VĂN KIỆN QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI – NỀN TẢNG XÂY DỰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

VĂN KIỆN QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI – NỀN TẢNG

XÂY DỰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

Trương Hồng Quang

Trong nhiều nền văn hóa trước đây quan hệ đồng tính rất phổ biến. Trong lịch sử, đồng tính luyến ái, dưới góc độ cá nhân, từng được ca tụng hoặc lên án vì mỗi xã hội có những chuẩn mực tình dục khác nhau. Ở những nơi đồng tính được ca ngợi, những quan điểm đó được coi là một cách làm cho xã hội tiến bộ[i]. Ở những nơi đồng tính bị lên án, những hành vi cụ thể bị coi là một tội lỗi hoặc bệnh hoạn và một số hành vi đồng tính bị luật pháp cấm. Từ giữa thế kỷ XX, đồng tính dần dần không còn bị xem là một căn bệnh và phạm pháp ở hầu hết các nước phát triển. Tuy nhiên, luật pháp về quan hệ đồng tính rất khác biệt ở các nước khác nhau[ii]. Ở nhiều nơi, vài hành vi đồng tính nào đó là phạm pháp và bị xử rất nặng bao gồm cả tử hình. Trên bình diện quốc tế, pháp luật quốc tế đã có những văn bản có tính chất làm nền tảng cho việc xây dựng quyền của người đồng tính. Dưới đây, chúng tôi xin tìm hiểu ba văn bản tiêu biểu nhất.

1. Hiến chương Liên Hợp Quốc

Từ cuối thế chiến thứ hai, Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế đã trình bày học thuyết để đảm bảo cho việc bảo vệ các quyền con người trong phạm vi quốc tế. Hiện nay, Liên Hợp Quốc vẫn giữ vững vai trò của mình là một cơ quan đứng đầu về bảo vệ quyền con người. Hiến chương Liên Hợp Quốc đã trở thành một văn kiện quan trọng nhất trong việc nâng cao Luật quốc tế về nhân quyền. Thực tế, Hiến chương không đưa ra bất kì một nghĩa vụ đặc biệt nào về quyền con người đối với các nước thành viên, ngoại trừ nghĩa vụ chung được đưa ra “hành động hỗ trợ và riêng biệt” để “đẩy mạnh sự tôn trọng, tuân theo sự tự do cơ bản và các quyền của con người đối với tất cả mọi người, không có sự phân biệt về giới tính, ngôn ngữ, hoặc tôn giáo”.

Điều này vẫn còn là tiêu chuẩn cho sự đẩy mạnh các quyền cơ bản của con người bởi vì đây là lần đầu tiên các quyền con người được công nhận khắp nơi trên thế giới. Quyền con người được đề cập từ đầu đến cuối của Hiến chương kể cả trong lời nói đầu của Hiến chương.

Để đẩy mạnh Quyền con người, một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương đưa ra là bình đẳng, không phân biệt đối với tất cả mọi cá nhân. Lời nói đầu của Hiến chương đã tuyên bố rằng “công nhận các quyền cơ bản của con người, phẩm chất và giá trị của con người, và quyền bình đẳng giữa nam và nữ…” tương tự, Điều 1 cũng quy định rằng “đẩy mạnh và động viên sự tôn trọng các Quyền con người và sự tự do cơ bản đối với tất cả mọi người, không có bất cứ sự phân biệt nào về giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”.

Chúng ta có thể thấy vấn đề xuyên suốt toàn bộ Hiến chương đó là quyền con người, nói rõ hơn đó là vấn đề về bình đẳng, bình đẳng về giới, bình đẳng về tôn giáo và bình đẳng về dân tộc. Ở đây chúng tôi muốn xét về khía cạnh bình đẳng giới. Trước đây, các quốc gia đều có tình trạng phân biệt nam nữ, có thể là trọng nam khinh nữ hoặc ngược lại, vì thế Hiến chương Liên Hợp Quốc ra đời để ngăn chặn tình trạng này, nhưng ngày nay, có một xu hướng tính dục đồng tính tồn tại song song với xu hướng dị tính và vì thế bắt buộc Hiến chương phải được hiểu theo một hướng khác. Thực sự, trong vòng hơn 20 năm qua, Liên Hợp Quốc đã cố gắng để công nhận đồng tính như là một “xu hướng tính dục”, để các quốc gia nhìn nhận họ có quyền bình đẳng. Tuy nhiên, mặc dù Liên Hợp Quốc có cố gắng đến đâu nhưng trong Hiến chương vẫn chưa ghi nhận quyền bình đẳng cho xu hướng tính dục đồng tính nên khi các quốc gia thừa nhận Hiến chương cũng có thể hiểu theo những chiều hướng khác nhau. Nhóm các nước nhìn nhận đồng tính nhưng không có pháp luật bảo vệ thì hiểu rằng quyền bình đẳng giới là bình đẳng giữa nam và nữ. Còn nhóm nước nhìn nhận đồng tính và có pháp luật bảo vệ lại cho rằng quyền bình đẳng giới là bao gồm nam, nữ và cả xu hướng đồng tính. Vấn đề này trước đây đã gây ra nhiều tranh cãi và chưa tìm ra được tiếng nói chung. Tình trạng đó đã đặt ra yêu cầu cho Liên hợp quốc phải có những biện pháp mạnh hơn để diệt trừ tận gốc sự phân biệt và ghi nhận sự công bằng đối với mọi người, sửa đổi Hiến chương để nó diễn tả sự bảo vệ quyền của người đồng tính.

Tháng 6 năm 2011 là một thời điểm lịch sử khi Hội đồng nhân quyền của Liên Hợp quốc đã thông qua Nghị quyết khẳng định: ‘mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào’[iii]. Đến ngày 7 tháng 3 năm 2012, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-Moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với những người đồng tính, song tính và chuyển giới (thuật ngữ tiếng Anh viết tắt là LGBT)[iv]. Như vậy, lần đầu tiên, người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã đưa ra một thông điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với vấn đề LGBT, và đây cũng là quan điểm của cả Liên Hợp Quốc khi gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới[v]. Những động thái này đã một lần nữa khẳng định đồng tính chỉ là một xu hướng tính dục như bao xu hướng khác (dị tính, song tính, vô tính,…) và góp phần xua đuổi quan niệm nặng nề tại các nước trên thế giới về cộng đồng đồng tính.

2. Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948

Vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được công nhận bởi Liên Hợp Quốc. Tuyên ngôn này là công cụ pháp lý quốc tế đầu tiên tập trung vấn đề nhân quyền. Nó được xem như là tiêu chuẩn cho mỗi quốc gia, tổ chức, cá nhân để đạt được sự tôn trọng tự do và nhân quyền. Thực tế, tuyên ngôn này không chắc chắn là phương tiện thỏa thuận. Tuy nhiên, nó được xem như là thành phần trung tâm của tập quán pháp quốc tế và có lẽ vẫn còn được quy định bắt buộc cho mỗi quốc gia.

Theo hiến chương Liên Hợp Quốc, nội dung của nó cũng bao gồm sự không phân biệt đối xử và công bằng, như là một thành phần cơ bản của luật nhân quyền quốc tế. Điều luật đầu tiên của nó đã đòi quyền lợi, như một lời tuyên bố bất hủ “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và công bằng về quyền và nhân phẩm”. Hơn nữa, ở Điều 2 Tuyên ngôn  đã ngăn cấm các quốc gia có sự định kiến cá nhân chống lại những cá nhân khác, căn cứ vào các tiêu chuẩn sau “…như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị, hoặc các chính kiến và quan niệm khác, quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc tình trạng khác”.

Khác biệt với Hiến chương, Tuyên ngôn này diễn tả một khoảng “mở” đó là “tình trạng khác” trở thành một dạng được bảo vệ, có nghĩa rằng đồng tính có thể được lý giải như một loại “tình trạng khác”. Hơn nữa, từ “mọi người” được lặp lại nhiều lần trong hầu hết các quy định của Tuyên ngôn nhân quyền, ngoài ra các cụm từ như “sự tự do”, “không phân biệt đối xử” và “các quyền về sự công bằng” được xem như gắn liền với mọi cá nhân.

Tuy nhiên, sự lý giải này không quy định một sự đảm bảo vững chắc cho cộng đồng đồng tính khi tồn tại những giới hạn trong Điều 29 của Tuyên ngôn: “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”. Thực tế, những người đồng tính hiện nay được đối xử hợp với đạo đức căn cứ vào nhiều quốc gia, vì thế những quốc gia có thể sử dụng điều khoản này để tiếp tục cản trở những người đồng tính khỏi việc đạt được quyền bình đẳng của họ. Tuy nhiên, sự luận giải để bảo vệ cho quyền của cộng đồng đồng tính có thể dựa trên một điều luật khác để bác bỏ Điều 29. Điều 30 của Tuyên ngôn đã nói rõ “không có một điều luật nào trong Tuyên ngôn này có thể được giải thích với hàm ý cho phép bất kì nhà nước, nhóm hoặc cá nhân nào được quyền tham gia vào bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích hủy hoại bất kì quyền hoặc tự do đã được nêu trong tuyên ngôn này”. Vì thế, quyền cơ bản của người đống tính không thể bị lấy đi bởi vì Điều 29. Mặc dù có những sự giải thích này, nhưng nó vẫn còn quá sớm để khẳng định quyền của người đống tính được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền.

3. Những nguyên tắc Yogyakarta

Để giải quyết những vấn đề về quyền cho người đồng tính, ngày 26 tháng 3 năm 2007, một nhóm chuyên gia nhân quyền đưa ra bộ Yogyakarta Principles (Nguyên tắc Yogyakarta) để áp dụng Luật Nhân quyền cho những vấn đề có liên quan đến khuynh hướng/xu hướng tính dục[vi] (sexual orientation) và bản dạng giới (gender identity). Các nguyên tắc này sẽ xác định nghĩa vụ của các quốc gia là phải tôn trọng, bảo vệ và thực hiện nhân quyền của tất cả mọi người bất kể khuynh hướng tình dục hoặc giới tính của họ. Hiện nay các quốc gia của thế giới tự do đang vận động để đưa những Nguyên Tắc Yogyakarta vào trong pháp luật của họ. Trong đó có các quyền tự do dân chủ của công dân, ban hành các luật về những quyền chưa được cụ thể hóa như: quyền tự do lập hội, quyền tự do hội họp, quyền biểu tình, quyền được trưng cầu dân ý, quyền được bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền tiếp cận thông tin…

Quyền của người đồng tính được thể hiện rõ nhất trong 3 nguyên tắc đầu tiên của bộ nguyên tắc này.

Nguyên tắc 1: Quyền được hưởng  Sự Hưởng Thụ Phổ Quát Của Quyền Con Người

Mọi con người được sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm giá và nhân quyền. Con người thuộc mọi xu hướng tính dục và bản dạng giới[vii] có quyền được hưởng đầy đủ tất cả quyền con người.

Nguyên tắc 2: Quyền Bình Đẳng và Không Phân Biệt

Mọi người được quyền hưởng mọi quyền con người mà không bị phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục hay bản dạng giới. Mọi người được quyền hưởng sự bình đẳng trước pháp luật và sự bảo vệ của pháp luật mà không phải chịu sự phân biệt đó cho dù sự hưởng thụ của một quyền con người khác có bị ảnh hưởng hay không. Pháp luật sẽ nghiêm cấm bất kì sự phân biệt nào như thế và đảm bảo sự bảo vệ bình đẳng và hiệu quả để chống lại phân biệt đối xử.

Sự phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới bao gồm bất kì sự phân biệt, sự ngoại trừ, sự hạn chế hay lựa chọn dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới với mục đích hay tác động làm vô hiệu hóa hay làm suy yếu sự bình đẳng trước pháp luật hay sự bảo vệ công bằng của pháp luật, hay đối với sự thừa nhận, hưởng thụ hay thực hành, một cách bình đẳng, mọi quyền con người và tự do cơ bản. Sự phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới có thể, và thường hay như thế, đi chung và làm cho sự phân biệt đối xử dựa trên các mặt khác, bao gồm giới tính, chủng tộc, tuổi tác, tôn giáo, sự tàn tật, sức khỏe và địa vị kinh tế, tồi tệ thêm.

Nguyên tắc 3: Quyền được thừa nhận trước pháp luật

Mọi người đều có quyền được công nhận là một con người trước pháp luật ở bất kì đâu. Người thuộc các xu hướng tính dục và bản dạng giới khác nhau có tư cách pháp lí đối với mọi khía cạnh cuộc sống. Xu hướng tính dục và bản dạng giới tự xác định của mỗi con người là không thể thiếu đối với nhân cách của họ và là một trong những khía cạnh cơ bản nhất của sự xác định bản thân, phẩm giá và tự do. Không một ai phải bị ép buộc trải qua những quy trình y khoa, bao gồm phẫu thuật thay đổi giới tính, sự triệt sản hay trị liệu hor-mon, như một yêu cầu để được thừa nhận bản dạng giới của mình. Không một quan hệ pháp lý nào, như hôn nhân và tư cách làm cha mẹ, được phép được xác lập để ngăn chặn sự thừa nhận hợp pháp của bản dạng giới của một người.

Bộ nguyên tắc Yogyakarta là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên ghi nhận và bảo vệ quyền đồng tính. Bộ nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiến tới xóa bỏ hoàn toàn sự kỳ thị người đồng tính trên thế giới; các quốc gia đang xem xét, xây dựng Luật cho người đồng tính có thể xem bộ nguyên tắc này như nguồn để từ đó dựng lên một văn bản pháp luật phù hợp nhất cho quốc gia mình nhưng vẫn đảm bảo không vi phạm Luật quốc tế.

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, các văn kiện quốc tế cũng như quan điểm của các tổ chức quốc tế hiện nay đã ghi nhận sự bình đẳng giữa các xu hướng tính dục cũng như bảo vệ quyền của người đồng tính, chống lại các hành động phân biệt, kỳ thị. Có thể nhận thấy vấn đề bảo vệ quyền của người đồng tính đang thực sự dần trở thành một trong những mối quan tâm, lo ngại của các quốc gia trên thế giới. Trong đó, quyền được sống, được hưởng chính sách an sinh xã hội bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội và quyền được kết hôn là những quyền đặc biệt, ảnh hưởng lớn đến chất lượng nhân quyền của những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Ví dụ như hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính (hôn nhân của hai người có cùng giới tính sinh học hoặc giới tính xã hội được chấp nhận về mặt luật pháp hay xã hội) là một vấn đề về quyền công dân và là vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức và tôn giáo ở nhiều quốc gia phương Tây[viii]. Những người ủng hộ hôn nhân đồng giới dựa trên quyền chung của con người, bình đẳng trước pháp luật[ix] và mục tiêu bình thường hóa mối quan hệ LGBT[x]. Những người phản đối thường dựa vào việc từ hôn nhân có bao gồm cả các cặp cùng giới hay không. Các lý do khác là tác động trực tiếp và gián tiếp của hôn nhân đồng giới, vấn đề con cái, nền tảng tôn giáo[xi], truyền thống và chủ nghĩa dị tính luyến ái. Nhiều người ủng hộ hôn nhân đồng giới cho rằng sự phản đối hôn nhân đồng giới là do chứng ghê sợ đồng tính luyến ái[xii]. Chấm dứt kỳ thị trong tiếp cận hôn nhân dân sự đã trở thành vấn đề bức bách ở nhiều quốc gia. Đây cũng chính là những điều mà pháp luật Việt Nam cần xem xét, cân nhắc đưa ra những thay đổi nhất định để hòa nhập với sự thay đổi trong quan niệm về nhân quyền với thế giới./.


[i] Politics as friendship By Horst Hutte; p66.

[ii] Gordon, Kathyrn H. and Yezzennya Castro. “The assessment, diagnosis, and treatment of psychiatric disorders in lesbian, gay, and bisexual clients,” in Julia D. Buckner, Yezzennya Castro, Jill M Holm-Denoma, and Thomas E Joiner Jr. (eds),Mental Health Care for People of Diverse Backgrounds. Radcliffe Publishing, 2007.

[iii] Phiếu thuận bỏ cho việc thông qua nghị quyết này bao gồm các quốc gia: Argentina, Belgium, Brazil, Chile, Cuba, Ecuador, France, Guatemala, Hungary, Japan, Mauritius, Mexico, Norway, Poland, Republic of Korea, Slovakia, Spain, Switzerland, Ukraine, Thailand, UK, USA, Uruguay; Phiếu chống bỏ cho việc thông qua nghị quyết này bao gồm các quốc gia: Angola, Bahrain, Bangladesh, Cameroon, Djibouti, Gabon, Ghana, Jordan, Malaysia, Maldives, Mauritania, Nigeria, Pakistan, Qatar, Moldova, Russian Federation, Saudi Arabia, Senegal, Uganda; Phiếu trắng gồm: Burkina Faso, China, Zambia.

[iv] Sau bài phát biểu, nhiều quốc gia Hồi giáo và Châu Phi đã giận dữ rời khỏi phòng họp để phản đối. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia khác đã nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của ông Ban Ki-Moon.

[v] Trương Hồng Quang (2012), Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (ViệnNhà nước và Pháp luật), số 7/2012, tr. 32.

[vi] Chỉ việc một người yêu và có ham muốn tình dục với NAM hay NỮ. Xu hướng tính dục được xác định khi bạn có cảm xúc yêu, ham muốn và hoàn toàn có thể xê dịch trên thanh trượt. Một người có thể yêu nam nhiều hơn, nhưng vẫn yêu nữ, hoặc bạn chỉ yêu nữ, hoặc chỉ yêu nam… Đây là một yếu tố quan trọng để xác định một người là đồng tính, dị tính hay song tính.

[vii] Chỉ việc một người tự nhận mình là NAM hay NỮ. Bản dạng giới được xác định khi một người bắt đầu khám phá bản thân, có thể từ rất sớm (khoảng 5 – 6 tuổi hoặc trễ hơn tuỳ người). Chỉ cần 2 yếu tố giới tính sinh học và bản dạng giới này cũng đủ xác định một người có phải là người chuyển giới (hoặc có thiên hướng chuyển giới) hay không. Vì nếu một người sinh ra với bộ phận sinh dục nam, mà luôn nghĩ mình là nữ, thì có nghĩa người đó là người chuyển giới.

[viii] Marriage: Both Civil and Religious, Pamela Taylor, The Washington Post, 31 tháng 7 năm 2009; Marriage a Civil Right, not Sacred Rite, Susan Smith, The Washington Post, 30 tháng 7 năm 2009; truy cập 9/12/2009.

[x] Abraham, Julie (May). “Public Relations: Why the Rush to Same-Sex Marriage? And Who Stands to Benefit?”. The Women’s Review of Books 17 (8): 12-14. “its most vocal advocates want gay marriage because marriage stands at the center of a system of legitimazation […].”; Azzolina, David (February 2003). “The End of Gay (and the Death of Heterosexuality).(Book Review)”. Library Journal: 288; Warner, Michael (1999). The Trouble with Normal. The Free Press. tr. 80.

[xii] Sharpton chides black churches over homophobia, gay marriage, Southern Voice, Dyana Bagby, 27 tháng 1, 2006; Frank: Scalia’s legal opinions reveal his homophobia, CNN, 25 tháng 3, 2009, truy cập 9 tháng 9 năm 2009; Craig A. Rimmerman; Clyde Wilcox (2007). The politics of same-sex marriage. University of Chicago Press. pp. 234. ISBN 9780226720012. “Clearly homophobia is at the heart of blanket opposition to gay rights policies”; Evan Gerstmann (2004). Same-sex marriage and the Constitution. Cambridge University Press. pp. 56. ISBN 9780521009522. “Keeping marriage heterosexual and dual gendered clearly has more widespread support than other homophobic policies”.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Human Rights, LGBT, Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: