CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Trương Hồng Quang


1. Một số vấn đề về đồng tính

1.1. Đồng tính là từ viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (homosexuality) là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục, cảm xúc giữa những người cùng giới tính. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law)[1], sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul (1880) của Gustav Jager[2], Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft- Ebing[3]. Từ đó thuật ngữ trên được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với người dị tính và người lưỡng tính[4]. Ngày nay, đồng tính luyến ái còn được gọi bằng các từ ngữ khác như: gay chỉ người đồng tính nam, les hay lesbian chỉ người đồng tính nữ, ở Việt Nam còn có một số từ như: bóng, bóng kín, đồng cô, pê đê (dùng cho nam), ô môi (dùng cho nữ).

1.2. Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association, APA) không đưa ra lý giải khoa học cho hiện tượng đồng tính mà chỉ nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tình dục đó nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hòa nhập cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này. APA đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973. Đồng thời vào tháng 12/1992, APA đã đưa ra lời kêu gọi thế giới cùng hành động để bảo vệ quyền lợi của những người đồng tính luyến ái: “Xét thấy luyến ái đồng giới tự thân nó không hề hàm chứa việc có hay không sự thiệt hại, tính ổn định, sự tin cậy, trong năng lực xã hội chung hay khả năng tác nghiệp (ở người đồng tính ái), Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm thần học ở các quốc gia hãy thúc đẩy trên đất nước mình việc bãi bỏ những trừng phạt pháp lý đối với tình cảm và tình dục đồng giới có sự đồng thuận giữa những người trưởng thành. Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hãy thực hiện mọi việc có thể để giảm đi những sỉ nhục có liên quan đến luyến ái đồng giới, ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào”[5]. Hiện nay, các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này ở một số người trong xã hội nhưng hầu hết đều cho rằng khuynh hướng tình dục trên chịu sự chi phối của cả yếu tố sinh học và xã hội. Trường phái tâm thần học của Sigmund Freud đưa ra quan điểm: Trong khi hầu hết loài người sinh ra với khuynh hướng tình dục dị giới thì tâm sinh lý, với sự phát triển riêng của mình do các yếu tố bên trong và bên ngoài chi phối đã tạo ra hiện tượng đồng tính luyến ái[6]. Kết quả các cuộc nghiên cứu, thống kê và khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học, nhi khoa khác đều đi đến kết luận đồng tính luyến ái không phải là sự rối loạn tâm thần mà là một hiện tượng bình thường trong tự nhiên, những người có khuynh hướng tình dục trên hoàn toàn không phải do sự lựa chọn chủ quan của họ. Ngày 17/5/1990 Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã xóa bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần. Có thể nhận thấy gần như tất cả quan điểm liên quan đến đồng tính (dù trên phương diện khoa học hay tôn giáo) đều thống nhất rằng: trong xã hội thật sự tồn tại một nhóm ít người có khuynh hướng tình dục đồng giới. Đồng tính luyến ái không phải là một bệnh và những người đồng tính cần được sự quan tâm, chia sẻ của xã hội, không nên có các hành vi kỳ thị, xa lánh họ chỉ vì họ là người đồng tính.

1.3. Đời sống của người đồng tính luôn phải chịu các tác động tiêu cực từ xã hội và cả tâm lý sợ hãi của bản thân họ do những nhận thức sai lầm và quan điểm kỳ thị vì xu hướng tình dục không phổ biến này. Những vấn đề mà người đồng tính thường gặp có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của bản thân họ như: vấn đề thay đổi xu hướng tình dục đồng tính luyến ái[7], hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia)[8], công khai xu hướng tình dục của người đồng tính[9].

 Tại Việt Nam, một nghiên cứu của iSEE về sự kì thị người đồng tính nam cho thấy: 1,5% đã bị đuổi học khi bị phát hiện là người đồng tính; 4,1% bị kỳ thị về vấn đề nhà ở; 4,5% từng bị tấn công và bị đánh đập vì là người đồng tính; 15,1% cho biết bị gia đình chửi mắng vì là người đồng tính[10]. Một nghiên cứu khác về sức khỏe và tinh thần của người nam quan hệ với người cùng giới đã đưa ra một số biểu hiện của thái độ kì thị người đồng tính như: định kiến và phân biệt đối xử, lăng mạ và bạo hành thể xác ở gia đình, chê cười tại trường học, sa thải hoặc từ chối tuyển dụng tại nơi làm việc, gây áp lực phải lấy vợ và có con, một số người đồng tính còn kì thị với chính bản thân, coi mình mắc bệnh kinh niên và dị thường, hoặc có suy nghĩ hoặc hành động tự tử[11]. Hội chứng sợ đồng tính luyến ái đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực, đe dọa đời sống tinh thần và sức khỏe người đồng tính khiến cho việc hòa nhập xã hội của họ gặp nhiều khó khăn. Sự gia tăng hay ngầm không phản đối những hành vi kỳ thị trên đồng thời là dấu hiệu đi xuống của đạo đức khi con người mặc nhiên để những điều bất công đó được tồn tại.

Trên phương diện khoa học người đồng tính được xem như một người bình thường nhưng thực tế cuộc sống lại đặt người đồng tính vào những nguy cơ bị xâm hại, đe dọa xâm hại đến đời sống của họ xuất phát từ các thái độ tiêu cực của xã hội. Những định kiến, kỳ thị nêu trên tạo ra sự uy hiếp và đối xử không công bằng với bộ phận người đồng tính trong xã hội – một nhóm người yếu thế, đang chịu những tổn thương nhất định trong việc hòa nhập với cuộc sống thật của mình và với cộng đồng người nói chung. Sự tồn tại của người đồng tính trong xã hội với những khó khăn, thử thách mà họ đang chịu đựng sẽ là các căn cứ quan trọng để đưa ra  kiến nghị về việc thừa nhận các quyền cho người đồng tính.

2. Cơ sở lý luận tiếp cận quyền của người đồng tính

2.1. Quyền của người đồng tính có bản chất là quyền tự nhiên[12] của con người

Thứ nhất, về sự công bằng trong quyền được sống và được tự do, người đồng tính là một người bình thường như mọi cá nhân khác trong xã hội có khả năng thực hiện các nghĩa vụ và được quyền hưởng các quyền bình đẳng, ngang bằng như những người khác. Một trong những quyền quan trọng nhất là quyền được công nhận và tôn trọng. Xã hội cần nhìn nhận người đồng tính như một người bình thường với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, không được phép miệt thị, xúc phạm hoặc coi họ như những bệnh nhân lệch lạc về tâm thần. Quyền tự nhiên cho rằng “con người sinh ra tự do”[13], trong đó, theo John Locke[14] , “tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kì cản trở nào”. Như vậy, quyền được công khai xu hướng tình dục của mình và sống theo bản năng của xu hướng tình dục đó là một phần của tự do. Nhưng trên thực tế người đồng tính khi công khai xu hướng tình dục, thực hiện “quyền tự do” trên lại gặp nhiều sự cản trở đến từ các thành kiến xã hội và các quan điểm sai lầm dẫn đến các thiệt thòi cho họ. Quan điểm trên của John Locke có hạn chế là đã đề cao quá mức tự do của cá nhân mà chưa chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội và các lợi ích hợp pháp của cá nhân khác. Song, nếu xét điều đó đối với đòi hỏi được công khai và được xã hội công nhận thì đòi hỏi này của người đồng tính hoàn toàn không ảnh hưởng hay đe dọa đến bất kỳ một lợi ích hợp pháp chung nào cả.

Thứ hai, về quyền mưu cầu hạnh phúc, mưu cầu hạnh phúc là một dạng thể hiện của sự tự do, con người bằng khả năng của mình tìm kiếm hạnh phúc, các giá trị sống cho bản thân. Đây là điều hiển nhiên trong mọi chế độ chính trị- xã hội. Một trong các giá trị sống đó được tạo dựng từ việc kết hôn, xây dựng gia đình hạnh phúc và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quan hệ hôn nhân ấy. Với người đồng tính, kết hôn lại là một điều khó. Hiện nay có các hình thức thừa nhận việc chung sống hợp pháp của người đồng tính như: cho phép kết hôn giống những cặp dị tính, công nhận dưới hình thức kết hợp dân sự (civil union) như: kết hợp dân sự, đối tác chung nhà (domestic partnership), hình thức hợp danh (partnership),… Về mặt pháp lý, họ được xem giống như một cặp vợ chồng nhưng thực tế lại bị hạn chế hơn những cặp vợ chồng dị tính khác ở sự thụ hưởng các chính sách về miễn giảm thuế chung cho vợ chồng, các chế độ an sinh xã hội, bảo hiểm, trợ cấp, quyền nhận nuôi con nuôi, thừa kế,… Mặt khác, giá trị pháp lý của giấy chứng nhận kết hợp dân sự nêu trên rất hạn chế, không đương nhiên có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hoặc toàn thế giới. Đa phần các kiểu kết hợp dân sự trên chỉ có giá trị trong phạm vi bang, khu vực cho phép đăng ký kết hôn đồng tính, điều này đã gây không ít trở ngại cho các cặp đôi trên khi di chuyển hoặc thay đổi chỗ ở.

Hành vi công nhận quyền kết hôn của người đồng tính dưới các hình thức kết hợp dân sự như trên được coi như là một dạng ban phát quyền cho người đồng tính. Theo Thomas Paine đó là một điều vô lý vì nếu chính phủ được quyền ban phát quyền cho người khác thì cũng được có thể thu hồi lại[15]. Điều này mẫu thuẫn với quy tắc quyền con người là một thuộc tính tự nhiên, vốn có của con người. John Locke cho rằng chính phủ và công dân tự nguyện ký vào bản “khế ước xã hội” trao quyền lực cho chính phủ nhằm sử dụng chính phủ như một phương tiện để bảo vệ các “quyền tự nhiên” cho mình, chứ không phải là ban phát quyền và quy định các quyền ấy cho mình[16] như cách ghi nhận kết hợp dân sự trên. Rousseau trong cuốn “Bàn về khế ước xã hội” cho rằng, khi một người từ bỏ một vài quyền tự do của mình điều đó đồng nghĩa với việc anh ta phải được nhận lại một số lợi ích nhất định nào đó, khi nhà nước nhận được một số quyền tự do kia đồng nghĩa với việc nhà nước phải đảm đương một số trách nhiệm với họ, “các điều kiện đơn phương nếu không có gì bù lại, nếu không có gì ngang giá sẽ làm cho điều khoản ký kết mất hết ý nghĩa”[17]. Điều dễ dàng nhận thấy ở đây là người đồng tính không tự nguyện từ bỏ quyền được kết hôn của mình và nhà nước khi tự ý không thừa nhận quyền tự do kết hôn đó đã không có một khoản đền bù ngang giá nào cho những người đồng tính.

Quyền tự nhiên là tư tưởng chỉ đạo, nguồn cảm hứng để các quốc gia xây dựng chế độ pháp luật hợp lý. Chịu ảnh hưởng các nguyên tắc của Quyền tự nhiên, Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ có nói: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Pháp cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 từng nhắc lại hai lập luận trên và tái khẳng định các quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do của một dân tộc cũng như của mỗi con người. Trước những lý lẽ trên, chúng ta không được phép loại bỏ người đồng tính ra ngoài vòng pháp luật mà cần có những quy định rõ ràng nhằm thừa nhận và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người đồng tính và xem đó như một tất yếu trong xã hội.

2.2. Quyền của người đồng tính cần được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật

Quyền con người trong pháp luật là sự cụ thể hóa các quyền tự nhiên của con người vào một cơ chế rõ ràng, minh bạch và được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước. Thông qua pháp luật các nghĩa vụ sẽ được tôn trọng và thực thi, các quyền trở thành quy tắc ứng xử bắt buộc và thống nhất chung cho toàn xã hội. Quyền con người trong pháp luật là một phạm trù rộng lớn không chỉ trong pháp luật của từng quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế thông qua các Điều ước quốc tế và các Tuyên ngôn về nhân quyền. Trong phạm vi quốc gia, quyền con người được thể chế hóa và bảo vệ đầu tiên thông qua Hiến pháp. Các quy định trong Hiến pháp ghi nhận các quyền tự do của con người, tạo ra các giới hạn pháp lý cho tổ chức và hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ chặt chẽ hơn các quyền cơ bản của con người[18] để xây dựng chính quyền dựa trên nhận thức nhân bản là “con người vốn sinh ra là tự do”.

Hiến pháp Mỹ là một ví dụ tiêu biểu về việc bảo vệ các quyền con người và được xem như “luật về các quyền”, quyền cơ bản của con người được chính thức và trực tiếp đặt vào trung tâm hệ thống pháp lý Hoa Kỳ. Với vấn đề đồng tính, Tòa án Hoa Kỳ đã có những phán quyết quan trọng dựa trên các quy định của Hiến pháp, chẳng hạn như: Trong vụ Wisconsin v. Mitchell[19], Tòa án tối cao nhất trí cho rằng việc tăng hình phạt đối với phạm tội do thù ghét (hate crime)[20] là hợp pháp và không xâm hại đến quyền về tự do ngôn luận nêu trong Tu chính án đầu tiên[21]. Năm 1958, Tòa án tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã bác một phán quyết của một Tòa án thấp hơn và tạo ra một tiền lệ cho rằng các ấn phẩm về đồng tính luyến ái không mang bản chất khiêu dâm, do đó cần phải được bảo vệ theo quy định về quyền tự do báo chí ở Tu chính án đầu tiên[22]. Ngày 4/8/2010, Chánh án Tòa án liên bang Mỹ – Vaughn Walker đưa ra phán quyết Dự luật số 8 của tiểu bang California về bãi bỏ quyền kết hôn của những người đồng tính và khẳng định chỉ có hôn nhân giữa người nam và người nữ mới có giá trị và được công nhận ở California là vi hiến. Chánh án Walker cho rằng “các nguyên đơn (những người phản đối dự luật số 8) tìm kiếm mối quan hệ được nhà nước công nhận. Và mối quan hệ của các nguyên đơn phù hợp với các giá trị cốt lõi trong lịch sử với truyền thống và thông lệ hôn nhân tại Hoa Kỳ”. Ông tuyên bố: “Bởi vì Dự luật số 8 chưa làm tròn chức năng bảo vệ Hiến pháp thông qua việc cho phép những cuộc hôn nhân trên cơ sở bình đẳng nên Tòa án tuyên bố Dự luật số 8 là vi hiến”[23]. Như vậy dựa vào các quy định trong Hiến pháp, luật pháp Hoa kỳ đã sử dụng quyền con người để thừa nhận và bảo vệ các quyền lợi của người đồng tính.

Ở Việt Nam, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) có các quy định rất rõ ràng và cụ thể về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội cho các công dân Việt Nam, xét ở một khía cạnh nào đó, người đồng tính là một công dân trong xã hội nên sẽ được quyền thụ hưởng các quyền trên. Nội dung Hiến pháp là ghi nhận và bảo vệ tất cả các quyền cơ bản chung của tất cả mọi người.

Trong Luật quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thì quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc thể hiện sâu sắc tinh thần đó. Chủ thể được thừa hưởng các quyền con người là tất cả những người đang sống và tồn tại trên thế giới, là “tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội, không phân biệt địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ uỷ trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế” (Điều 2). Dưới đây là một số quyền cơ bản:

Quyền tự do và bình đẳng: mọi người tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền (Điều 1), quyền sống, tự do và an toàn cá nhân (Điều 3), quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ như nhau không có bất kỳ sự phân biệt nào (Điều 6, Điều 7), quyền tự do với cuộc sống riêng tư (Điều 12), quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm (Điều 19), quyền làm việc, tự do làm việc, hưởng các điều kiện làm việc như nhau và  không bị phân biệt đối xử (Điều 23).

Quyền kết hôn: nam nữ khi đến tuổi kết hôn, tự nguyện và đồng ý hoàn toàn có quyền kết hôn và xây dựng gia đình hạnh phúc, không có bất cứ hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ bình đẳng trong kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng và lúc ly hôn (Điều 16)[24].

Quyền được bảo vệ: mọi người được bảo vệ, không bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm (Điều 5), được bảo vệ chống lại mọi hành vi, hình thức phân biệt đối xử hoặc xúi giục phân biệt đối xử (Điều 7), quyền được pháp luật bảo vệ chống lại các hành vi can thiệp hoặc xâm phạm đời sống riêng tư, gia đình, nơi ở, danh dự và uy tín (Điều 12), gia đình được nhà nước và xã hội bảo vệ (Điều 16).

Ngoài ra, Tuyên ngôn nhân quyền còn có những quy định mang tính nhân văn, kêu gọi lòng nhân ái như: mọi người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu (Điều 1), giáo dục phải hướng tới mục tiêu giúp con người phát triển đầy đủ nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng đối với các quyền và tự do cơ bản của con người, giáo dục phải tăng cường sự hiểu biết, lòng vị tha và tình bằng hữu giữa tất cả các dân tộc, các nhóm tôn giáo và chủng tộc (khoản 2 Điều 26).

Bên cạnh Tuyên ngôn nhân quyền, Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966 đều đề cập đến các quyền tự do cơ bản của con người tương tự như trên, “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới[25]. Như vậy, người đồng tính với tư cách là một phần tử trong đại gia đình đó cần phải được thừa nhận và bảo vệ ở các quyền: tự do, bình đẳng, quyền kết hôn và quyền được bảo vệ một cách cụ thể và rõ ràng.

Về vấn đề quyền của người đồng tính, tháng 12/2008, tổ chức của những người ủng hộ quyền cho người đồng tính đã trình lên Liên Hợp Quốc một dự thảo Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về định hướng tình dục và sự đồng giới (the United Nations Declaration on Sexual orientation and Gender Identity) với nội dung lên án những hành vi bạo lực, quấy rối, phân biệt đối xử, loại trừ, kỳ thị, định kiến, sự giết hại, hành quyết, tra tấn, bắt giữ tùy tiện và tước bỏ các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa dựa trên xu hướng tình dục và đồng giới[26]. Dự thảo nhận được sự ủng hộ của liên minh châu Âu nhưng vấp phải sự phản đối của các nước thuộc khối Ả Rập và Vatican, các quốc gia này lấy lí do việc pháp điển hóa hôn nhân đồng giới và các quan hệ dân sự khác có thể làm tổn hại đến đức tin của các tôn giáo cũng như đến các giá trị đạo đức và quan hệ xã hội. Ngày 19/7/2010, Hội đồng Kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc chính thức công nhận tư cách tư vấn tại Hội đồng Liên hợp quốc của Ủy ban Quốc về quyền của người đồng tính (International Gay and Lesbian Rights Commission, IGLRC)[27]. Vào khoảng tháng 6 hằng năm, khắp nơi trên thế giới lại tổ chức những cuộc diễu hành đồng tính (pride parade) để tưởng nhớ sự kiện “Bạo động Stonewall”[28] vào ngày 28/6/1969, sự kiện có tính chất bước ngoặc trọng lịch sử đấu tranh cho quyền lợi của người đồng tính, đồng thời biểu dương cho văn hóa đồng tính.

Cuối cùng, có thể thấy, việc thừa nhận và bảo vệ quyền cho người đồng tính, một phạm trù của quyền tự nhiên chỉ mang tính khả thi khi được pháp luật chính thức hóa và pháp lý hóa. Quy định quyền của người đồng tính trong pháp luật vừa đảm bảo cho người đồng tính có cơ sở pháp lý vững vàng để tự bảo vệ quyền lợi cho chính mình và vừa đảm bảo sự tuân thủ, tôn trọng các quyền đó của các chủ thể khác trong xã hội.

2.3. Công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính bảo đảm tính xã hội của pháp luật

Pháp luật là yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc, chịu sự chi phối của các đặc điểm kinh tế, chính trị và nền tảng đạo đức trong xã hội. Bên cạnh đó, với vai trò là công cụ quan trọng để duy trì trật tự xã hội, pháp luật phải kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội cần có sự quản lý và kiểm soát của nhà nước. Xác lập sự điều chỉnh lên một quan hệ xã hội cụ thể vì thế không chỉ dựa trên ý chí, quyền lợi của giai cấp thống trị mà còn phụ thuộc vào bản chất xã hội của quan hệ đó và mối liên hệ với các yếu tố khác như đã nêu trên. Yêu cầu công nhận, đề ra các biện pháp bảo vệ quyền của người đồng tính trong pháp luật sẽ được xem xét dựa vào các căn cứ đó.

Về mặt kinh tế, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã nới rộng khoảng cách giàu nghèo, gia tăng sự chênh lệch trong mức sống và sự hưởng thụ quyền lợi của các nhóm người trong xã hội. Trong đó các nhóm thiểu số yếu tiềm năng kinh tế, thiếu quyền lực chính trị là đối tượng dễ bị tổn thương dưới các tác động tiêu cực đó nhất. Pháp luật vì vậy cần có những điều chỉnh hợp lý để vừa thúc đẩy kinh tế phát triển, vừa hạn chế sự bất bình đẳng trong việc thụ hưởng quyền giữa các nhóm chủ thể khác nhau, vì xét cho cùng mục đích của phát triển kinh tế là nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân và đảm bảo công bằng xã hội. Dưới ảnh hưởng của sự kỳ thị, phân biệt đối xử, người đồng tính có thể được xem như một đối tượng yếu thế trong xã hội. Khi tham gia vào các quan hệ kinh tế như tìm kiếm việc làm, cơ hội thăng tiến trong công việc, vấn đề nhà ở,… họ sẽ gặp nhiều trở ngại và có thể bị đối xử bất công. Hơn nữa, do người đồng tính chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong dân số nên tiếng nói chưa được chú trọng đúng mức; hệ quả là khả năng tự thân chống đỡ, tự bảo vệ khi quyền lợi chính đáng bị xâm phạm thường rất thấp. Nói cách khác, pháp luật cần có các cơ chế hữu hiệu để bảo vệ người đồng tính khỏi các xâm hại nói trên.

Về mặt chính trị[29], khi ban hành pháp luật cần chú trọng tới địa vị pháp lý, quyền và lợi ích của các bên để có những quy định phù hợp. Thực tế cho thấy với số lượng ít, chưa có sự góp mặt trên các diễn đàn pháp luật, người đồng tính chưa bày tỏ được quan điểm, nguyện vọng của mình để nhà làm luật xem xét và phát triển thành luật. Điều này không có nghĩa là chỉ đến khi người đồng tính lên tiếng thì pháp luật mới vào cuộc mà phải hiểu rằng, quyền được pháp luật bảo vệ các lợi ích chính đáng là một đòi hỏi hợp lý của mọi công dân. Luật pháp khi ban hành phải tính đến quyền lợi chung cho cả cộng đồng, trong đó quyền của những nhóm người thiểu số, dễ bị tổn thương phải được chú ý đến. Nền luật pháp nếu không đề cập đến quyền lợi của số ít người yếu thế thì không thể là một nền luật pháp dân chủ và tiến bộ. Đồng tính luyến ái không phải là hiện tượng xã hội có tính chất tạm thời. Sự tồn tại của hiện tượng này là một tất yếu, xuất hiện ở mọi xã hội, trong mọi giai đoạn lịch sử. Sự phát triển của đời sống đã nâng cao các đòi hỏi về quyền tự do, quyền sống của con người. Trong bối cảnh đó, người đồng tính đã nảy sinh các mâu thuẫn với xã hội liên quan đến các yêu cầu được xã hội công nhận sự tồn tại của mình, được đối xử công bằng, được kết hôn như những người khác, với những giá trị truyền thống, chuẩn mực văn hóa, đạo đức lâu đời. Xung đột ngày một mạnh mẽ của các lợi ích ấy đòi hỏi cần có sự điều chỉnh hợp lý của pháp luật. Cần thiết phải có những quy phạm điều hòa, giải quyết mâu thuẫn trên để duy trì một trật tự xã hội hợp lý, đồng thời bảo vệ toàn diện các quyền cơ bản mà người đồng tính đáng được hưởng.

Tóm lại, quyền của người đồng tính là một biểu hiện cụ thể của quyền tự nhiên, có tính chất xã hội, các quyền lợi đó chỉ được bảo đảm trên thực tế khi được cụ thể hóa bằng pháp luật./.


[1] Feray Jean-Claude, Herzer Manfred (1990), “Homosexual Studies and Politics in the 19th Century: Karl Maria Kertbeny”.,Journal of Homosexuality 19: 1.

[2]  Xem Karl Maria Kertbeny, GayHistory.com.

[3]  Xem Karl Maria Kertbeny, GayHistory.com.

[4] Người dị tính luyến ái (người dị tính): người có xu hướng tình dục khác giới, họ tìm thấy ở những người khác giới tính với mình sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm và tình dục. Người lưỡng tính luyến ái (người lưỡng tính): người tìm thấy sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm và tình dục ở cả người cùng giới và người khác giới, nguồn:

http://isee.org.vn/?do=iseelg03&mod=view&id=77

[5] Tuyên bố lập trường của Trung tâm tâm lý học và tổ chức về nhân sự (Center for Organizational and Personnel Psychology) về các liệu pháp tập trung thay đổi khuynh hướng tính dục, nguồn:

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=2764&rb=0503

[7] Một số người do hiểu biết nhầm lẫn về người đồng tính và người chuyển giới nên cho rằng có thể thay đổi được xu hướng tình dục trên bằng các biện pháp y học, dược học. Nhóm khác lại nghĩ nguyên nhân của hiện tượng trên là do các tác động về mặt tâm lý, tinh thần nên đã tìm mọi cách thuyết phục, ép buộc người đồng tính kết hôn với người khác giới để thay đổi tình trạng trên. Thực tế, đây là những quan điểm sai lầm, bởi vì người chuyển giới là người có các đặc điểm sinh học thể hiện giới tính nam nữ rõ ràng nhưng bản thân lại cho rằng mình thuộc giới tính còn lại. Trong khi đó, người đồng tính là người bình thường về mặt tâm, sinh lý, họ biết rõ mình thuộc giới tính nào nhưng bản thân lại chỉ chịu sự hấp dẫn, kích thích về mặt tình dục, tình cảm với người cùng giới tính.

[8] Là thái độ ghê sợ, định kiến của xã hội đối với nhóm người đồng tính. Nguyên nhân của điều này có thể do xuất phát từ niềm tin tôn giáo khi tôn giáo đó có thái độ phản đối hành vi đồng tính, do thiếu hiểu biết, thiếu những trải nghiệm tiếp xúc với người đồng tính hoặc do những cảm giác chủ quan mặc định việc căm ghét người đồng tính. Hội chứng trên bao gồm chứng tự sợ đồng tính và chứng ghê sợ đồng tính.

[9] Công khai xu hướng tình dục hay thường được gọi là “come out” là việc người đồng tính công khai vấn đề đồng tính với chính bản thân mình, với những người xung quanh hoặc gia nhập vào cộng đồng đồng tính luyến ái. Hình thức công khai có thể là với tất cả mọi người hoặc với một số ít người. Sau khi công khai, người đồng tính sẽ dễ nhận được sự quan tâm giúp đỡ của xã hội và có cơ hội tiếp cận các thông tin hữu ích về an toàn tình dục. Tinh thần, sức khỏe của những người đã công khai thường tốt hơn những người còn giấu giếm. Tuy nhiên, công khai là một thử thách lớn đối với người đồng tính vì họ phải vượt qua được những trở lực đến từ bản thân và xã hội.

[10] Cộng tác nghiên cứu iSEE và Khoa Xã hội học, Học viện báo chí và tuyên truyền, Nghiên cứu khoa học:Thông điệp về đồng tính trên báo in và báo mạng, trang 14, nguồn:

http://isee.org.vn/uploads/download/you4share.com_4d5258c2076fb.pdf

[11] Xem: Giải đáp các câu hỏi của bạn để hiểu thêm về xu hướng tình dục và đồng tính luyến ái, sđd, tr 7.

[12] Quyền tự nhiên (natural rights) là tổng thể những quyền mà mỗi người khi sinh ra đã được hưởng và là những nguyên tắc đạo đức cơ bản trong xã hội mà bất kỳ quốc gia nào trong quá khứ, hiện tại hay tương lai đều phải thừa nhận và tôn trọng. Nền tảng của quyền tự nhiên là các chuẩn mực về sự công bằng và nguyên tắc tự do của con người. Trong đó, người đồng tính, cũng như các chủ thể khác trong xã hội, có các quyền cơ bản gồm quyền được sống, được tự do và được mưu cầu hạnh phúc.

[13]  Xem Jean Jacques Rousseau,  Hoàng Thanh Đạm dịch, Khế ước xã hội, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 1992.

[14] John Locke (1632 – 1704).

[15]  Xem Thomas Paine (1731 – 1809), Rights of Man, 1791.

[16] Xem John Locke: An Essay Concerning Human Understands, 1690;  Second Tract Of Government, 1662; Questions Concerning the Law of Nature, 1664.

[17] Jean Jacques Rousseau, Khế ước xã hội, sđd, tr. 10.

[18] Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí, Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, trang 41.

[19] 508 U.S. 47 (1993).

[20] Phạm tội do thù ghét:là hành vi phạm tội dựa trên sự thù ghét do chủng tộc, tôn giáo, màu da, khuyết tật, khuynh hướng tình dục, nguồn gốc quốc gia hoặc tổ tiên của một người, nguồn:

http://en.wikipedia.org/wiki/Hate_crime_laws_in_the_United_States

[21] Xem Hiến pháp Hoa Kỳ và các tu chính án.

[23] Kết quả vụ kiện dự luật số 8 của bang California, nguồn: http://thegioithu3.vn/news/tgt3-news/1417.html

[24] Tuy nhiên có thể nhận thấy Điều 2 chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề hôn nhân đồng giới.

[25] Lời mở đầu của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966.

[26] Nguyễn Đăng Dung,Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 117.

[29] Theo định nghĩa của từ điển triết học, chính trị được hiểu là sự tham gia vào các công việc của nhà nước, quy định những hình thức, nội dung hoạt động của nhà nước. Theo nghĩa rộng, chính trị là hoạt động của con người nhằm tạo ra và gìn giữ những luật lệ chung mà những luật lệ này sau đó sẽ tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người làm ra nó. Tổng quát lại, chính trị là sự tham gia của con người trong việc tạo ra những quy tắc điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ cao nhất các lợi ích chính đáng của mình, nguồn: Từ điển Triết học, NXB. Tiến bộ Matxcova, 1975, tr. 236.

Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hành chính Nhà nước

One Comment on “CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH”

  1. vit Says:

    Cảm ơn bạn vì bài viết hay!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: