát triển xuất phát từ ý chí tự nguyện của cộng đồng dân cư vì mục đích đúng đắn thì nên khuyến khích họ phát triển. Tuy nhiên, cần lưu ý, phát triển là một quá trình, có chọn lọc, các yếu tố mới được đưa vào phải mang tính bền vững.

     Thứ ba, một số quy định còn chưa cụ thể.

     Quy định của pháp luật về một số vấn đề liên quan đến di sản phi vật thể còn chung chung, chưa cụ thể, dẫn đến sự vướng mắc khi áp dụng như:

     – Việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cần có sự phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các ngành, các cơ quan. Theo quy định tại khoản 3 điều 55 Luật di sản văn hóa năm 2001 thì Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hoá – Thông tin[14] để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này. Cũng tương tự như vậy khoản 3 điều 24 Luật di sản văn hóa năm 2001 quy định Nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt và phát triển tiếng Việt nhưng đến nay vẫn chưa có bất kì văn bản quy phạm pháp luật nào quy định vấn đề này.

     – Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ có chỉ ra những hành vi được coi là “gây nguy cơ hủy hoại và làm giảm giá trị di sản văn hóa phi vật thể” (Điều 4) trong đó có “tùy tiện đưa những yếu tố không phù hợp làm giảm giá trị di sản” (Khoản 2 điều 4). Tuy nhiên Nghị định này không quy định chủ thể nào sẽ là người đánh giá hành vi đó làm giảm giá trị của di sản. Đây là một vấn đề khá nhạy cảm, bởi cộng đồng là chủ thể có quyền quyết định đến sự tồn tại, thay đổi của di sản văn hóa phi vật thể. Cơ quan quản lý khó có thể can thiệp dựa trên sự đánh giá của chính họ về việc các yếu tố đã làm giảm giá trị di sản văn hóa phi vật thể.

     Bên cạnh đó, vấn đề tôn vinh các nghệ nhân cũng có sự bất cập. Điều 26 Luật di sản văn hóa năm 2001 quy định về việc khuyến khích, động viên, tôn vinh các nghệ nhân có tài năng xuất sắc, có công bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nhưng chưa quy định cụ thể là áp dụng vào khi nào và như thế nào cho phù hợp, đơn vị nào sẽ chịu trách nhiệm thực hiện việc tôn vinh này. Luật số 15/2003/QH11 về thi đua khen thưởng ban hành ngày 26/11/2003 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005) mới chỉ xác định các nghệ nhân làng nghề là đối tượng điều chỉnh còn các nghệ nhân nắm giữ tri thức dân gian và nghệ thuật trình diễn chưa được đề cập đến[15]. Quy định tại điều 65 của Luật thi đua khen thưởng quy định danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” và “Nghệ nhân ưu tú” chỉ phong tặng cho các “cá nhân có nhiều năm trong nghề, kế tục, giữ gìn, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống”, không điều chỉnh tới các cá nhân có công đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở các lĩnh vực khác.

     Thứ tư, thiếu quy định để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Một số vấn đề trong công tác bảo tồn di sản phi vật thể chưa được pháp luật đề cập tới. Pháp luật chưa mạnh dạn trao quyền và hỗ trợ người dân để họ xác định bản sắc của mình, giúp người dân nhận ra những giá trị văn hóa họ đang có, giá trị văn hóa họ cần bảo vệ, giúp người dân tìm ra được những tiềm năng có thể phát huy được từ chính các di sản văn hóa đó, giúp họ có thể biến tiềm năng văn hóa thành động lực phát triển. Pháp luật hiện hành chưa có quy định về giáo dục bảo vệ di sản, đây là nhiệm vụ của các thiết chế văn hóa, đặc biệt là các bảo tàng. Ngoài ra, sự phát triển kinh tế xã hội, thương mại hóa di sản văn hóa; toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa là các yếu tố tác động đến việc bảo tồn các di sản văn hóa, sự bền vững của văn hóa bản địa, du lịch hóa các di sản làm tổn thương các di sản nhạy cảm. Vì vậy cần có các biện pháp bảo vệ di sản văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể để ngăn ngừa các tác động tiêu cực từ các hoạt động nói trên. Theo Luật di sản văn hóa, một trong những chức năng của bảo tàng là quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể. Có nghĩa các bảo tàng ở địa phương cần có phòng giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể của địa phương, của toàn quốc. Nhưng đây cũng là vấn đề mới chỉ quy định ở mức chung chung, chưa cụ thể và khó khả thi trên thực tế.

     Thứ năm, thiếu cơ sở xác định quyền sở hữu trí tuệ đối với di sản văn hóa phi vật thể.   

     Quyền sở hữu trí tuệ đã được đề cập trong chính sách của UNESCO. Theo đó bản quyền của các cộng đồng đã sản sinh và lưu truyền các di sản văn hóa phi vật thể phải được tôn trọng. Tổ chức này cũng thừa nhận xác định quyền sở hữu trí tuệ đối với di sản văn hóa phi vật thể là điều không dễ dàng bởi di sản văn hóa phi vật thể không do một cá nhân sáng tạo nên mà đó là sản phẩm của cả cộng đồng[16]. Ở Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nhưng quyền sở hữu đối với di sản văn hóa phi vật thể chưa được đề cập một cách đầy đủ và toàn diện. Luật mới chỉ đưa ra quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Theo quy định tại điều 23 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 thì tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và đảm bảo giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Vấn đề cần bàn ở đây đó là hầu hết các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo của một cộng đồng, lúc ấy quyền tác giả sẽ thuộc về cộng đồng nào. Có thể lấy ví dụ với dân ca quan họ Bắc Ninh. Chủ nhân Dân ca quan họ Bắc ninh là cộng đồng cư dân người Việt cư trú ở hai tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang hiện nay[17]. Vùng lưu hành Dân ca quan họ Bắc Ninh rất rộng không chỉ có hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh mà còn có một số huyện, xã làng của các tỉnh Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Hải Dương, Hưng Yên và Thành phố Hà Nội. Việc người dân và các nhà quản lí gọi Dân ca quan họ Bắc Ninh mà không dùng danh xưng dân ca quan họ Hà Bắc hay Dân ca Quan họ Bắc Ninh – Bắc Giang bởi lẽ trong tâm thức người dân danh xưng Dân ca quan họ Bắc Ninh luôn tồn tại như một sự thực khách quan[18]. Như vậy địa danh Bắc Ninh trong dân ca quan họ Bắc Ninh không phải chỉ chủ thể sở hữu dân ca quan họ là tỉnh Bắc Ninh như một số người vẫn hiểu. Vấn đề quyền sở hữu tác giả lúc này sẽ khó biết được sẽ trao cho cộng đồng nào. Nhìn sâu rộng ra đối với di sản văn hóa phi vật thể, quyền sở hữu tác giả là một quyền quan trọng để tránh việc sử dụng di sản vào mục đích xấu và góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng.

     Thứ sáu, còn thiếu một số văn bản dưới luật để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể. Cơ sở quan trọng cho việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể hiện nay là Luật di sản văn hóa 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009. Tuy nhiên, chúng ta còn thiếu các văn bản dưới luật được xây dựng trên cơ sở thống nhất ý kiến cộng đồng để đảm bảo cho việc hướng dẫn, thực thi luật ở địa phương ví dụ như đối với công tác quản lý lễ hội dân gian dưới góc độ là di sản văn hóa phi vật thể. Sự pha trộn giữa di sản văn hóa phi vật thể là lễ hội dân gian với các lễ hội khác như lễ hội do đền, chùa tổ chức… trong chính sách quản lý lễ hội chung đã không đem lại hiệu quả cho việc bảo vệ và phát huy các lễ hội dân gian là di sản văn hóa phi vật thể. Lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể có những đặc điểm riêng, cần có các biện pháp bảo vệ cụ thể để không làm mai một loại hình này trong tương lai. Cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể và quy định rõ ràng về công tác tổ chức lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể, để có thể vừa bảo tồn được hoạt động lễ hội nói chung, vừa có thể phát huy được giá trị riêng của di sản văn hóa phi vật thể là lễ hội dân gian.

4. Kết luận

     Di sản văn hóa phi vật thể là một trong những linh hồn văn hóa của mỗi cộng đồng. Qua những di sản đó thế hệ ngày nay có thêm sự hiểu biết và sự trân trọng lối sống tốt đẹp của ông cha. Dù nhận được sự quan tâm còn khá muộn màng, nhưng nếu có sự tiếp cận đúng đắn và các biện pháp hành động kịp thời, di sản này sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển. Sự thay đổi trước tiên cần đến từ chính pháp luật. Hoàn thiện pháp luật về nhận diện di sản văn hóa phi vật thể, các quy định về biện pháp bảo vệ, sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế theo hướng phù hợp với lý luận và thực tiễn. Đây là một trong những cách thức hiệu quả tác động đến quá trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam hiện nay./.


* Sinh viên Khóa 33, Khoa Hành chính Nhà nước, Đại học Luật Hà Nội.

[1]tangible cultural properties refers to drama, music, dance, handicrafts and other intangible cultural expressions of outstanding historical, artistic and academic value”– Definition in use by Various membem states – Replies to questionnaires sent to Naitonal Commissions in February and August 2000, nguồn: http://www.unesco.org/culture/ich/doc/src/05299.pdf

[2]Tangible culture is the metarial aspect and intangible cultue is the spiritual aspect of life. Visual arts are tangible culture. Performing arts are intangible”, Definition in use by Various member states – Replies to questionnaires sent to Naitonal Commissions in February and August 2000

http://www.unesco.org/culture/ich/doc/src/05299.pdf

[3]intangible cultural property may cover distinctive forns and phenomena of intellectual creativity being transmitted by tradition or in any other way, and particularly: language, dialects, tongues, toponymics, and traditional literature of all kinds; folk creativity in the fields of music, dance, traditions, games, rituals, customs, as well as other traditional folk values; traditional skills and crafts”-Definition in use by Various member states – Replies to questionnaires sent to Naitonal Commissions in February and August 2000, nguồn:

http://www.unesco.org/culture/ich/doc/src/05299.pdf

[4] “What is tangible cultural heritage”- http://www.unesco.org/culture/ich/index.php?lg=en&pg=00002.

[5]intangible cultural heritage can only be heritage when it is recognized as such by the communities, groups or individuals that create, maintain and transmit it – without their recognition, nobody else can decide for them that a given expression or practice is their heritage” “What is tangible cultural heritage”- http://www.unesco.org/culture/ich/index.php?lg=en&pg=00002.

[6]The economic value of the intangible cultural heritage for a specific community is twofold: the knowledge and skills that are transmitted within that community, as well as the product resulting from those knowledge and skills”– Question and answer about intangible cultural heritage- http://www.unesco.org/culture

[7] Xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới, nguồn: http://www.baomoi.com, ngày 10/5/2010.

[8] Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian.

[9] Điều 25 Luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định “Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân có tài năng xuất sắc, nắm giữ và có công bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể thông qua các biện pháp sau: a) Tặng, truy tặng Huân chương, danh hiệu vinh dự nhà nước và thực hiện các hình thức tôn vinh khác; b) Tạo đièu kiện và hỗ trợ kinh phí cho hoạt động sáng tạo, trình diễn, trừng bày, giới thiệu sản phẩm của nghệ nhân; c) Trợ cấp sinh hoạt hàng tháng và ưu đãi khác đối với nghệ nhân đã được phong tặng danh hiệu vinh dự nhà nước có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn (…)”

[10] Việt Nam phê chuẩn Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO vào năm 2005.

[11]Lời mở đầu, Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập 1, Cục di sản văn hóa xuất bản, 2007.

[12] Việc xác định này cũng chưa được thống nhất và giải thích rõ trong Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO. Theo đa số ý kiến của các nhà nghiên cứu thì trong xã hội cận hiện đại và truyền thống, chỉ cần 3 thế hệ là đủ, còn trong những xã hội hiện đại hơn thì chỉ hai thế hệ mà thôi

[13] Thông cáo báo chí lễ hội truyền thống đền Lảnh Giang – Hà Nam được nâng cấp và mang màu sắc văn hóa đương đại, nguồn:  http://viettems.com,  ngày 08/7/2009.

[14] Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

[15] Tiến sỹ Nguyễn Quốc Hùng, Bảo vệ di sản văn hóa dân tộc là trách nhiệm của mọi người,

nguồn: http://www.giaodiemonline.com

[16] Dawhee Yim, Giáo sư trường Đại học Dongguk (Hàn Quốc), Các chính sách về di sản văn hóa của tổ chức UNESCO và quá trình toàn cầu, nguồn: http://www.vicas.org.vn.

[17] PGS.TS, Nguyễn Chí Bền (2010), Dân ca quan họ Bắc Ninh, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Tạp chí Di sản văn hóa phi vật thể số, (01), tr. 35.

[18] PGS.TS, Nguyễn Chí Bền, Dân ca quan họ Bắc Ninh, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, tlđd.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Pháp luật hành chính Nhà nước

One Comment trên “DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ”


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: