Một số nét cơ bản về trưng cầu ý dân

Một số nét cơ bản về trưng cầu ý dân

Trương Hồng Quang

1.1. Quan niệm về trưng cầu ý dân

Cội nguồn lịch sử ra đời của thuật ngữ trưng cầu ý dân (referendum) có nguồn gốc từ tiếng Latin, được hiểu là sự bỏ phiếu của cử tri nhằm mục đích thông qua các quyết định có tính chất quốc gia hay địa phương. Trong tiếng Anh, thuật ngữ trưng cầu ý dân tương đương với referendum, được hiểu là việc đưa một văn bản của cơ quan lập pháp, một đề nghị sửa đổi Hiến pháp hay một vấn đề quan trọng của quốc gia để toàn dân quyết định dưới hình thức bỏ phiếu[1]; trong tiếng Pháp, thuật ngữ trưng cầu ý dân tương đương với référendum, được hiểu là một thủ tục cho phép công dân của một quốc gia bày tỏ sự tán thành hay bác bỏ một biện pháp (giải pháp) do cơ quan Nhà nước đưa ra thông qua hình thức bỏ phiếu[2]. Đây là một thuật ngữ pháp lý tuy không phải là mới mẻ ở nước ta, nhưng do ít được đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách hiểu giản đơn, chưa thống nhất, thậm chí rất khác nhau. Trong nhiều trường hợp đã sử dụng thuật ngữ này một cách quá dễ dãi, thiếu chuẩn xác, chẳng hạn như gọi việc công bố dự thảo Hiến pháp hay một dự án luật để lấy ý kiến nhân dân là trưng cầu ý dân, coi việc điều tra dư luận xã hội là trưng cầu ý dân, thậm chí một số doanh nghiệp tổ chức các cuộc thi sáng tác biểu trưng cho doanh nghiệp mình cũng gọi là trưng cầu ý dân,… Có thể nhận thấy, trong thực tiễn pháp luật nước ta có rất nhiều thuật ngữ được sử dụng liên quan đến trưng cầu ý dân:

– Trong Hiến pháp năm 1946 chỉ sử dụng thuật ngữ phúc quyết, trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 sử dụng thuật ngữ trưng cầu ý kiến nhân dân, trong Hiến pháp năm 1992 sử dụng thuật ngữ trưng cầu ý dân. Bên cạnh đó, trong một số văn bản pháp luật cũng sử dụng một số thuật ngữ khác có nội dung gần với nghĩa của các thuật ngữ này, như: lấy ý kiến nhân dân, bầu cử, điều tra xã hội học,…

– Theo Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đà Nẵng phối hợp với Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 1995 thì trưng cầu được hiểu là “hỏi ý kiến của số đông người một cách có tổ chức”[3], dân ý được hiểu là “ý kiến của nhân dân về một vấn đề chính trị nào đó”[4]; trưng cầu dân ý hay trưng cầu ý dân được hiểu là “hỏi ý kiến nhân dân bằng tổ chức bỏ phiếu, để nhân dân trực tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng của đất nước[5].

– Theo cuốn Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2004 thì Trưng cầu dân ý (Referendum/plebiscite Référendum) được hiểu là: “Một hoạt động do Nhà nước thực hiện để nhân dân bỏ phiếu quyết định hoặc bày tỏ ý kiến về những việc đặc biệt quan trọng của quốc gia. Việc trưng cầu dân ý do Hiến pháp của mỗi quốc gia quy định nên tùy theo mỗi nước có thể trưng cầu dân ý để quyết định Hiến pháp hoặc một đạo luật quan trọng. Cũng có trường hợp trưng cầu chỉ có tính chất tư vấn còn quyền quyết định vẫn thuộc quyền cơ quan lập pháp. Có trường hợp trưng cầu dân ý là bắt buộc và cũng có trường hợp cơ quan lập pháp xét thấy cần thiết thì mới tổ chức[6]”.

– Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm 2001, Trưng cầu dân ý (Referendum/ plebiscite – Référendum) được hiểu là việc tổ chức do Nhà nước thực hiện để nhân dân bỏ phiếu quyết định hoặc bày tỏ ý kiến về những việc đặc biệt quan trọng của quốc gia; việc trưng cầu dân ý do Hiến pháp của mỗi quốc gia quy định nên tùy theo mỗi nước có thể trưng cầu dân ý để quyết định Hiến pháp hoặc một đạo luật quan trọng. Cũng có trường hợp trưng cầu dân ý chỉ có tính chất tư vấn còn quyền quyết định vẫn thuộc quyền cơ quan lập pháp. Có trường hợp trưng cầu dân ý là bắt buộc và cũng có trường hợp cơ quan lập pháp xét thấy cần thiết thì mới tổ chức[7].

– Theo Từ điển Pháp – Việt, Pháp luật – Hành chính do Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 1992 thì Trưng cầu ý dân (Référendum) được hiểu là một hình thức tổ chức và hoạt động của nền dân chủ nửa trực tiếp, qua đó nhân dân cộng tác và tham gia vào quyền lập pháp. Lấy ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng của đất nước, như thông qua Hiến pháp, một đạo luật, quyết định một chính sách, hoặc yêu cầu Quốc hội biểu quyết một dự án luật do nhân dân có sáng kiến đề nghị[8].

Từ những giải thích nêu trên, có thể nhận thấy rằng ý dân, dân ý hay
ý kiến nhân dân cũng đều có nghĩa tương tự nhau, đều là ý kiến của nhân dân. Vì vậy, các thuật ngữ trưng cầu ý dân, trưng cầu dân ý hay trưng cầu ý kiến nhân dân cũng đều có nghĩa tương tự nhau[9]. Trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ, trong đó người dân được trực tiếp/gián tiếp quyết định đối với một số công việc của Nhà nước; xét về bản chất thì đây là một hình thức của dân chủ bán trực tiếp (vì kết quả của trưng cầu ý dân có thể có giá trị bắt buộc hoặc tham khảo). Tuy nhiên, trong trưng cầu ý dân thì chủ thể đưa vấn đề ra để trưng cầu ý dân luôn là Nhà nước, còn người dân biểu đạt ý chí của mình thông qua việc bỏ phiếu. Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra quan niệm chung về trưng cầu ý dân như sau: là hình thức dân chủ bán trực tiếp, thể hiện mối quan hệ Nhà nước – công dân trong quản lý, điều hành đất nước, trong đó cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục luật định đưa một vấn đề ra để nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc bỏ phiếu. Như vậy, trưng cầu ý dân là một quyền chính trị quan trọng của công dân.

Trên thế giới, phạm vi vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân bao giờ cũng là những vấn đề hệ trọng của quốc gia hoặc của địa phương. Về những vấn đề cụ thể được đưa ra trưng cầu ý dân ở các nước khác nhau có quy định khác nhau, nhưng đều có điểm chung là những vấn đề có tính chất hệ trọng đối với quốc gia. Bởi vì, không bao giờ và không thể bất cứ việc gì của Nhà nước cũng có thể đưa ra trưng cầu ý dân. Trong đó, đối tượng được đưa ra trưng cầu ý dân được nhiều nước ghi nhận rộng rãi và phổ biến nhất là việc ban hành Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, như ở Pháp, Italia, Thụy Sĩ, Armenia,… Ngoài ra, vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân còn có thể là về địa giới hành chính – lãnh thổ, các đạo luật về tổ chức bộ máy công quyền, các điều ước quốc tế quan trọng,… Đối với việc trưng cầu ý dân ở một địa phương, thì cũng tương tự như vậy, vấn đề được đưa ra trưng cầu thường là những vấn đề quan trọng của địa phương, liên quan đến quyền hoặc lợi ích chung của cộng đồng dân cư và được cử tri ở địa phương đó đặc biệt quan tâm. Những vấn đề cần phải đưa ra trưng cầu ý dân có thể được quy định cụ thể trong Hiến pháp hoặc trong các đạo luật, buộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tổ chức trưng cầu ý dân, như ở Thụy Sĩ pháp luật quy định việc sửa đổi Hiến pháp liên bang bắt buộc phải đưa ra trưng cầu ý dân, nếu được đa số đồng ý thì mới có hiệu lực (khoản 1, Điều 123 của Hiến pháp Thụy Sĩ); nhưng cũng có trường hợp cơ quan nhà nước được phép lựa chọn, có thể tổ chức hoặc không tổ chức trưng cầu ý dân, như ở Pháp pháp luật quy định Tổng thống có quyền đưa một dự án luật hay một điều ước quốc tế ra để trưng cầu ý dân nếu như có đề nghị của Chính phủ hoặc đề nghị của hai viện, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện (Điều 11 của Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958). Ở nước ta, pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về các vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân, trong Hiến pháp chỉ quy định giao cho Quốc hội thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân, nên có thể hiểu Quốc hội được toàn quyền trong việc lựa chọn vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân. Nhưng tất nhiên nếu như Quốc hội thực hiện thẩm quyền này thì chắc chắn những vấn đề Quốc hội đưa ra trưng cầu ý dân cũng phải là những vấn đề quan trọng của đất nước.

Ngoài ra, cơ sở pháp lý của trưng cầu ý dân bao giờ cũng là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Do tính chất quan trọng của vấn đề nên nhìn chung ở hầu hết các nước, trưng cầu ý dân đều được quy định trong Hiến pháp và là một chế định pháp lý mang tính hiến định. Tuy nhiên, có điểm khác nhau giữa các nước là ở chỗ, có nước như Thụy Sĩ, Brazil, Ai Cập,… thì trong Hiến pháp quy định rất cụ thể về vấn đề trưng cầu ý dân, kể cả trình tự, thủ tục tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân; nhưng lại có nước như Thụy Điển, trong Hiến pháp chỉ quy định rằng sẽ có một đạo luật quy định về trưng cầu ý dân (Điều 4 chương VIII của Hiến pháp Thụy Điển năm 1974).

1.2. Phân biệt trưng cầu ý dân với quyền phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân, bầu cử và điều tra xã hội học

Do nội hàm của thuật ngữ trưng cầu ý dân gần với nghĩa của một số thuật ngữ khác, như phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân, bầu cử, điều tra xã hội học nên cần có sự phân biệt với các thuật ngữ này.

– Trưng cầu ý dân phúc quyết.

Trong lịch sử hệ thống pháp luật của nước ta, thuật ngữ phúc quyết rất ít khi được sử dụng, chúng ta chỉ có thể thấy thuật ngữ này được sử dụng trong Hiến pháp năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa phương vào cùng thời điểm đó. Trong Hiến pháp năm 1946 có quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý” (Điều thứ 32); “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia…” (Điều thứ 21); việc sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo quy định “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (điểm c, Điều thứ 70)[10]. Trong Sắc lệnh số 63-SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định “Nếu một phần ba (1/3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết ủy ban hành chính xã thì ủy ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín nhiệm” (Điều thứ 18)[11].

Phân tích về khía cạnh thuật ngữ cho thấy, phúc quyết là từ Hán – Việt, được ghép bởi hai từ là phúcquyết: phúc có nghĩa là “lật lại, xét kỹ”[12]; quyết có nghĩa là “quyết định”[13]. Như vậy, có thể hiểu phúc quyết là việc đưa một vấn đề đã được quyết định ra để biểu quyết lại. Ở nước ta, thuật ngữ phúc quyết được dùng trong trường hợp toàn dân phúc quyết và trong trường hợp bỏ phiếu tín nhiệm đối với ban lãnh đạo của một cơ quan nhà nước (như Ủy ban hành chính). Có thể thấy rằng, chủ thể của quyền phúc quyết có thể là toàn dân hay là một bộ phận hẹp hơn (các đại biểu Hội đồng nhân dân, trong trường hợp phúc quyết Ủy ban hành chính); còn phạm vi vấn đề đưa ra phúc quyết có thể là một vấn đề quan trọng như Hiến pháp, một đạo luật hoặc cũng có thể chỉ là việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với ban lãnh đạo của một cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, những vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân thì có thể là những vấn đề đã được các cơ quan nhà nước thông qua hoặc cũng có thể chưa được thông qua; còn những vấn đề đưa ra phúc quyết phải là những vấn đề đã được các cơ quan nhà nước thông qua. Chính vì có sự đan xen đó nên trong trường hợp đưa ra toàn dân phúc quyết về công việc của Nhà nước hoặc của địa phương thì người ta cũng gọi đó là trưng cầu ý dân (chẳng hạn như Thụy Sĩ, việc sửa đổi Hiến pháp mặc dù đã được Quốc hội thông qua nhưng để có hiệu lực thì bản Hiến pháp sửa đổi đó phải được đa số người dân tán thành thông qua trưng cầu ý dân).

– Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân.

Lấy ý kiến nhân dân là việc Nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp, tham gia ý kiến của mình về một vấn đề cụ thể đưa ra lấy ý kiến. Có thể nhận thấy đây cũng là một hình thức dân chủ có tính chất giống như trưng cầu ý dân; xét về bản chất, trưng cầu ý dân là một trong những hình thức của lấy ý kiến nhân dân. Tuy nhiên, nội hàm của trưng cầu ý dân hẹp hơn so với nội hàm của lấy ý kiến nhân dân. Điểm khác biệt cơ bản giữa lấy ý kiến nhân dân với trưng cầu ý dân là ở chỗ: thông qua trưng cầu ý dân, người dân trực tiếp quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn thông qua việc lấy ý kiến nhân dân, người dân chỉ đưa ra ý kiến để các cơ quan nhà nước tham khảo, việc quyết định về vấn đề đưa ra lấy ý kiến như thế nào vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào cơ quan nhà nước. Ngoài ra, giữa lấy ý kiến nhân dân với trưng cầu ý dân còn khác nhau ở chỗ: đối tượng của việc lấy ý kiến nhân dân là nhân dân nhưng nhân dân ở đây không như trong trưng cầu ý dân chỉ gồm những người có quyền bầu cử (cử tri) mà bao gồm tất cả những người có khả năng và tâm huyết đóng góp ý kiến, không hạn chế bất cứ một trường hợp nào cho dù người đó có đầy đủ quyền công dân hoặc quyền bầu cử hay không; những việc đưa ra lấy ý kiến nhân dân có khi là để xem xét quyết định về một vấn đề cụ thể (như việc lấy ý kiến về việc có nên xây dựng một công trình hay không) giống như trong trưng cầu ý dân nhưng cũng có thể chỉ là việc góp ý để hoàn chỉnh thêm các vấn đề đưa ra lấy ý kiến (như việc lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh); và một điểm khác biệt nữa là ở chỗ trưng cầu ý dân bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu với câu trả lời là đồng ý hay không đồng ý với vấn đề đưa ra trưng cầu, còn việc lấy ý kiến nhân dân thường không được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu, người dân góp ý bằng cách thể hiện ý kiến trong văn bản và gửi cho cơ quan tổ chức việc lấy ý kiến nhân dân.

– Trưng cầu ý dân và bầu cử.

Bầu cử là một chế định pháp lý thông dụng và phổ biến ở hầu hết các quốc gia trong đó có Việt Nam. Thuật ngữ bầu cử được sử dụng trong rất nhiều trường hợp, có thể là tổng tuyển cử toàn quốc bầu Quốc hội, cũng có thể là bầu cử đại biểu Hội đồng địa phương hoặc cũng có thể là bầu người lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức. Bầu cử có thể được thực hiện trong các cơ quan nhà nước, nhưng cũng có thể được thực hiện trong các tổ chức, doanh nghiệp,…

Trong trường hợp tổng tuyển cử toàn quốc bầu Quốc hội hoặc bầu cử đại biểu Hội đồng địa phương, nhân dân trực tiếp quyết định lựa chọn người đại diện cho mình tham gia vào bộ máy nhà nước. Thông qua các cuộc bầu cử này, nhân dân thực hiện chủ quyền qua trung gian là những người đại diện cho mình, bao gồm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng địa phương. Trong các trường hợp như vậy, bầu cửtrưng cầu ý dân có nhiều nét tương đồng với nhau, thể hiện ở chỗ đều là việc nhân dân được trực tiếp quyết định; đối tượng tham gia bầu cử và đối tượng tham gia trưng cầu ý dân cũng tương tự nhau, người có quyền bầu cử thì cũng có quyền tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý dân và cũng đều được thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu. Tuy nhiên, một điểm khác biệt căn bản giữa bầu cử và trưng cầu ý dân là ở chỗ bầu cử hướng tới việc lựa chọn một cá nhân cụ thể đại diện cho mình tham gia vào bộ máy nhà nước; còn trưng cầu ý dân lại hướng tới việc lựa chọn một phương án, một mô hình hay cách giải quyết một vấn đề nhất định. Tuy trong lịch sử có một số trường hợp trưng cầu ý dân có gắn với việc lựa chọn một cá nhân cụ thể nắm giữ quyền lực nhà nước, như trong lịch sử nước Pháp, Na-pô-lê-ông đệ nhất và Na-pô-lê-ông đệ tam đã tổ chức trưng cầu ý dân về việc lên ngôi hoàng đế của mình, nhưng cùng với việc lựa chọn một vị vua cho mình, nhân dân Pháp đồng thời lựa chọn một chế độ mới thay thế chế độ cũ đã bị lật đổ[14].

– Trưng cầu ý dân và điều tra xã hội học.

Điều tra xã hội học là một phương pháp của bộ môn xã hội học nhằm khảo sát để nắm bắt ý kiến của những đối tượng nhất định trong xã hội về một vấn đề nhất định hoặc cũng có thể về một cá nhân cụ thể. Điểm khác biệt cơ bản giữa điều tra xã hội học với trưng cầu ý dân là ở chỗ điều tra xã hội học không phải là một hoạt động mang tính pháp lý, có thể do cơ quan nhà nước tiến hành nhưng cũng có thể do một tổ chức hoặc cá nhân bất kỳ thực hiện; kết quả của việc điều tra xã hội học chỉ mang tính chất tham khảo đối với cơ quan nhà nước mà không có giá trị bắt buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện; còn trưng cầu ý dân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành và kết quả của nó trong nhiều trường hợp buộc các cơ quan nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành.


[1] Black’s Law Dictionary (2004), Eighth Edition, Thomson West, p.1307.

[2] La Petite Larousse (1990), p.827.

[3] Black’s Law Dictionary (2004), Eighth Edition, Thomson West, p.1019.

[4] Black’s Law Dictionary (2004), Eighth Edition, Thomson West, p.239.

[5] Black’s Law Dictionary (2004), Eighth Edition, Thomson West, p.1019.

[6] Nguyễn Duy Lãm, Nguyên Thành (2004), Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, trang 366.

[7] Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng (2001), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, trang 128.

[8] Từ điển Pháp – Việt, pháp luật – hành chính (1992), Nxb Thế giới, Hà Nội, trang 250.

[9] Trong mối quan hệ Nhà nước – công dân, trưng cầu ý dân phản ánh bản chất của nền dân chủ. Trên thực tế, hình thức trưng cầu ý dân đã được sử dụng từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên, tại cộng hòa A-ten, ở các Thị xã (polis), mỗi khi có vấn đề của Thị xã cần phải giải quyết thì dân chúng được triệu tập đến công trường thành phố, ở đó các nhà lãnh đạo đương nhiệm trình bày các vấn đề và lấy biểu quyết của dân chúng; dân chúng biểu quyết bằng cách hô to hoặc giơ tay để biểu thị sự đồng thuận hay bác bỏ vấn đề được nêu ra; với hình thức này, dân chúng tự mình tham gia vào các quyết định liên quan đến đời sống của Thị xã. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, hình thức trưng cầu được nhiều nước áp dụng và coi sự tồn tại của nó như là một trong những biểu hiện sinh động của một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

[10] Quốc hội (1946), Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hà Nội.

[11] Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (1945), Sắc lệnh số 63-SL ngày 23/11/1945.

[12] Đào Duy Anh (1957), Hán – Việt từ điển, Trường – Thi xuất bản, Sài Gòn, trang 136.

[13] Phạm Văn Các (2000), Từ điển Từ Hán – Việt, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 334.

[14] Nhà pháp luật Việt – Pháp: Kỷ yếu Tọa đàm Dự thảo Luật trưng cầu ý dân (2006), Tài liệu lưu Nhà pháp luật Việt – Pháp, trang 6.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Luật Hiến pháp, Pháp luật hành chính Nhà nước

Nhãn:

You can comment below, or link to this permanent URL from your own site.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: