HIỆU QUẢ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THÔNG QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TẠI VIỆT NAM

HIỆU QUẢ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THÔNG QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

Các nghiên cứu từ trước đến nay đều khẳng định rằng chủ thể của phản biện xã hội là nhân dân với tính chất là tập hợp toàn bộ các nhóm người, các tầng lớp khác nhau trong xã hội[1]. Theo đó các chủ thể phản biện xã hội có thể bao gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; tổ chức kinh tế (doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế); tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp; hội, hiệp hội, liên hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ; cá nhân công dân (nhà khoa học, chuyên gia, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp của quyết định, chính sách…)[2]. Có thể nhận thấy với mỗi chủ thể khác nhau thì hiệu quả, mức độ phản biện xã hội sẽ khác nhau. Bài viết sau đây xin đánh giá một số vấn đề trong thực hiện phản biện xã hội của một số chủ thể (chuyên gia, nhà khoa học; hiệp hội và báo chí) thông qua một số trường hợp cụ thể.

1. Phản biện xã hội chính sách, pháp luật về giáo dục Đại học của các chuyên gia, nhà khoa học

Các chuyên gia, nhà khoa học là một chủ thể rất quan trọng của hoạt động phản biện xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới. Đây chính là lực lượng có chất lượng kiến thức, chuyên môn cũng như mức độ cống hiến cho khoa học rất lớn. Chính sách trong giáo dục đại học là vấn đề rất nóng bỏng tại Việt Nam. Do đó, các chuyên gia, nhà khoa học từ trước đến nay đều giành nhiều thời gian, tâm huyết để tham gia mổ xẻ với nhiều ý kiến đóng góp, phản biện khá đa dạng, phong phú, nhất là đối với hệ các chính sách, pháp luật giáo dục đại học. Trong thời gian gần đây có hai vấn đề rất được quan tâm, đó là: áp dụng học chế tín chỉ và Dự thảo Luật Giáo dục Đại học.

1.1. Về học chế tín chỉ[3]

Việc đổi cơ chế từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ có thể coi là mấu chốt đổi mới nền giáo dục đại học ViệtNam. Các nghiên cứu của các nhà giáo dục học đều ghi nhận triết lý của hệ thống tín chỉ là tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo. Chương trình đào tạo phải mềm dẻo để dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trường nhân lực. Để được công nhận là một trường có đào tạo theo hệ thống tín chỉ, một trường Đại học, Cao đẳng (ĐH, CĐ) phải thoả mãn các điều kiện sau: (i) Phải có nguồn lực giảng viên, có đủ đội ngũ cố vấn học tập, đội ngũ trợ giảng…; (ii) Phải có hệ thống mạng và phần mềm quản lý đào tạo tốt, đường truyền có tốc độ cao…; (iii) Phải có chương trình đào tạo được thiết kế bài bản, mềm dẻo, cùng với học phần bắt buộc và còn có các học phần tự chọn phong phú, nhằm tạo điều kiện cho người học tự bố trí sắp xếp kế hoạch học tập của họ và chuyển đổi ngành nghề trong quá trình học tập…; (iv) Cơ sở vật chất phải có đủ các phòng học, thực hành, thí nghiệm, phòng tự học…; (v) Cán bộ giảng dạy và sinh viên phải thực sự sẵn sàng giảng dạy theo tín chỉ, một tín chỉ được tính bằng 15 tiết lên lớp và 30 tiết chuẩn bị cá nhân…; (vi) Thay đổi cách giảng dạy của giảng viên, thay đổi cách thi cử, đánh giá chất lượng sinh viên…; (vii) Thay đổi cách chi trả thù lao cho giảng viên, làm sao để họ đảm bảo cho bản thân họ và cuộc sống gia đình, để yên tâm công tác giảng dạy…

Chỉ sơ qua một số điểm đã nêu, chúng ta thấy bài toán đào tạo theo hệ thống tín chỉ có thể được coi là bài toán trọng tâm của đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, chỉ khi nào bài toán ấy được giải thì lúc đó giáo dục đại học của ta thực sự đổi mới. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các chuyên gia, nhà khoa học thông qua nhiều kênh khác nhau (Hội thảo, Báo chí, phương tiện thông tin đại chúng) đã đề cập đến nhiều bất cập trong việc thực hiện niên chế tín chỉ này. Hầu hết các ý kiến đều cho rằng phải chăng Bộ Giáo dục và đạo tạo đang chịu áp lực dư luận xã hội trong việc thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nền giáo dục Việt Nam nên đã đưa ra nhiều chủ trương, như đổi mới đào tạo từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ, khiến nhiều trường “vắt chân lên cổ” mà chạy. Trong khi đó, cơ sở vật chất của nhiều trường còn thiếu thốn, nguồn lực giảng viên vừa thiếu lại vừa yếu, lực lượng kế cận còn thiếu… Nhiều trường theo không đáp ứng đủ các tiêu chí, tiêu chuẩn của đào tạo tạo theo hệ thống tín chỉ đề ra, nhưng vẫn phải thực hiện vì Bộ đã có chủ trương đến năm 2010 tất cả các trường phải chuyển đổi sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ…[4] Trong khi đó, quy chế đào tạo ĐH&CĐ theo hệ thống tín chỉ của Bộ vẫn còn nhiều bất cập, chưa sâu sát… Việc chuyển đổi chương trình giáo dục đại học lại càng nhiêu khê, hầu như các chương trình giáo dục đại học chuyển đổi máy móc theo hướng dẫn của Bộ là 1,5 đơn vị học trình bằng một tín chỉ[5]. Tại một số trường đại học nổi tiếng có bề dày đào tạo theo tín chỉ, việc chuyển đổi chương trình đào tạo từ niên chế sang đào tạo tín chỉ có khi chỉ sản xuất trong vòng một buổi sáng là xong. Phần mềm quản lý đào tạo phần lớn chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của hệ thống tín chỉ, dẫn đến một số tình trạng bất cập như báo chí nêu gần đây, như đăng ký môn học online tại trường Đại học Cần Thơ…[6]

Tất cả các ý kiến trên về việc áp dụng niên chế tín chỉ tại ViệtNamtrong thời gian qua đều rất chi tiết, có lập luận, có căn cứ và phát hiện ra nhiều hạn chế nhất định trong thực tế. Tuy nhiên, cho đến nay các Hội nghị tổng kết việc thực hiện niên chế tín chỉ là động thái mới nhất mà Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện. Bản thân các vấn đề quan trọng của hình thức đào tạo này vẫn chưa có những thay đổi theo chiều hướng tích cực dù đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp, phản biện của các nhà khoa học.

1.2. Về dự thảo Luật Giáo dục đại học

Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan được giao chủ trì soạn thảo. Trong quá trình xây dựng dự án Luật này, đã ghi dấu sự tham gia tích cực của các chuyên gia, nhà khoa học khi góp ý, phản biện nội dung của dự thảo. Bài viết sẽ xem xét, đánh giá mức độ đóng góp ý kiến phản biện và mức độ tiếp thu của cơ quan soạn thảo qua ba giai đoạn cụ thể như sau:

– Giai đoạn 1 (dự thảo 1,2). Bộ Giáo dục và đào tạo và một số trường Đại học đã tổ chức một số Hội thảo, Tọa đàm vào tháng 3, 4/2011 (thời điểm hoàn thành xong Dự thảo 2) để lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học. Tại thời điểm này, đa số các ý kiến đều cho rằng Dự thảo Luật còn quá chung chung, xa rời thực tế, chưa cụ thể; cần xóa bỏ thi đại học như hiện nay, bỏ chỉ tiêu tuyển sinh, bỏ quy định về xin mở mã ngành, chuyên ngành; cần quan tâm đến vấn đề tự chủ đại học…[7] Hầu hết các ý kiến cho rằng ban hành Luật Giáo dục đại học hiện nay là rất cần thiết trong tiến trình hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động giáo dục Việt Nam. GS.TS Trần Ngọc Đường (Chuyên gia cao cấp, Viện nghiên cứu Lập pháp) cho rằng: “Dự thảo vẫn còn quy định chung chung, chưa đủ cụ thể để điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội trong tổ chức và hoạt động giáo dục đại học. Nhìn tổng thể của dự thảo luật chưa tìm thấy được các điều luật thể hiện sâu đậm chỉ đạo việc xây dựng dự án Luật Giáo dục đại học. Đặc biệt là các quan điểm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục… chưa được thể hiện rõ nét. Đặc biệt, trong quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, chưa làm rõ nội dung vai trò của quy hoạch và nguyên tắc quy hoạch, viết như một câu khẩu hiệu không có ý nghĩa điều chỉnh“. GS. Đường dẫn giải thêm, trong mục hoạt động của cơ sở giáo dục đại học, gồm 5 điều nhưng có đến 4 điều giao cho Bộ trưởng Bộ GD-ĐT và Thủ tướng quy định nên thiếu cụ thể và có tác dụng điều chỉnh trực tiếp. Các vấn đề tuyển sinh, chương trình đào tạo và giải trình cần phải qui định cụ thể hơn. Hoạt động giáo dục đại học mở ra rất nhiều hình thức nhưng dự thảo luật mới chỉ có các quy định về hoạt động giáo dục theo hình thức Chính phủ. Các hình thức giáo dục khác như: tại chức, mở rộng, học từ xa phải bao nhiêu năm, chính sách tuyển sinh… chưa thấy có sự điều chỉnh trong luật này[8]. Một số ý kiến khác cũng cho rằng đọc qua nội dung trình bày trong dự thảo, người đọc có cảm giác đây là một Luật quản lý hành chính trường đại học hơn là Luật giáo dục đại học[9]. Bên cạnh đó cũng có nhiều ý kiến tâm huyết liên quan đến vấn đề “tự chủ đại học” trong dự thảo Luật, ví dụ như nhiều ý kiến cũng cho rằng nên xóa bỏ ngay 3 “rào cản” quyền tự chủ đại học[10]:

– Giai đoạn 2: Sau những ý kiến nêu trên, đến cuộc Tọa đàm góp ý dự thảo báo cáo thẩm tra dự án Luật Giáo dục đại học do Ủy ban Văn hóa giáo dục thanh niên, thiếu niên, nhi đồng Quốc hội tổ chức được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 9/2011, dự thảo 3 của Luật Giáo dục đại học dù đã được chỉnh sửa, bổ sung rất nhiều nhưng vẫn bị đánh giá là chưa thể hiện được ý chí, quyết tâm đổi mới công tác quản lý; chưa định hình rõ triết lý giáo dục trong luật, tư duy của nhà quản lý…[11]. Một số chuyên gia cho rằng ý kiến đóng góp của các chuyên gia ở lần góp ý trước đây (tháng 4/2011) đã được ban soạn thảo lắng nghe, chỉnh sửa nhưng vẫn còn nhiều điểm quan trọng mà cơ quan soạn thảo bỏ qua, chưa thể hiện được quyết tâm đổi mới[12]. Theo đó, cơ cấu tổ chức và phân tầng ĐH vẫn không thay đổi mà vẫn giữ theo kiểu “lẩu thập cẩm”: trường CĐ, trường ĐH, ĐH quốc gia, viện nghiên cứu khoa học. Mặt khác, ở lần góp ý trước đây, nhiều chuyên gia đã nhấn mạnh luật phải làm rõ vấn đề lợi nhuận và phi lợi nhuận nhưng ban soạn thảo cũng né tránh vấn đề này bằng cách nêu: Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục ĐH vì lợi nhuận. Trước nhiều điểm quan trọng chưa được làm rõ, GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân kiến nghị với Ủy ban Văn hóa giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng Quốc hội, ban soạn thảo rằng luật chỉ nên ban hành khi nó đặt nền tảng pháp lý rõ ràng để giải quyết những yếu kém, bất cập đã kéo dài, đồng thời thể hiện quan điểm đổi mới thật sự về quản lý nhà nước đối với giáo dục ĐH. Bên cạnh đó, vẫn còn có một số hạn chế về vấn đề hội đồng trường[13], mô hình tổ chức và triết lý giáo dục[14], cơ quan soạn thảo còn lúng túng, chưa thể hiện rõ nét sự phân cấp cho các trường Đại học,… được các chuyên gia, nhà khoa học về giáo dục đề cập, phản biện.

– Giai đoạn 3: Theo Nghị quyết số 48/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội, thì dự án Luật Giáo dục đại học sẽ được trình Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ nhất (tháng 7/2011) và xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ hai (tháng 11/2011). Tuy nhiên ngày 29/6/2011, Chính phủ lại có văn bản gửi tới phiên họp thứ 41 của UBTVQH xin khất thời hạn trình dự luật này vì tính chất phức tạp và còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu kỹ. Cùng với những góp ý, phản biện với các lập luận khá sâu sắc và thời gian chuẩn bị được gia hạn thêm nhưng đến khi trình ra Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 khóa XIII (tháng 11/2011), Dự án Luật này vẫn vấp phải những ý kiến đánh giá chất lượng kém[15].

Dù còn ý kiến trái chiều về sự cần thiết ban hành luật nhưng nhiều đại biểu vẫn đề nghị Bộ GD&ĐT cần tập trung vào việc giao quyền tự chủ cho các trường, kiểm định chất lượng và kiểm soát chất lượng đào tạo chứ không nên quy định chung chung. Các đại biểu đều nhấn mạnh rằng đây phải là tư tưởng xuyên suốt của Luật. Tuy nhiên, ông cho rằng về nguyên tắc thì đây là việc khó thực hiện bởi bao giờ mới kiểm định xong chất lượng cho 450 trường[16]. Một số đại biểu khác lại băn khoăn về thời điểm ban hành luật này bởi “nếu thực hiện tốt Luật giáo dục hiện hành thì tình hình giáo dục đại học đã không như hiện nay”. Đại biểu Đáng cho rằng, chưa đủ cơ sở cũng như chưa nhất thiết phải ban hành Luật giáo dục đại học: “Dự thảo luật không quy định cụ thể, hơn 10 điều lại để cho cấp trên quy định sau, nên có thể gọi là luật né. Nội dung quan trọng nhất về tự chủ của các trường cũng có nhiều khoản để cho Chính phủ quy định. Chất lượng dự thảo luật này chưa đạt yêu cầu, đề nghị dừng dự án luật này“. Bên cạnh đó một số vấn đề đã được đề cập rất nhiều như hội đồng trường, chất lượng giảng viên,… vẫn tiếp tục được đem ra mổ xẻ, đánh giá trong dự thảo với khá nhiều hạn chế.

Như vậy, đến khi dự thảo Luật được đưa ra nghị trường vẫn còn có quá nhiều ý kiến phản bác nội dung, thậm chí trái chiều nhau (nên hay không nên có Luật này),… Điều đó đã cho thấy việc xây dựng chính sách, cụ thể hóa chính sách giáo dục đại học đã khó, nếu không đổi mới tư duy, đổi mới cách làm thì sẽ làm vấn đề càng khó được giải quyết hơn nữa. Trong khi đó, lực lượng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học đã có những góp ý, phản biện khá sâu sắc, có luận cứ nhưng hầu như vẫn chưa được Ban soạn thảo ghi nhận toàn bộ, chưa được nhận thức đúng đắn vấn đề.

1.3. Một số nhận xét

Qua hai vấn đề được phân tích ở trên, có thể đánh giá hiệu quả hoạt động phản biện xã hội của các nhà khoa học, chuyên gia tại ViệtNamthời gian qua như sau:

Một là, hệ các ý kiến phản biện của các chuyên gia, nhà khoa học về các vấn đề đã nêu của giáo dục đại học trong thời gian qua có sự phát triển, gia tăng ngày càng nhiều về số lượng cũng như chất lượng, ghi nhận sự nghiên cứu, phản biện nghiêm túc, có ý thức cống hiến. Ví dụ như chỉ trong một khoảng thời gian ngắn (từ tháng 3 đến tháng 11/2011) đã có rất nhiều ý kiến phản biện về dự thảo Luật giáo dục đại học của các tầng lớp nhân dân (đặc biệt là các nhà khoa học) thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau.

Hai là, bên cạnh đó vẫn còn có những ý kiến đưa ra nhưng thiếu cơ sở, thiếu thuyết phục, đơn giản chỉ là những góp ý, chưa phải là phản biện xã hội.

Ba là, hình thức tổ chức phản biện xã hội cho các nhà khoa học, chuyên gia chưa đa dạng (chủ yếu thông qua Hội thảo, Tọa đàm,…), chưa áp dụng các hình thức khác như mời chuyên gia, nhà khoa học vào Ban soạn thảo, phản biện tại Tổ biên tập dự thảo Luật (điển hình như dự thảo Luật Giáo dục đại học). Các ý kiến phản biện, đóng góp hầu như không được tiếp thu, những vấn đề không được tiếp thu nhưng không có giải trình cụ thể, chi tiết hoặc Cơ quan chủ trì soạn thảo vẫn không đổi mới tư duy, vẫn đi theo lối mòn trong cách nghĩ, cách làm. Với những hạn chế đó đã dẫn đến một dự thảo Luật Giáo dục đại học còn quá nhiều sai sót, còn “né” những vấn đề cơ bản, quan trọng về tự chủ đại học, về các hình thức đào tạo,… Và do đó, công sức, tâm huyết của nhân dân nói chung và của chuyên gia, nhà khoa học nói riêng đã không có được tác dụng tích cực đáng ra phải có. Điều này cũng xuất phát một phần từ cơ chế phản biện hiện nay chưa rõ ràng, chưa có sự ràng buộc trách nhiệm, còn một số hạn chế trong nhận thức (chỉ xem đây là lấy ý kiến đóng góp, không phải là phản biện xã hội).

Cuối cùng, chính sách về giáo dục đại học, đặc biệt là dự thảo Luật Giáo dục đại học là vấn đề rất quan trọng nên đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, phản biện, góp ý của các chuyên gia, nhà khoa học, hy vọng Ban soạn thảo sẽ cân nhắc tiếp thu để hoàn thiện Dự luật quan trọng này trong thời gian sắp đến.

2. Phản biện xã hội pháp luật về đầu tư, đầu tư công và xây dựng của các Hiệp hội[17]

Các Hội, Hiệp hội, Liên hiệp hội cũng là một trong những chủ thể phản biện xã hội. Phản biện của các tổ chức này thể hiện ý chí, nguyện vọng của một tập thể nhất định (ngành, nghề, lĩnh vực,…). Để xem xét vai trò của các Hiệp hội trong việc thực hiện hoạt động phản biện đối với pháp luật của Nhà nước, bài viết sẽ phân tích trong trường hợp của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và xây dựng.

Sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế, hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư xây dựng đã từng bước hoàn thiện, đổi mới để phù hợp với cơ chế thị trường, hòa nhập với thông lệ quốc tế, góp phần đưa các hoạt động đầu tư và xây dựng vào khuôn khổ pháp luật, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập, hệ thống pháp luật về đầu tư và xây dựng đang bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập cần sớm phải được sửa đổi, hoàn thiện. Các Hiệp hội đã có khá nhiều ý kiến phản biện, hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này. Ví dụ như Hiệp hội Nhà thầu Xây dựng Việt Nam (VACC) đã tổ chức Hội thảo “Hoàn thiện Pháp luật xây dựng & Phản biện của nhà thầu” được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh (tháng 12/2011) nhằm lấy ý kiến chuyên gia và doanh nghiệp nhà thầu để đại diện VACC (tham gia biên soạn) đưa vào văn bản sửa đổi các Luật (Luật đấu thầu 2005, Luật Xây dựng 2003…) ngay từ đầu trước khi trình Chính phủ và Quốc Hội phê duyệt. Tại Hội thảo đã ghi nhận nhiều ý kiến phản biện của các thành viên Hiệp hội VACC như:

– Một số ý kiến cho rằng các văn bản pháp luật xây dựng hiện nay chưa đủ thông thoáng, chưa tạo điều kiện tốt nhất cho việc tiếp cận các nguồn lực cho đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp[18]. Một số quy định pháp luật thiếu minh bạch, chưa đầy đủ, thống nhất gây khó khăn khi thực hiện, bất lợi cho nhà thầu Việt. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính nhất quán, đồng bộ, cắt khúc theo lĩnh vực quản lý dẫn đến thường xuyên thay đổi làm khó dễ cho việc cập nhật và sử dụng. Thiếu các chế tài, hay các chế tài có nhưng còn chung chung không cụ thể nên tính pháp chế khi thực hiện không cao; chưa bình đẳng giữa các chủ thể trong hoạt động xây dựng: nặng về bảo vệ quyền lợi phía quản lý vốn Nhà nước, phần bất lợi thuộc về nhà thầu… Một số quy định pháp luật chưa phù hợp với thực tế, không hợp lý hoặc thiếu tính khả thi trong thực tế,… Thực hiện hiện chức năng phản biện cho nhà nước nhằm làm tăng tính minh bạch, khả thi và công bằng trong các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư và xây dựng, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà thầu Việt.

– Bàn về lợi thế cạnh tranh của nhà thầu Việt trong pháp luật xây dựng[19], có 4 vấn đề mà các đối tượng cần quan tâm đó là: Sử dụng hiệu quả cơ chế đổi mới, quản lý chi phí để xác định giá chào thầu, hoàn thiện năng lực của chính nhà thầu, tạo cơ chế ưu đãi và tạo hàng rào kỹ thuật bảo vệ nhà thầu trong nước. Trước khi hoàn thiện khung pháp luật, nhà thầu cần vận dụng những quy định, cơ chế ưu đãi linh hoạt trong sản xuất kinh doanh.

– Một số ý kiến cho rằng, nhà thầu trong nước cần tăng cường hiểu biết pháp luật về đầu tư xây dựng thông qua các cơ quan tư vấn pháp lý trong đó có Trung tâm tư vấn pháp luật của Hiệp hội nhà thầu Bình Định. Trung tâm này sẽ giúp nhà thầu nâng cao nhận thức hiểu biết về văn bản hiện hành, giảm thiểu mâu thuẫn, tranh chấp trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng. Ngoài ra cần phải thực thi nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ hợp đồng giữa nhà thầu với chủ đầu tư để đảm bảo quyền lợi nhà thầu trong nước. Luật Đầu tư cần có điều khoản đặc biệt ngăn ngừa tình trạng thanh toán dây dưa, gây thiệt hại cho nhà thầu. Các dự án đầu tư công cấp quốc gia cần được tổ chức tại 3 trung tâm giao dịch xây dựng tại 3 miền một cách công bằng, công khai và minh bạch. Ngoài ra một số thành viên Hiệp hội cũng cho rằng Chính phủ cần có chính sách, cơ chế tiếp tục tạo đơn hàng cho các doanh nghiệp bằng hình thức lựa chọn và chỉ định thầu cũng như tổ chức đầu thầu trong nước quy định trong văn bản pháp luật. Mặt khác, cũng cần có chế tài áp dụng đối với chủ đầu tư phải được quán triệt tinh thần người ViệtNamdùng hàng ViệtNamđể họ nêu cao trách nhiệm với xã hội khi tiêu đồng tiền của người dân”.

Bên cạnh đó, liên quan đến hoạt động đầu tư công, các Hiệp hội cũng đóng góp khá nhiều ý kiến phản biện khá hữu ích. Đầu tư công của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất là về hiệu quả đầu tư. Đầu tư công luôn đi cùng với lãng phí và tốn kém, thậm chí với mức độ ngày càng nặng nề…[20] Một ví dụ điển hình về hiệu quả đầu tư công thấp là Chương trình xóa đói giảm nghèo cho các vùng sâu, vùng kinh tế khó khăn (Chương trình 135); chuyện Tập đoàn kinh tế Nhà nước Vinashin bỏ 1.000 tỷ đồng để mua tàu vận tải biển tuyến Bắc-Nam, nhưng chỉ chạy mấy chuyến rồi dừng, đang được nhắc đến là điển hình cho sự lãng phí của đầu tư công ngay tại diễn đàn Quốc hội. Chất lượng thấp và thất thoát vốn trong đầu tư công còn do sự chậm trễ và thường đi kèm với việc xin được điều chỉnh tăng vốn của các dự án đầu tư công trong triển khai như cặp bài trùng quen mặt. Đầu tư công và quản lý đầu tư công kém hiệu quả không chi khiến hiệu quả đầu tư xã hội bị hạn chế, mà còn làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực to lớn và kéo dài khác, như: Tăng sức ép lạm phát trong nước; mất cân đối vĩ mô – trong đó có cân đối ngành, sản phẩm, cán cân xuất – nhập khẩu, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tích lũy – tiêu dùng, cũng như mất cân đối và gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, địa phương và bộ phận dân cư trong xã hội; tăng tình trạng tham nhũng và bóp méo cơ chế kinh tế thị trường; hạn chế sức cạnh tranh và chất lượng phát triển của nền kinh tế trong hội nhập. Đặc biệt, đầu tư công kém hiệu quả làm tăng gánh nặng và tác động tiêu cực của chiếc bấy nợ nần lên đất nước, do làm tăng nợ chính phủ, nhất là nợ nước ngoài. Về tổng thể, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng của ViệtNam nhờ gia tăng đầu tư công đó lên tới đỉnh. Nếu không điều chỉnh mà càng thúc đẩy tăng trưởng dựa vào động lực mở rộng quy mô vốn, giá trị gia tăng thấp và sự khai thác thái quá tài nguyên, lao động rẻ… thì không thể cạnh tranh và ngày càng khó khăn. Thậm chí, càng tăng trưởng, đất nước và người dân lại nghèo đi, thiếu bền vững.

Các ý kiến từ các diễn đàn của các Hiệp hội hướng đến các đề xuất cụ thể cho hoạt động đầu tư công như: Thứ nhất, phối hợp bố trí vốn đầu tư công trên cơ sở quy hoạch đầu tư công được xây dựng có chất lượng cao và ổn định. Thứ hai, phối hợp hài hòa các mục tiêu, lợi ích và tính đến tác động 2 mặt của dự án đầu tư công. Thứ ba, phối hợp tăng cường tái cơ cấu đầu tư công, phân cấp và đa dạng hóa phương thức, nguồn vốn đầu tư theo yêu cầu nõng cao hiệu quả đầu tư xã hội. Thứ tư, phối hợp tuân thủ các quy chuẩn về thủ tục và quy trình đầu tư, thực hiện đấu thầu thực chất và rộng rói cho mọi thành phần kinh tế với các nguồn đầu tư công, tăng cường giám sát, phản biện và kiểm tra, tố giác, xử lý kịp thời và nghiêm khắc các vi phạm đầu tư công bằng các công cụ chế tài về tài chính và hành chính.

Có thể nhận thấy, các ý kiến phản biện đối với chính sách, pháp luật về đầu tư, đầu tư công và xây dựng đến từ các Hiệp hội có khá nhiều với nhiều cơ sở lập luận khác nhau, xuất phát từ thực tiễn hoạt động nhưng hiện nay hệ thống pháp luật về các lĩnh vực này vẫn giậm chân tại chỗ.

Một số nhận xét:

– Hoạt động phản biện của các Hiệp hội, nhất là các lĩnh vực về tài chính, ngân hàng, xây dựng, đầu tư nhận được nhiều quan tâm, có cơ sở, có quy mô, có nhiều hình thức tích cực. Các ý kiến phản biện không chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của ngành mà còn chú trọng đến việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, đổi mới cơ chế, đổi mới tư duy, nâng cao trách nhiệm xã hội.

– Phải khẳng định phản biện của các Hiệp hội là một kênh quan trọng trong quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật.

– Tuy nhiên, cũng giống như hoạt động phản biện của các nhà khoa học, chuyên gia, các Hiệp hội cũng chưa được tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng, chính sách, các ý kiến phản biện còn chưa được tiếp thu thấu đáo, đặt ra nhiều yêu cầu thay đổi cơ chế hơn nữa.

3. Phản biện xã hội thông qua Báo chí – một trong những bức xúc hiện nay tại Việt Nam

Tại Việt Namnhững năm gần đây, phản biện xã hội trên báo chí đã có những hơi hướng của marketing chính trị và kinh tế một cách gián tiếp[21]. Về bản chất, những phản biện loại này không phải lúc nào cũng có hình thức phù hợp với những sự chọn lựa mang tính định hướng chiến lược về chính trị, kinh tế và văn hóa. Khi đất nước bước vào thời đổi mới và hội nhập, các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng phát triển trở thành một công cụ hữu hiệu góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ngòi bút của nhà báo, nhà văn, nhà khoa học, nhà quản lý và bao bạn đọc vô danh khác đã thực sự trở thành lưỡi dao giải phẫu những bệnh trạng xã hội, khắc tinh của tham nhũng, cường quyền, gian lận, bất công và chệch hướng. Báo chí đã đóng vai trò lương tri xã hội với biết bao phản biện nhanh nhạy, sắc sảo và đầy dũng khí. Song, những phản biện văn hóa, xã hội trên báo chí cũng còn khá nhiều những điều thái quá hay bất cập,…

Thứ nhất, hiện tượng phản thông tin. Trong “Từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô” tập 8, xuất bản năm 1972 từ phản thông tin (denzinformatxia) được giải nghĩa là sự phổ biến một thông tin đã được tính toán từ trước. Trong các nước tư bản, người ta sử dụng rất rộng rãi phản thông tin làm phương tiện tuyên truyền chính trị nhằm mục đích đánh lừa dư luận, nhất là tạo hình ảnh sai lệch về thực tế các nước XHCN. Khi dẫn ra định nghĩa này, các học giả người Pháp Philippe Breton và Serge Proulx đã gọi tên những người tiến hành các chiến dịch phản thông tin là “những thợ kim hoàn tinh xảo” trong việc chế tác những “con mồi”, “những vật giả”, cho chúng chạy đi chạy lại như vật thật để thực hiện các mục tiêu phá hoại một cách ăn chắc nhất những mục tiêu mà họ làm ra vẻ như bảo vệ. Trong cuộc chiến vùng Vịnh thập kỷ 90, các media liên quốc gia đã truyền đi tấm ảnh của một con chim cốc nhầy nhụa trong nước thủy triều đen, khiến những chiến sĩ bảo vệ môi trường hiền lành nhất cũng phải phẫn nộ. Trên báo chí của ta, trong các chiến dịch phản biện văn hóa, xã hội rất nhiều những hình ảnh mang tính kích động kiểu con chim cốc đã được tung ra với tần suất lớn. Chẳng hạn hình ảnh người dân nghèo đóng thuế, hình ảnh dân nghèo thiếu trường học, thiếu những cây cầu được tung ra như mưa để phản biện các công trình văn hóa phục vụ định hướng xây dựng bằng ngân sách.

Thực chất ngân sách còn nhiều nguồn thu khác lớn hơn gấp bội như nguồn thuế của các doanh nghiệp lớn, các nguồn viện trợ không hoàn lại,… nhưng các nhà phản biện hay diễn trò ảo thuật quy ngân sách về thuế của người nghèo để từ đó họ nghiễm nhiên đứng ra phân bổ lại ngân sách, đòi chuyển ngân sách duyệt chi cho đầu việc này sang chi cho hàng trăm, hàng ngàn việc nhỏ lẻ khác, nằm trong các dự án, các mục tiêu và các chương trình khác. Cách lập luận khá phổ biến là: Tại sao không dùng tiền xây trung tâm biểu diễn quốc gia để xây nhà tình nghĩa cho các gia đình thương binh, liệt sỹ, dùng tiền làm phim lịch sử để xây những mái trường, những bệnh viện cho người nghèo, dùng tiền dựng tượng danh nhân để cải tạo môi trường, dọn sạch những vũng nước bẩn thỉu trong thành phố? Những phản biện kiểu này thiếu tính khoa học, nặng tính kích động xã hội, thiếu tầm chiến lược, nặng về tiểu tiết cảm tính, thậm chí nhiều khi thể hiện trình độ thấp và thái độ thực dụng, bè cánh tinh xảo của những người viết. Những bài báo, tờ báo sử dụng kỹ thuật phản biện nặng tính kích động xã hội nhiều khi tạo áp lực lớn có thể làm lung lay cả một định hướng chiến lược trong sự nghiệp văn hóa nói riêng và trong lộ trình phát triển xã hội nói chung. Khi bảo vệ một công ty game online kinh doanh không giấy phép, có tờ báo đã đưa ra con số hai triệu game thủ sẽ phản ứng nếu công ty này bị đóng cửa khiến các nhà quản lý phải chùn tay.

Thứ hai, hiện tượng phản biện loạn tiêu chí và loạn hướng[22]. Nhiều bài viết phản biện trên báo chí có động cơ xây dựng và thái độ trung thực, không có ý đồ hay xảo thuật phản thông tin, nhưng lại rơi vào trình trạng loạn tiêu chí do người viết cảm tính, phiến diện hoặc ngộ nhận về mục đích của các công trình, dự án mình đang phản biện. Khi phản biện việc bảo vệ các công trình văn hóa, chính trị phi lợi nhuận hay siêu lợi nhuận như việc bảo tồn Hoàng thành hay Đàn Xã tắc, bảo vệ cảnh quan sông Hương hay Hồ Gươm có những ý kiến lấy tiêu chí phát triển thực dụng, hay dựa theo những nguyên tắc toàn cầu hóa kinh tế và thời thượng, trong khi lẽ ra phải lấy những nguyên tắc về đa dạng văn hóa của UNESCO làm tiêu chí. Khi phản biện một công trình văn hóa phục vụ chính trị xây dựng và củng cố các giá trị cơ bản của xã hội thì những người viết lại dựa vào các tiêu chí giải trí và thương mại, đòi công trình đó phải có lãi. Hay cũng đều dựa trên tiêu chí thương mại có lãi, tiết kiệm thuế của dân, nhưng các tác phẩm nhà nước đặt hàng có sự tham gia hay ủng hộ của nước ngoài, nhất là các nước Âu Mỹ thì thường nằm ngoài tầm phản biện của giới truyền thông.

Tình trạng loạn tiêu chí và loạn hướng thể hiện rất rõ trong thời gian gần đây khi công luận phản biện việc mở rộng Thủ đô. Khi xác định tiêu chí Thủ đô của một nước Việt Nam phát triển nhiều người không dựa trên bối cảnh cụ thể và nhu cầu thực tế của thủ đô Hà Nội trong chiến lược phát triển chung, mà lại dựa vào các định nghĩa và các tiếu chuẩn thủ đô trong sách vở, hay dựa vào mô hình thủ đô của ngoại quốc cho rằng các nước này thủ đô không cần lớn, các nước kia thủ đô không làm kinh tế, hay dựa vào những thực tế nước ta trong quá khứ cho rằng thời xưa đã mấy lần dở dang thất bại trong việc mở rộng Thủ đô chứng tỏ việc này là không khả thi. Các ý kiến dựa trên tiêu chí bảo tồn văn hóa Thăng Long truyền thống thì đối lập Hà Nội ngàn năm văn vật với các công trình phát triển của Thủ đô tương lai, cho rằng đó là một sự pha loãng khó khăn hay pha loãng văn hóa Tràng An; nhưng các ý kiến biện chứng sâu sát thực tế hơn lại thấy việc mở rộng Thủ đô là một giải pháp bảo tồn Hà Nội do có điều kiện bóc tách một Hà Nội hiện đại hóa đang chen lấn một Hà Nội ngàn xưa. Các ý kiến phản biện dựa trên tiêu chí bảo vệ nông dân các tỉnh sáp nhập vào Hà Nội có thái độ đối lập đời sống nông dân với phát triển đô thị, cho rằng nông dân sẽ khổ hơn khi quê hương họ được sáp nhập vào Thủ đô, trong khi đó, những ý kiến phản biện xây dựng trên tiêu chí vận động và tương tác lại tìm thấy sự cải thiện đời sống đông đảo nông dân và cải thiện môi trường trong một Hà Nội hiện đại và mở rộng.

Thứ ba, cần nhận thức đúng về phản biện xã hội trên báo chí.

Bên cạnh sứ mệnh to lớn là tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; cổ vũ động viên toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế – xã hội và góp phần chuyển tải, nâng cao kiến thức, trình độ văn hóa, thẩm mỹ cho các tầng lớp nhân dân, báo chí cách mạng Việt Nam còn đảm nhiệm chức năng, vai trò quan trọng là tham gia phản biện xã hội. Có thể nhận thấy chưa bao giờ báo chí được phát huy quyền dân chủ cởi mở, thông thoáng, rộng rãi như những năm qua để chủ động tham gia phản biện xã hội, đóng góp tích cực vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Chính phủ và đấu tranh, phản bác các luận điệu thù địch, sai trái, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội đang làm cản trở sự phát triển của đất nước.

Thực tế cho thấy, có khá nhiều chính sách, nhất là những chính sách phức tạp, nhạy cảm, mới mẻ nảy sinh, các cơ quan chức năng và nhà quản lý không tiên lượng, dự báo, bao quát đầy đủ, song nhờ báo chí lên tiếng, phản ánh đúng lúc, kịp thời, thấu lý, đạt tình đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chuyên môn điều chỉnh, bổ sung nhằm không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách, đáp ứng nhu cầu, lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân lao động. Mặt khác, do biết cách khơi gợi vấn đề, khuyến khích động viên đông đảo công chúng tham gia ý kiến, nhiều cơ quan báo chí đã mở diễn đàn tập hợp ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia và các tầng lớp nhân dân đóng góp vào các văn bản pháp luật, giúp các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp sửa đổi các nội dung, quy định của văn bản đó phù hợp với thực tiễn cuộc sống, xã hội, từng bước hoàn thiện nền pháp chế XHCN. Bám sát sự kiện, thông tin nhanh nhạy, nắm đúng bản chất sự kiện, phân tích trúng vấn đề trọng điểm và định hướng tư­ tư­ởng, hướng dẫn dư­ luận rõ ràng, các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình, báo điện tử đã thực hiện tốt chức năng phản biện, mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt. Bởi thế, vai trò, chức năng phản biện của báo chí ngày càng đ­ược khẳng định và sức mạnh của báo chí, niềm tin của công chúng đối với cơ quan truyền thông cũng từ đó đ­ược nâng lên.

Tuy nhiên, những năm gần đây, một số cơ quan báo chí có lúc chưa hiểu đúng, thậm chí cố tình hiểu lệch, hiểu sai về phản biện xã hội trên báo chí. Thế nên mới xảy ra tình trạng một vài tờ báo, tạp chí thỉnh thoảng lại làm xôn xao, bối rối dư­ luận vì đăng những bài tranh luận “bất phân thắng bại” về một vấn đề xã hội hay sự kiện lịch sử nào đó. Thông thường mở đầu là một bài viết nêu vấn đề, lập luận trái với suy nghĩ, nhận thức, tâm lý thông th­ường của đại bộ phận công chúng, khiến công chúng tỏ ra hoài nghi, hoang mang và không biết đâu là thực-hư, đúng-sai, phải-trái. Ở một số trường hợp, phản biện xã hội trên báo chí đã bị “bẻ cong” theo một hướng có chủ ý nhất định của những người trong cuộc, bằng những lời lẽ, chứng cứ thiếu cơ cở thực tiễn, thậm chí mang nặng tính võ đoán, quy chụp.

Coi trọng phản biện xã hội trên báo chí thực chất là một hình thức phát huy quyền dân chủ của nhân dân một cách công khai, minh bạch. Để nhận thức đúng đắn, đầy đủ vai trò của phản biện xã hội trên báo chí, những người tham gia ý kiến phản biện cần có trí tuệ khoa học, tinh thần thiện chí, thái độ xây dựng, nhận định và đánh giá sự kiện, vấn đề vì lợi ích chung của toàn xã hội. Phản biện xã hội trên báo chí không phải là “nói lấy được”, “gặp đâu nói đấy”, “nói cho sướng mồm”, mà là “nói phải củ cải cũng nghe”, nói có cơ sở tin cậy, lý do xác đáng và nghĩ kỹ trước khi nói, khi viết. Phản biện không phải là bác bỏ, lại càng không phải là cố tình ngụy biện để bác bỏ bằng được. Suy nghĩ và thực hiện phản biện như thế, không những thể hiện tốt vai trò, chức năng cao quý của người cầm bút, mà còn góp phần giúp công chúng hướng tới những giá trị “chân, thiện, mỹ”, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp và nhân văn hơn.

Chúng ta luôn khuyến khích mọi ý kiến tham gia phản biện, đăng đàn trên báo chí, nhưng các ý kiến đó phải gắn chặt với kỷ luật phát ngôn, tôn trọng truyền thống quý báu, sứ mệnh cao cả và kỷ cương chân chính của nền báo chí cách mạng. Trong thời đại thông tin phát triển mạnh như vũ bão hiện nay, với một đất nước có 54 dân tộc anh em, hơn 86 triệu người dân và khoảng gần 4 triệu Việt kiều cư trú ở nhiều nước trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi thành phần giai cấp, tầng lớp trong xã hội; đồng thời luôn lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đóng góp chân thành, những tiếng nói tâm huyết, những đề xuất, kiến nghị, hiến kế nhằm xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phồn vinh. Vì vậy, với tư cách là diễn đàn rộng rãi của toàn xã hội, việc phản biện trên báo chí cần tôn trọng những chuẩn mực đạo đức cộng đồng, truyền thống văn hóa của dân tộc, tuân theo những quy định của Hiến pháp, pháp luật và vì lợi ích tối cao của Tổ quốc. Đất n­ước ta đang trong quá trình hội nhập sâu rộng với thế giới. Mỗi thông tin xuất hiện trên báo chí đều có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến vị thế, diện mạo của quốc gia dân tộc. Do đó, mọi sự phản biện xã hội trên báo chí phải trở thành kênh thông tin hữu ích giúp Đảng, Chính phủ lãnh đạo, điều hành và quản lý tốt hơn mọi lĩnh vực của cuộc sống; lấy mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH và “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” làm phương châm hành động và thể hiện ở mỗi nội dung đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Nhận xét:

Phản biện xã hội thông qua báo chí đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện nay. Tuy nhiên nhận thức về hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Bản thân quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí dù đã được Hiến pháp hiện hành[23] ghi nhận nhưng quy định pháp luật vẫn chưa cụ thể, còn chung chung, thiếu cơ chế thực hiện, thiếu các giới hạn nhất định (vì các quyền này không phải là quyền tuyệt đối), thiếu quy định trách nhiệm,… Vì lẽ đó, phản biện xã hội qua báo chí về các chính sách, pháp luật còn chưa đi đúng hướng, chưa tạo ra những đổi mới về nhận thức cho công chúng.

4. Một số kết luận chung

– Phản biện xã hội thông qua các chủ thể chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và báo chí là những kênh chủ thể rất quan trọng, góp phần tạo sự đa dạng cho hoạt động phản biện xã hội;

– Mặc dù trong thời gian qua, các chủ thể nói trên đã có sự tham gia tích cực, tâm huyết trong việc đóng góp phản biện, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước nhưng việc tiếp thu, cầu thị chưa cao, chưa hiệu quả (từ phía cơ quan Nhà nước).

– Chưa có cơ chế thực hiện phản biện rõ ràng, chặt chẽ (ba chủ thể khác nhau về tính chất, quy mô, đối tượng đã thể hiện được nhận định này).

– Từ đó đặt ra khá nhiều yêu cầu về mặt hoàn thiện thể chế, cơ chế cũng như nghiên cứu toàn diện về hoạt động phản biện xã hội trong thời gian đến ở ViệtNam./.


[1] Dẫn theo tham luận “Tổng quan một số vấn đề về phản biện xã hội” của ThS. Lê Thị Thiều Hoa, tr.26.

[2] Xem thêm Tham luận của ThS. Lê Thị Thiều Hoa và TS. Hoàng Thị Ngân tại Hội thảo.

[3] Hoàng Thái Hà, Giáo dục thiếu người phản biện, nguồn: http://ttmt.edu.vn/index.php/vi/kien-thuc-cuoc-song/137-giao-dc-thiu-ngi-qphn-binq

[4] Thực tế hiện nay chủ trương này vẫn chưa hoàn thành xong.

[5] Hoàng Thái Hà, Giáo dục thiếu người phản biện, nguồn: http://ttmt.edu.vn/index.php/vi/kien-thuc-cuoc-song/137-giao-dc-thiu-ngi-qphn-binq

[6] Theo TS. Hồ Tấn Nhựt, một chuyên gia có thâm niên thiết kế chương trình giáo dục đại học tại Hoa Kỳ thì để thiết kế một chương trình đào tạo phải mất thời gian dài, thậm chí việc thêm bớt một môn học vào chương trình có khi mất cả năm. Thậm chí, phải qua bao nhiêu cuộc họp hội đồng khoa học khoa và bộ môn, lấy ý kiến chuyên gia, hội nghề nghiệp…

[7] Hồng Hạnh, Dự thảo Luật Giáo dục đại học: Xa rời thực tế, nguồn: http://dantri.com.vn/c25/s25-474170/Du-thao-Luat-Giao-duc-dai-hoc-Xa-roi-thuc-te.htm

[8] Đồng quan điểm này, PGS.TS, Trần Thị Tâm Đan (nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên & Nhi đồng của Quốc hội) cho hay, ban hành Luật giáo dục đại học phải được quy định cụ thể, tránh tối đa việc ban hành những văn bản dưới luật như Nghị định, thông tư. Mặt khác, Luật Giáo dục đại học phải có những chế tài cụ thể tạo cơ sở pháp lý cho việc khắc phục những tồn tại hiện nay như công tác tuyển sinh, chất lượng thấp của giáo dục thường xuyên, nhất là ở trình độ thạc sỹ, tiến sỹ thiếu tương ứng trong quản lý, những hiện tượng học vì bằng cấp mà không tích lũy kiến thức đang là những bức xúc của xã hội mà nhiều năm qua chưa tạo được chuyển biến cơ bản.

[9] Ý kiến của GS.TSKH. Nguyễn Mậu Bành, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học ViệtNam.

[10] Sau đề xuất bỏ cách thi 3 chung của một số trường Đại học, cao đẳng: “Muốn tự chủ, trường phải có năng lực”,

http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=50&ID=9283: Thứ nhất, xóa bỏ thi đại học như hiện nay; Thứ hai, bỏ chỉ tiêu tuyển sinh; Thứ ba, bỏ quy định về xin mở mã ngành, chuyên ngành.

[11] Dự thảo Luật Giáo dục đại học: Lại né cái cần nói, nguồn: http://dantri.com.vn/c25/s25-516073/du-thao-luat-giao-duc-dai-hoc-lai-ne-cai-can-noi.htm

[12] Ý kiến của GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội. Dự thảo đã lượt bỏ đoạn “Xây dựng Luật Giáo dục ĐH phải dựa trên quan điểm thực tiễn, toàn diện và phát triển góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc mà thực tiễn giáo dục ĐH đặt ra và thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dục ĐH”. Ông thắc mắc: “Tại sao ban soạn thảo lại bỏ quan điểm này trong khi Nghị quyết 11 nhấn mạnh vấn đề này rất nhiều lần là phải đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục. Nếu đưa ra luật mà không có quan điểm rõ ràng, luật sẽ đi bên lề của cuộc sống”.

[13] Về vấn đề hội đồng trường, PGS.TS. Nguyễn Thiện Tống, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long cho rằng: “Ban soạn thảo lấy lý do chỉ có 10/188 trường có hội đồng trường và hoạt động không hiệu quả nên không đưa hội đồng trường vào dự thảo luật là không hợp lý”. Theo ông, lý do nói hoạt động không hiệu quả là chưa thuyết phục. Vấn đề ở đây là phải phân tích tại sao chúng ta không làm được dù trong Luật Giáo dục và Điều lệ trường ĐH do Thủ tướng ban hành mới đây (năm 2010) cũng đã nêu rất cụ thể về vấn đề này.

[14] Về vấn đề mô hình tổ chức và triết lý giáo dục, TS. Trần Du Lịch (đại biểu Quốc hội khóa XIII) gợi mở: “Triết lý giáo dục ĐH Việt Nam nên chọn theo kiểu châu Âu (công lập là chính) hay Hoa Kỳ (tư thục là chính) để cải cách. Khi xác định được triết lý rồi, sẽ thống nhất về tư tưởng, quan điểm tổ chức, mô hình… và việc xây dựng luật, điều khoản sẽ dễ dàng hơn. Với những bất ổn của thực trạng giáo dục ĐH hiện nay, ông bày tỏ: “Luật hóa cái đang nát để làm gì?”.

[15] Luật Giáo dục đại học “né” giáo quyền tự chủ cho trường, nguồn: http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/11/luat-giao-duc-dai-hoc-ne-giao-quyen-tu-chu-cho-truong/, ngày 14/11/2011.

[16] Còn đại biểu Hồ Thị Thủy (Vĩnh Phúc) cho rằng, dự án luật này vẫn bất hợp lý bởi: “Trong 6 điều quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường thì có tới 5 điều quy định thẩm quyền của Bộ trưởng GD&ĐT“.

[18] Ý kiến của ông Vũ Khoa – Chủ tịch VACC. Ông Khoa cho rằng, ý kiến của doanh nghiệp trong Hội thảo này sẽ góp thêm một tiếng nói phản biện quan trọng vào việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành.

[19] Ý kiến của ông Dương Văn Cận (Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế – Bộ Xây dựng).

[20] ThS. Võ Thị Vân Khánh (Hiệp Hội VCAA), Quản lí đầu tư công như thế nào cho hiệu quả ?

http://tamnhin.net/Diemnhin/14135/Quan-li-dau-tu-cong-nhu-the-nao-cho-hieu-qua-.html, ngày 9/9/2011

[23] Điều 69 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: