Kiến nghị công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính ở VN

Trương Hồng Quang

1. Các kiến nghị về vấn đề công nhận quyền của người đồng tính

Xuất phát từ các quyền tự do cơ bản, quyền bình đẳng của tất cả mọi người và nhận thấy những rào cản về mặt nhận thức của xã hội có thể dẫn đến việc hạn chế quyền hoặc không cho phép người đồng tính được hưởng các quyền lợi chính đáng của mình, có thể nhận định rằng việc tạo cơ hội để người đồng tính độc lập giải quyết các vấn đề của mình là điều cần thiết. Dựa vào các đặc điểm về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam, các nhà làm luật cần nghiên cứu, xem xét để đưa ra các quy định pháp luật về người đồng tính nhằm đảm bảo công bằng và phát triển xã hội theo phương châm lấy con người là trung tâm của mọi sự tiến bộ.

Hiện nay, hệ thống pháp luật ViệtNamchưa có các quy phạm riêng dành cho người đồng tính, nhưng những quy định về bảo vệ quyền con người ở phạm vi khái quát là tương đối hoàn chỉnh. Trong phạm vi công trình nghiên cứu này, các kiến nghị được đưa ra chủ yếu dựa trên đề xuất bổ sung các quy định đã có của pháp luật Việt Namhiện hành.

  • Quyền được công nhận và bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử

Như đã nói do chưa có bất kỳ một văn bản pháp luật nào của Việt Nam quy định cụ thể về quyền của người đồng tính, nên việc thừa nhận sự tồn tại của người đồng tính là một điều cần thiết và phải sớm được thực hiện. Cũng cần phải nói thêm rằng, công nhận  quyền bình đẳng sẽ không thật sự phát huy hiệu quả nếu song song với đó không có các cơ chế bảo vệ với người đồng tính. Nói cách khác, việc bổ sung các quy định của pháp luật theo hướng thừa nhận quyền của người đồng tính như trên chỉ có ý nghĩa khi Nhà nước đề ra các cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi cho người đồng tính. Dựa vào thực tiễn ban hành pháp luật về người đồng tính của một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy, một trong những cơ chế có hiệu quả, có khả năng đảm bảo được quyền bình đẳng cho người đồng tính trên thực tế là xác lập các quy định về chống phân biệt đối xử với người đồng tính.

Để bảo vệ người đồng tính khỏi các hành vi phân biệt đối xử trước hết cần làm rõ  khái niệm phân biệt đối xử và các lĩnh vực người đồng tính thường gặp phải sự phân biệt đối xử ở Việt Nam.

Phân biệt đối xử, theo giải thích của Ủy ban Quyền con người[1] (Human Rights Committee), là bất kì sự phân biệt, loại bỏ, hạn chế hay thiên vị nào thực hiện dựa trên bất kì yếu tố nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, quốc tịch hay thành phần xã hội, tài sản, nguồn gốc hay các vị thế khác, mà có mục đích hoặc có tác động làm vô hiệu hóa hay làm suy giảm sự thừa nhận, thụ hưởng hay thực hiện các quyền và tự do của tất cả mọi người trên cơ sở sự bình đẳng.

Tại Điều 2 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, sự phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật được hiểu là: bất cứ sự phân biệt, sự loại trừ, sự hạn chế nào vì lý do khuyết tật mà có chủ ý hoặc có tác động làm phương hại hoặc vô hiệu hoá sự nhận thức, sự hưởng thụ, và việc thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và dân sự hay bất kỳ lĩnh vực nào khác trên cơ sở công bằng với các thành viên khác trong xã hội, bao gồm tất cả các hình thức phân biệt đối xử, kể cả việc từ chối đưa ra những điều chỉnh hợp lý.

Điều 1 Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ định nghĩa: Phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào được đề ra dựa trên cơ sở giới tính, mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào, được công nhận, thụ hưởng hay thực hiện các quyền con người và tự do cơ bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hộ, dân sự hay bất kể lĩnh vực nào khác trên cơ sở bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ.

Trong pháp luật ViệtNam, khoản 3 Điều 2 Luật Người khuyết tật 2010 đưa ra định nghĩa phân biệt đối xử người khuyết tật là hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khuyết tật vì lý do khuyết tật của người đó. Trong đó kỳ thị được hiểu là thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng người khác vì lý do khuyết tật của người đó (khoản 2 Điều 2). Khoản 5 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006 giải thích: phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam, nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực.

Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, phân biệt là nhận biết được sự khác nhau dựa vào các đặc điểm, tính chất coi là khác thường để có sự đối xử không như nhau[2].

Dựa vào các định nghĩa nêu trên, có thể hiểu phân biệt đối xử người đồng tính là bất cứ sự phân biệt, loại trừ, hạn chế, không công nhận có chủ ý hoặc có tác động làm phương hại hoặc suy giảm sự nhận thức, sự hưởng thụ và việc thực hiện các quyền con người, các quyền tự do cơ bản trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của người đồng tính trên cơ sở bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội. Sự phân biệt đối xử đó thể hiện dưới các hành vi như xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến vì lý do người đó có xu hướng tình dục đồng giới.

Biểu hiện của sự phân biệt đối xử với người đồng tính là các hành vi có chủ đích làm hạn chế hoặc loại trừ người đồng tính khỏi việc hưởng thụ và thực hiện các quyền con người, hình thức của hành vi có thể là ngược đãi, phỉ báng, xa lánh, thành kiến người đồng tính. Phạm vi tác động của sự phân biệt đối xử đó là tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội liên quan đến việc thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của người đồng tính. Chủ thể thực hiện các hành vi phân biệt đối xử trên có thể là mọi đối tượng, bao gồm cả những người đồng tính.

Xét về mặt khái niệm, người đồng tính có thể bị phân biệt đối xử ở rất nhiều lĩnh vực của đời sống nhưng dựa vào tình hình thực tiễn ở Việt Nam có thể thấy không phải bất kỳ lĩnh vực nào quyền của người đồng tính cũng bị xâm hại, sự xâm hại đó chỉ tồn tại ở một số mặt nhất định. Các kiến nghị do đó cũng sẽ tập trung vào vấn đề bảo vệ quyền của người đồng tính ở các khía cạnh chính và các vấn đề về xóa bỏ định kiến, kỳ thị về người đồng tính của xã hội trên cơ sở pháp luật. Bao gồm:

  • Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng

Bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật là cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả quyền con người. Điều này có nghĩa là tất cả mọi người trong trường hợp như nhau không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ và chịu các trách nhiệm pháp lý được quy định trong pháp luật. Điều 52 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 2001 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Khi cụ thể hóa quy định trên vào các văn bản pháp luật khác, các nhà làm luật lại chưa thật sự quan tâm đến quyền bình đẳng của người đồng tính.

 Cụ thể, Điều 5 BLDS 2005 quy định: “Các bên trong quan hệ dân sự đều bình đẳng, không được lấy lí do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần dân tộc, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”. Điều 8 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002 quy định: Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định: “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Bất kì người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật”. Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định: mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ dân sự. Các văn bản pháp luật khác cũng có những quy định tương tự như trên.

 Các quy định nêu trên vô hình chung đã loại người đồng tính ra ngoài sự điều chỉnh của pháp luật về quyền bình đẳng của tất cả mọi người bởi sự khác nhau cơ bản giữa người đồng tính với người dị tính hoặc người lưỡng tính là ở xu hướng tình dục của mình. Điều này hoàn toàn không chỉ dựa trên các đặc điểm sinh học theo cách hiểu thông thường về giới, giới tính[3] mà còn chịu sự chi phối phức tạp của các yếu tố xã hội và được xác định trên cơ sở các mối quan hệ giữa người đó với người khác, thông qua các hành vi cụ thể trong đời sống, thể hiện xu hướng tình dục của mình. Do vậy, cần thiết phải có sự bổ sung về quyền bình đẳng của người đồng tính trước pháp luật và yêu cầu pháp luật bảo vệ các quyền bình đẳng đó. Đây sẽ là cơ sở để người đồng tính xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình bình đẳng như mọi người trong xã hội, chịu các trách nhiệm pháp lý về hành vi vi phạm pháp luật của mình và chịu sự xử lí theo quy định của pháp luật. Quy định trên cũng sẽ đề ra những trách nhiệm nhất định của Nhà nước trong việc đặt ra các quyền và nghĩa vụ của người đồng tính không trái với Hiến pháp cũng như tạo các điều kiện đảm bảo cho người đồng tính thực hiện quyền bình đẳng trước pháp luật.

  • Quyền làm việc, được hưởng những điều kiện lao động công bằng và thuận lợi

Điều 55 Hiến pháp1992, sửa đổi, bổ sung 2001 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân”, được cụ thể tại Điều 49 BLDS 2005 và Điều 5 Bộ luật Lao động 2006, theo đó mọi công dân có quyền lao động, có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiêm cấm ngược đãi, cưỡng bức người lao động dưới bất kì hình thức nào. Tương tự như quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ các quyền bình đẳng, quy định trên đã không đề cập đến người đồng tính, trong khi trên thực tế người đồng tính gặp phải các vấn đề về phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động, cơ hội thăng tiến trong công việc.

 Thông thường, nghĩa vụ chứng minh việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật về không phân biệt đối xử thuộc về người sử dụng lao động. Trong một số trường hợp người lao động cũng có trách nhiệm chứng minh khi liên quan đến việc chấp nhận việc làm, thăng chức, các điều kiện đề nghị về việc làm, đào tạo hướng nghiệp… mà các trường hợp này người sử dụng lao động đưa ra các điều kiện về phẩm chất, năng lực của người xin việc hay người lao động. Khi đó người lao động phải chứng minh mình đáp ứng những điều kiện về đề nghị phẩm chất đó[4]. Pháp luật không có quy định cấm phân biệt đối xử với người đồng tính trong những trường hợp này sẽ là một “lỗ hổng pháp lý”, tạo kẽ hở cho người sử dụng lao động từ chối chấp nhận các yêu cầu của người đồng tính với lý do họ là người đồng tính mà không bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật, dù có thể thấy rõ nguyên nhân sự từ chối trên xuất phát từ sự phân biệt đối xử. Tương tự, việc pháp luật không có quy định cấm phân biệt đối xử với lý do là người đồng tính sẽ tạo cơ hội cho người sử dụng lao động tự ý sa thải người lao động mặc dù các cư xử và hành động của họ không có lý do gì để sa thải. Ngoài ra, một điểm cần lưu ý trong vấn đề xin việc làm là quyền được bảo vệ bí mật riêng tư của người lao động là người đồng tính, pháp luật Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến điều này nhưng khi người xin việc là người đồng tính, họ có thể bị hỏi những câu hỏi mang tính riêng tư như về quan hệ tình dục, bạn tình, phản ứng của gia đình… trong khi những điều này lại không hề liên quan đến tiêu chuẩn công việc[5].

Tóm lại, những rào cản trên là điều hoàn toàn có thể xảy ra và đã xảy ra trên thực tế. Sự thiếu sót trong quy định về cấm phân biệt đối xử trong công việc liên quan đến vấn đề người đồng tính, xu hướng tình dục đồng tính vô hình chung đã hạn chế, cản trở quyền có việc làm, quyền làm việc một cách chính đáng của người đồng tính. Điều này vì vậy cần phải được bổ sung và khắc phục trong thời gian tới.

  • Quyền được học tập

Học tập vừa là quyền cơ bản của con người vừa là điều kiện để con người phát huy các giá trị nhân quyền khác. Học tập và giáo dục giúp con người tham gia tích cực, chủ động trong các hoạt động chung cộng đồng, từ đó nâng cao ý thức đối với các vấn đề xã hội. Có thể nói, quyền học tập là một trong các quyền con người quan trọng nhất mà mỗi quốc gia khi ban hành pháp luật phải chú ý đến và giải quyết ổn thỏa trong mối tương quan giữa giáo dục với các quan hệ xã hội khác. Điều 59 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 2001 nêu rõ: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí. Công dân có quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức”. Cụ thể hóa điều trên, Điều 10 Luật giáo dục 2005 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Do không có quy định rõ về trường hợp của người đồng tính nên dẫn đến việc tiềm ẩn nguy cơ phân biệt đối xử với người đồng tính trong môi trường giáo dục. Người đồng tính có thể bị từ chối nhận học, bị đuổi học hoặc bị áp dụng những hình thức xử phạt, kỉ luật bất công chỉ vì xu hướng tình dục đồng giới của mình. Các hành động như trên một mặt đã loại bỏ, hạn chế quyền lợi cơ bản của người đồng tính, mặt khác gây những trở ngại, khó khăn nhất định để hòa nhập với xã hội của người đồng tính vì trường học là môi trường xã hội đầu tiên mà con người tiếp xúc sau môi trường gia đình và chi phối rất nhiều đến thái độ, hành vi của con người trong xã hội sau này. Sự hạn chế quyền trong lĩnh vực học tập và giáo dục như trên là điều không nên, không được phép có. Do vậy với mục tiêu thúc đẩy sự bình đẳng cho người đồng tính pháp luật nhất thiết phải xóa bỏ sự phân biệt nói trên, tạo môi trường giáo dục lành mạnh để người đồng tính được hưởng các lợi ích như những người khác.

  • Quyền được tôn trọng đời sống riêng tư

Quyền tôn trọng đời sống riêng tư được hiểu như quyền được pháp luật bảo hộ chống lại những sự can thiệp hay xâm hại đến đời tư, nơi ở, gia đình, nhà cửa, thư tín, các loại hình trao đổi thông tin khác hoặc sự xúc phạm một cách bất hợp pháp đến danh dự hoặc uy tín của người đó. Theo Điều 73 Hiến pháp1992, sửa đổi bổ sung 2001, công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Điều 38 Bộ luật Dân sự 2005 cụ thể bằng các quy định về quyền bí mật đời tư, trong đó pháp luật tôn trọng và bảo vệ các bí mật đời tư của cá nhân, thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Xét về mặt khái niệm, quyền riêng tư không đồng nhất với quyền bí mật đời tư, vì quyền riêng tư là những gì liên quan đến cá nhân nhưng không phải lúc nào cũng mang tính chất bí mật. Phạm vi “riêng tư” có thể rộng hơn phạm vi “bí mật đời tư” rất nhiều, sự tự do suy nghĩ, tự do hành động, danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức con người cũng được xem như một điều riêng tư cần được pháp luật bảo vệ. Tôn trọng quyền riêng tư là một yêu cầu tất yếu đặt ra cho tất cả mọi người, buộc mọi người phải tuân thủ. Sở dĩ vấn đề này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn với người đồng tính vì trong quan điểm chung của xã hội, người đồng tính được xem như một hiện tượng kỳ lạ, khác biệt với số đông nhân loại còn lại, đời sống riêng tư của họ không thể tránh khỏi sự tò mò, soi mói của người khác. Đó là các hành vi vi phạm quyền riêng tư của con người. Ở một mức độ khác, sự xâm phạm quyền riêng tư trên có thể kèm theo các hành vi tiêu cực như đánh đập, xúc phạm nhân phẩm hoặc cản trở đời sống bình thường của người đồng tính. Do vậy, cần có những quy định cụ thể, về tôn trọng quyền riêng tư của người đồng tính để đảm bảo cho người đồng tính sống một cuộc sống bình thường, được tôn trọng và được đối xử bình đẳng như những người khác.

  • Quyền kết hôn

Kết hôn của người đồng tính là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến phản đối khi cho rằng hợp pháp hóa hôn nhân và các quan hệ dân sự đồng giới khác có thể làm tổn hại đến đức tin của các tôn giáo, các giá trị đạo đức và các quan hệ xã hội. Các lí do phản đối hôn nhân đồng giới thường được đưa ra đó là: một, quan hệ hôn nhân đồng tính không thể sinh con để duy trì nòi giống; hai, cho phép kết hôn giữa những người đồng tính sẽ gia tăng các quan hệ tình dục đồng giới – một loại tình dục không an toàn; ba, hôn nhân đồng tính ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của trẻ em; bốn, hôn nhân đồng tính là trái với lẽ thường tình, trái với niềm tin và đạo đức xã hội[6].

Các lập luận trên chưa thật sự thuyết phục và toàn diện. Thứ nhất, hôn nhân là sự xác lập quyền – nghĩa vụ vợ chồng của những người yêu nhau mong muốn quan hệ trên được hợp thức hóa và được xã hội công nhận. Đó cũng là ý nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất của việc kết hôn. Mục đích sinh con đẻ cái, duy trì nòi giống chỉ là điều mà xã hội mong muốn khi một quan hệ hôn nhân được xác lập, đó không đồng thời là nghĩa vụ bắt buộc với các bên khi kết hôn. Thực tế vẫn tồn tại nhiều cặp vợ chồng không muốn sinh con, pháp luật vẫn thừa nhận kết hôn giữa những người vô sinh hay bị nhiễm HIV dù sự thật hiển nhiên là các cặp này sẽ không thể thực hiện được chức năng duy trì nòi giống mà xã hội mong muốn. Mặt khác, không có một căn cứ khoa học xác đáng nào cho rằng việc không thể sinh con giữa những người đồng tính kết hôn vốn chỉ chiếm một số lượng ít trong xã hội là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thoái hóa, tuyệt diệt giống nòi của nhân loại. Thứ hai, quan điểm cho rằng kết hôn đồng giới sẽ làm gia tăng các quan hệ tình dục đồng giới không an toàn, từng có thời gian cộng đồng coi quan hệ tình dục đồng giới là nguyên nhân lây lan đại dịch AIDS trên toàn cầu[7]. Luận điểm trên là không hợp lý bởi AIDS xuất phát từ nhiều nguyên nhân, quan hệ tình dục chỉ là một trong số đó, hơn nữa điều này xuất phát từ những quan hệ tình dục không lành mạnh của những người quan hệ tình dục, hoàn toàn không phải do quan hệ của những người đồng tính gây ra. Nguyên nhân chính dẫn đến tình dục không an toàn là do các bên không sử dụng các biện pháp an toàn. Mặt khác có thể thấy điểm vô lý trong việc giải thích như trên là, nếu cho rằng tình dục đồng giới là không lành mạnh thì không có lý do gì để lý giải cho việc pháp luật chỉ cấm kết hôn đồng giới mà không cấm các quan hệ tình dục đồng giới[8]. Thứ ba, quyền lợi của trẻ em chịu ảnh hưởng từ các mối liên hệ đa chiều, phức hợp trong xã hội chứ không chỉ từ quan hệ hôn nhân đồng tính. Xem xét kỹ hơn sẽ thấy quyền lợi trẻ em nếu bị ảnh hưởng là chịu ảnh hưởng từ những cá nhân người đồng tính chứ không phải từ các cuộc hôn nhân đồng tính vì trong quan hệ hôn nhân này, khả năng sinh sản là không cao. Các nghiên cứu khoa học xã hội về trẻ em là con của người đồng tính luyến ái cho thấy, con của người đồng tính luyến không khác biệt là mấy so với con của người dị tính luyến ái về sự phát triển, thích nghi xã hội và nhân cách nói chung[9]. Hơn nữa, phải chăng có thể khẳng định mọi trẻ em là con của người dị tính đều được giáo dục, tiếp thu những ảnh hưởng tốt đẹp từ cha mẹ và gia đình những người này, các trẻ em này hoàn toàn không bị đánh đập, đối xử ngược đãi hay chịu những tổn thương về mặt tinh thần hay sức khỏe do được sống với các cặp cha mẹ ấy. Về các vấn đề đạo đức, niềm tin hay lẽ thường tình của xã hội, thực tế không đưa ra bất kì định nghĩa nào về các quan niệm trên, đồng thời các quan niệm đạo đức, niềm tin trong xã hội không phải lúc nào cũng là chân lý, là lẽ phải. Thật khó để thuyết phục rằng vì các giá trị trên mà những người đồng tính nên mặc nhiên chấp nhận việc hy sinh quyền mưu cầu hạnh phúc của mình cho những giá trị mơ hồ, không rõ ràng và phiến diện của một số quan điểm như thế trong xã hội.

Tóm lại, quyền kết hôn là một trong những quyền cơ bản, phổ biến của tất cả mọi người, những lý do đưa ra nhằm phản đối việc kết hôn của những người đồng tính là thiếu cơ sơ và thiếu sự nhân ái, thân thiện trong thái độ cư xử với những người yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội. Kết hôn giữa những người đồng tính do đó cần phải được thừa nhận và tôn trọng. Hiện nay, bên cạnh các quốc gia việc thừa nhận kết hôn đồng tính, ở một số nước chỉ thừa nhận quyền chung sống với nhau như vợ chồng giữa các cặp đồng tính dưới các hình thức như kết hợp dân sự hoặc đối tác chung nhà và hạn chế một số quyền nhất định của các cặp đôi này so với những cặp dị tính khác. Các hình thức này được xem như một giải pháp tốt khi vừa cho phép người đồng tính được quyền chung sống hợp pháp với bạn tình của mình vừa tránh được sự phản đối của những người không chấp nhận hôn nhân đồng tính. Tuy nhiên, về mặt lí luận bất kỳ một hạn chế quyền nào của các cặp đồng tính so với các cặp dị tính đều là bất công vì bản chất các quyền cơ bản, phổ biến của con người là sự bình đẳng, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử giữa các cá nhân trong xã hội đối với việc thụ hưởng các quyền trên. Do vậy, ở ViệtNamkhi thừa nhận hôn nhân giữa những người đồng tính, nhất thiết phải thừa nhận quyền được kết hôn bình đẳng, hợp pháp như những người dị tính khác.

Bên cạnh các quyền cơ bản nói trên, pháp luật cần có cơ chế hữu hiệu bảo vệ người đồng tính khỏi những hành động đánh đập, bạo ngược, bị ngược đãi do sự kỳ thị của người khác[10]. Mặt khác trong lĩnh vực nhà ở, quyền được có nhà ở của người đồng tính là điều phải lưu ý. Trên thực tế có thể xảy ra các trường hợp đe dọa, ép buộc, cản trở người đồng tính thực hiện quyền có nhà ở công bằng như những người khác hoặc việc chủ nhà từ chối bán, cho thuê nhà vì lí do là người đồng tính. Pháp luật ViệtNam chưa chú ý nhiều đến các phân biệt đối xử khi mua, thuê nhà ở nhưng đây là điều đã xảy ra trên thực tế xã hội. Việc bảo đảm các quyền lợi cơ bản cho người đồng tính sẽ là không toàn diện nếu bỏ qua quyền lợi này của người đồng tính.

Nhìn chung, đối với các quy định về chống phân biệt đối xử. Nhằm đảm bảo các quyền của người đồng tính được ghi nhận trong pháp luật đồng thời tránh việc ban hành quá nhiều văn bản pháp luật dẫn đến hiện tượng mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau, do đó chỉ cần bổ sung thêm quy định về cấm phân biệt đối xử với người đồng tính trong nội dung của văn bản pháp luật có liên quan tới các vấn đề nêu trên. Bên cạnh đó, cần có những quy định cụ thể, rõ ràng để giải quyết các vi phạm pháp luật về quyền của người đồng tính. Chẳng hạn, khi người đồng tính bị xâm phạm một trong các quyền thuộc nhóm các quyền về kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội thì có thể tự bảo vệ quyền của mình hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ bằng một trong các hình thức như: công nhận quyền hợp pháp đó của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc bồi thường thiệt hại; buộc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hình sự, cần có các chế tài hợp lý để vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật vừa răn đe, cảnh cáo các đối tượng khác có những hành vi vi phạm tương tự.

Đối với vấn đề kết hôn, căn cứ vào các cơ sở lý luận đã phân tích, quyền kết hôn của người đồng tính là điều hoàn toàn hợp pháp và phải được đảm bảo. Tuy vậy, dựa vào các điều kiện hiện tại của đất nước, khi các yếu tố về tâm lý, quan điểm xã hội chưa thật sự cởi mở, các điều kiện về kinh tế, xã hội còn nhiều hạn chế, thiết nghĩ việc thừa nhận quyền kết hôn của người đồng tính tại thời điểm này chưa thật sự cần thiết và hợp lý. Nên chăng cần có thêm thời gian để người đồng tính tự bản thân mình khẳng định vị trí, vai trò của mình trong xã hội và để mọi người có những suy nghĩ đúng đắn, nhân hậu và tích cực hơn về vấn về này để từ đó đưa ra những quyết định sáng suốt và hợp pháp vừa bảo đảm được quyền của người đồng tính và vừa hợp lòng dân.

2. Các kiến nghị về vấn đề xây dựng cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người đồng tính

Công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính không chỉ đòi hỏi Nhà nước ghi nhận các quyền cụ thể dành cho người đồng tính trong luật pháp mà còn đặt ra vấn đề phải xây dựng một cơ chế đồng bộ, hợp lý về các mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp và các công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vấn đề đồng tính luyến ái.

Về mặt lập pháp, trước khi ban hành các quy định về quyền của người đồng tính, các cơ quan, tổ chức Chính phủ cần nghiên cứu, xem xét một cách cụ thể, thận trọng thực trạng người đồng tính ở Việt Nam cũng như các tác động của xã hội đến đời sống của họ. Khi thiết kế các quyền dành cho người đồng tính cần tính đến tính khả thi, hiệu quả của quyền đó cho người đồng tính tránh tình trạng ưu tiên quá nhiều hoặc quá ít quyền cho họ. Mặt khác cần chú ý đến các “phản ứng ngược” từ các quy định trên dẫn đến tình trạng người đồng tính gặp nhiều sự phân biệt đối xử hơn từ chính các quy định đó. Chẳng hạn, quy định cấm phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động, thăng tiến công việc dành cho người đồng tính có thể dẫn đến việc người sử dụng lao động để tránh rắc rối có thể nảy sinh về mặt lâu dài sẽ đưa ra một lí do nào đó để từ chối người đồng tính hoặc lựa chọn một người dị giới bình thường đảm nhận công việc đó khi hai ứng viên, một là người dị tính, một là người đồng tính có trình độ, khả năng tương đương nhau. Quy định về tôn trọng đời sống riêng tư cho người đồng tính có thể làm mọi người ngại tiếp xúc với người đồng tính hơn vì sợ rằng mình đang có những hành vi xâm phạm đời sống riêng tư của họ khi hỏi han về đời sống tình cảm, quan hệ tình dục của người đồng tính,… Ngoài ra, cần chú ý đến việc đảm bảo lồng ghép các quy định về quyền của người đồng tính khi ban hành và thực thi pháp luật.

Về mặt hành pháp, các cơ quan, tổ chức của Chính phủ cần phối hợp chặt chẽ với nhau và với các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và cộng đồng trong việc thực thi và bảo vệ các quyền của người đồng tính trên mọi phương diện của xã hội. Nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền con người, quyền của người đồng tính, phát hiện các hành vi vi phạm và cùng tham gia giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền của người đồng tính trong phạm vi cộng đồng.

Về mặt tư pháp, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của mình và các quy định của pháp luật, Tòa án cần xét xử nghiêm minh với những hành vi vi phạm quyền của người đồng tính và giải quyết thỏa đáng các tranh chấp trong xã hội nhằm bảo vệ quyền của người đồng tính được tốt nhất.

Bên cạnh các biện pháp như trên, cần có các kế hoạch, chiến lược hợp lý nhằm thúc đẩy những quan điểm tích cực và nhận thức xã hội sâu rộng hơn về người đồng tính, khuyến khích việc ghi nhận các kỹ năng, phẩm chất và năng lực của người đồng tính, những đóng góp của họ cho xã hội thông qua các cơ quan ngôn luận và báo chí. Trong giáo dục, cần xây dựng thái độ tôn trọng quyền của người đồng tính ở các cấp học, bao gồm trẻ em ở mọi lứa tuổi trên quan điểm người đồng tính cũng là một người bình thường như những người khác trong xã hội. Song song với đó cần khuyến khích sự hiểu biết của người dân về quyền của người đồng tính thông qua các hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật tại địa phương và nơi công cộng.


[1] Ủy ban Quyền con người là cơ quan chuyên môn của Hội đồng Kinh tế và Xã hội (ECOSOC) – một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc.

[2] Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà nẵng, 2006, trang 770.

[3] Theo giải thích từ ngữ ở Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006 thì: giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội, giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.

[4] Xem thêm: Phạm Thị Thúy Nga, Pháp luật lao động Việt Nam và việc bảo vệ quyền con người trong Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, tập 2, Hà Nội, 2010, trang 56.

[5] Phạm Thị Thúy Nga, Pháp luật lao động Việt Nam và việc bảo vệ quyền con người, nđd.

[6] Dương Hoán, Quyền kết hôn của người đồng tính, Kỷ yếu tọa đàm khoa học: Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4/12/2010.

[8]  Dương Hoán, Quyền kết hôn của người đồng tính, nđd.

[9] Giải đáp các câu hỏi của bạn để hiểu thêm về xu hướng tình dục và đồng tính luyến ái, sđd, trang 6.

[10] Nhìn chung những quyền này đã được nêu chung trong nhóm quyền về tự do, an ninh cá nhân, do vậy  không cần thiết phải có những quy định dành riêng cho người đồng tính. Xem thêm: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), sđd, trang 573.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hành chính Nhà nước

One Comment trên “Kiến nghị công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính ở VN”

  1. Thành Says:

    Quý vị cần xem xét ý kiến trên


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: