Archive for Tháng Mười Hai 2011

HIỆU QUẢ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THÔNG QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Hai 27, 2011

HIỆU QUẢ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THÔNG QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

Các nghiên cứu từ trước đến nay đều khẳng định rằng chủ thể của phản biện xã hội là nhân dân với tính chất là tập hợp toàn bộ các nhóm người, các tầng lớp khác nhau trong xã hội[1]. Theo đó các chủ thể phản biện xã hội có thể bao gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; tổ chức kinh tế (doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế); tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp; hội, hiệp hội, liên hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ; cá nhân công dân (nhà khoa học, chuyên gia, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp của quyết định, chính sách…)[2]. Có thể nhận thấy với mỗi chủ thể khác nhau thì hiệu quả, mức độ phản biện xã hội sẽ khác nhau. Bài viết sau đây xin đánh giá một số vấn đề trong thực hiện phản biện xã hội của một số chủ thể (chuyên gia, nhà khoa học; hiệp hội và báo chí) thông qua một số trường hợp cụ thể.

1. Phản biện xã hội chính sách, pháp luật về giáo dục Đại học của các chuyên gia, nhà khoa học

Các chuyên gia, nhà khoa học là một chủ thể rất quan trọng của hoạt động phản biện xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới. Đây chính là lực lượng có chất lượng kiến thức, chuyên môn cũng như mức độ cống hiến cho khoa học rất lớn. Chính sách trong giáo dục đại học là vấn đề rất nóng bỏng tại Việt Nam. Do đó, các chuyên gia, nhà khoa học từ trước đến nay đều giành nhiều thời gian, tâm huyết để tham gia mổ xẻ với nhiều ý kiến đóng góp, phản biện khá đa dạng, phong phú, nhất là đối với hệ các chính sách, pháp luật giáo dục đại học. Trong thời gian gần đây có hai vấn đề rất được quan tâm, đó là: áp dụng học chế tín chỉ và Dự thảo Luật Giáo dục Đại học. (more…)

Advertisements

Nhu cầu kết hôn của người đồng tính

Tháng Mười Hai 6, 2011

Nhu cầu kết hôn của người đồng tính là một nhu cầu chính đáng

Trương Hồng Quang

ViệtNamcó truyền thống pháp luật giống với hệ thống luật Civil Law, trong đó các mối quan hệ trong xã hội được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, có thể nói điểm yếu của hệ thống này ở chỗ các mối quan hệ xã hội biến đổi từng ngày, từng giờ, có lúc quan hệ này hôm nay chưa quan trọng nhưng hôm sau đã trở thành quan hệ có ảnh hưởng lớn đến xã hội, và các văn bản pháp luật nhanh chóng bi lỗi thời và lạc hậu khi không theo kịp các biến đổi này, khi đó sẽ trở thành vật cản của tiến trình phát triển xã hội. Trong các mối quan hệ xã hội có sự biến đổi lớn trong những năm gần đây cần phải nói đến quan hệ của những người đồng tính và việc kết hôn của họ.

Nhiều đám cưới đồng tính được âm thầm tổ chức, khách mời chủ yếu là bản bè và những người cùng cảnh ngộ hoặc các thành viên trong cùng một câu lạc bộ của người đồng tính.

Đa phần các đám cưới này rất nhỏ, và đơn giản không rình rang nhiều nghi thức như đám cưới của người dị giới, nhưng vẫn đủ các phần chính như trầu cau, sính lễ, cắt bánh kem, rót rượu.

Từ đó ta thấy được nhu cầu được kết hôn và sống như vợ chồng của người đồng tính là rất lớn và đáng được quan tâm. (more…)

Một số giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến đồng tính

Tháng Mười Hai 6, 2011

Trương Hồng Quang

Có nhiều giả thuyết với nhiều cách lý giải khác nhau về nguyên nhân dẫn đến đồng tính. Đã có nhiều giả thuyết nêu rằng do di truyền học, sinh hoá học – nội tiết và các yếu tố cấu trúc. Song không giả thuyết nào được kiểm chứng cả, cuối cùng các nhà khoa học đã chia ra hai nguyên nhân chính dẫn đến đồng tính là do bẩm sinh và do yếu tố bên ngoài tác động

1. Các yếu tố dẫn đến đồng tính bẩm sinh

1.1. Giả thuyết dựa trên di truyền học

Có thời gian các nhà bác học cho rằng đồng tính có thể được mã hoá bằng gen, có nghĩa là có khả năng di truyền. Nhưng luận chứng này lại dựa trên một truyền thuyết cho rằng: Tồn tại một lúc nào đó, con người đã từng có 3 giống: “Giống đực”, “giống cái” và “giống trung” có khả năng đóng vai trò cả đàn ông và đàn bà.

Về nguyên nhân này, khoa học ngày nay vẫn chưa có bằng chứng có tính thuyết phục, nhiều điều vẫn còn trong vòng bí ẩn. Nói đến di truyền của các người đồng tính người ta thường nói đến khuynh hướng tự nhiên hầu như không thể chữa trị được nỗi một cá nhân nào đó. Nhưng khuynh hướng tự nhiên di chuyển từ một người từ thế hệ trước sang một người thuộc thế hệ sau như thế nào, khoa học vẫn chưa hiểu được. (more…)

Quan điểm về đồng tính ở Việt Nam xét dưới một số khía cạnh

Tháng Mười Hai 5, 2011

Trương Hồng Quang

1. Xét dưới khía cạnh truyền thống văn hóa

Không một đất nước nào tồn tại và phát triển được nếu như không dựa trên cơ sở, nền tảng của truyền thống văn hóa, và Việt Nam cũng không ngoại lệ, chính những truyền thống văn hóa từ lâu đời của ông cha ta xưa đã góp phần không nhỏ hình thành nên một Việt Nam rất riêng, rất mới, và rất lạ trong mắt của nghị trường thế giới nói chung và ở vùng Đông Nam Á nói riêng. Có những cái nhìn, những quan niệm sống từ thời xưa đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị trong nhiều lĩnh vực nhưng đặt biệt là trong lĩnh vực đời sống gia đình.

Quan niệm về văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống cho rằng gia đình là tế bào của xã hội, là một đơn vị cộng đồng ra đời cùng với xã hội loài người, bắt nguồn từ quan hệ nam nữ và việc sinh đẻ, nuôi dạy con cái. Nhìn theo góc độ đề tài của chúng ta về người đồng tính thì theo truyền thống văn hóa Việt Nam chúng ta cần phải nhìn đồng tính dưới hai khía cạnh khác nhau là khía cạnh khách quan và khía cạnh chủ quan.

Dưới khía cạnh khách quan, người ta nhìn nhận đồng tính như là một hiện tượng đi ngược lại trật tự tự nhiên, mà đặc biệt là tình dục đồng tính. Thông thường quan hệ tình dục chỉ phù hợp với bản chất và mục đích của nó, khi chúng diễn ra trong quan hệ yêu thương giữa người nam và người nữ. Vì quan niệm từ xa xưa, kết quả của một tình yêu đích thực là hôn nhân, và một trong những yếu tố duy trì hạnh phúc gia đình chính là quan hệ tình dục và con cái. Từ hành động giao hợp vợ chồng hướng đến mục đích của tình dục là yêu thương và sinh sản, chỉ có một quan hệ tình dục như thế mới có thể là mối quan hệ vợ chồng trong hôn nhân được bền vững, bởi nó đòi hỏi trách nhiệm của con người. Vì khi đã bước vào giai đoạn hôn nhân thì vợ chồng phải có trách nhiệm với hành vi của mình, phải yêu thương, chăm sóc, sinh sản và cùng nhau nuôi dạy con cái, việc làm này không chỉ có ý nghĩa đối với gia đình nói riêng mà còn có ý nghĩa với toàn xã hội nói chung. Trong khi đó quan hệ tình dục đồng tính không được xây dựng trên bất cứ một nền tảng nào đòi hỏi sự chung thuỷ và bền vững, nó chỉ là những khoảng khắc thoáng qua vì thế mà xã hội ngày nay không nhìn nhận nó với một cái nhìn thiện cảm. (more…)

VĂN KIỆN QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI – NỀN TẢNG XÂY DỰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Tháng Mười Hai 5, 2011

VĂN KIỆN QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI – NỀN TẢNG

XÂY DỰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Trương Hồng Quang

Trong nhiều nền văn hóa trước đây quan hệ đồng tính rất phổ biến. Trong lịch sử, đồng tính luyến ái, dưới góc độ cá nhân, từng được ca tụng hoặc lên án vì mỗi xã hội có những chuẩn mực tình dục khác nhau. Ở những nơi đồng tính được ca ngợi, những quan điểm đó được coi là một cách làm cho xã hội tiến bộ[i]. Ở những nơi đồng tính bị lên án, những hành vi cụ thể bị coi là một tội lỗi hoặc bệnh hoạn và một số hành vi đồng tính bị luật pháp cấm. Từ giữa thế kỷ XX, đồng tính dần dần không còn bị xem là một căn bệnh và phạm pháp ở hầu hết các nước phát triển. Tuy nhiên, luật pháp về quan hệ đồng tính rất khác biệt ở các nước khác nhau[ii]. Ở nhiều nơi, vài hành vi đồng tính nào đó là phạm pháp và bị xử rất nặng bao gồm cả tử hình. Trên bình diện quốc tế, pháp luật quốc tế đã có những văn bản có tính chất làm nền tảng cho việc xây dựng quyền của người đồng tính. Dưới đây, chúng tôi xin tìm hiểu ba văn bản tiêu biểu nhất. (more…)

THỰC TRẠNG BẢO VỆ TRẺ EM BỊ NHIỄM CHẤT DIOXIN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tháng Mười Hai 2, 2011

Trương Hồng Quang

Cuộc chiến tranh chất độc da cam/Dioxin do Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh khoa học lớn nhât trong lịch sử nhân loại. Theo các tài liệu khác nhau, với các chiến dịch Ranch Hand anh Pacer Ivy.Trong vòng 10 năm từ năm 1961 đến 1971, quân đội Hoa Kỳ đã rải xuống miền Nam Việt Nam khoảng 80 lít chất độc hóa học với hàm lượng Dioxin khoảng 366 kg . Trong đó chất độc da cam được sử dụng với khối lượng lớn nhất khoảng 45.677.937 lít. Khoảng 3.181 thôn làng Việt Nam bị rãi trực tiếp chất độc hóa học.(I) Để phân biệt các chất khác nhau, các thùng được mang những cái bằng màu nhận dạng khác nhau như những mật danh mà không cần tên tuổi , nơi xuất xứ như: màu xanh da trời, màu đỏ, màu trắng, màu vàng cam, màu tía, màu xanh, màu hồng, chất độc được đựng trong thùng có vạch màu vàng cam-chất độc da cam (agent orange) là chất hỗn hợp 50-50 của N-butyl esters cùa 2,4 D và 2,4,5 – T. Một chất độc gây ô nhiễm tổng hợp và là sản phẩm phụ tất yếu khi sản xuất 2,4,5T là TCDD tức là chất Dioxin. (more…)