CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

HongTQuang

Đời sống của người đồng tính luôn phải chịu các tác động tiêu cực từ xã hội và cả tâm lý sợ hãi của bản thân họ do những nhận thức sai lầm và quan điểm kỳ thị vì xu hướng tình dục không phổ biến này. Dưới đây là những vấn đề mà người đồng tính thường gặp có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của bản thân họ.

1. Về vấn đề thay đổi xu hướng tình dục đồng tính luyến ái

Một số người do hiểu biết nhầm lẫn về người đồng tính và người chuyển giới nên cho rằng có thể thay đổi được xu hướng tình dục trên bằng các biện pháp y học, dược học. Nhóm khác lại nghĩ nguyên nhân của hiện tượng trên là do các tác động về mặt tâm lý, tinh thần nên đã tìm mọi cách thuyết phục, ép buộc người đồng tính kết hôn với người khác giới để thay đổi tình trạng trên. Thực tế, đây là những quan điểm sai lầm, bởi vì người chuyển giới là người có các đặc điểm sinh học thể hiện giới tính nam nữ rõ ràng nhưng bản thân lại cho rằng mình thuộc giới tính còn lại. Trong khi đó, người đồng tính là người bình thường về mặt tâm, sinh lý, họ biết rõ mình thuộc giới tính nào nhưng bản thân lại chỉ chịu sự hấp dẫn, kích thích về mặt tình dục, tình cảm với người cùng giới tính. Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản giữa người đồng tính với người dị tính, người lưỡng tính. Với người chuyển giới, do bản thân  nghĩ rằng mình thuộc giới còn lại nên sẽ chịu sự hấp dẫn bởi người có giới tính sinh học bên ngoài giống với mình, nhưng điều này khác với phân tích về xu hướng tình dục đồng tính luyến ái như đã nêu. Các biện pháp y học nhằm thay đổi các đặc điểm sinh học của một người không thể làm thay đổi xu hướng tình dục trên. Các quan điểm chính thống của Hội Tâm lý học Hoa Kỳ, Tổ chức Y tế Thế giới đều khẳng định đồng tính luyến ái là một biểu hiện bình thường, không phải là một bệnh nên không cần bất kỳ sự chữa trị nào. Vì vậy, việc ép buộc hay yêu cầu người đồng tính kết hôn với người khác giới không thể thay đổi được tình trạng trên mà chỉ gây ra những ức chế tâm lý khiến người đồng tính bị trầm cảm, suy nhược tinh thần và sức khỏe, thậm chí có thể dẫn đến hành vi tự tử. Tóm lại, xu hướng tình dục dù là đồng tính luyến ái, dị tính luyến ái hay lưỡng tính luyến ái đều là những yếu tố tồn tại bền vững và ổn định ở mỗi cá nhân con người, là điều không thể thay đổi được bằng bất kỳ biện pháp nào cả[1].

2. Hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia)

Có thể hiểu đây chính là thái độ ghê sợ, định kiến của xã hội đối với nhóm người đồng tính. Nguyên nhân của điều này có thể do xuất phát từ niềm tin tôn giáo khi tôn giáo đó có thái độ phản đối hành vi đồng tính, do thiếu hiểu biết, thiếu những trải nghiệm tiếp xúc với người đồng tính hoặc do những cảm giác chủ quan mặc định việc căm ghét người đồng tính[2]. Hội chứng trên bao gồm chứng tự sợ đồng tính và chứng ghê sợ đồng tính.

– Về chứng tự sợ đồng tính luyến ái:

Đây là thái độ tiêu cực, cảm thấy sợ hãi với xu hướng tình dục của bản thân khi phát hiện mình là người đồng tính. Nguyên nhân của hội chứng tự sợ trên là do những định kiến xã hội, truyền thống đạo đức, tình cảm, niềm tin tôn giáo hoặc tâm trạng lo sợ khị bị phát hiện là người đồng tính luyến ái. Nỗi sợ hãi, lo lắng trên khiến họ thường xuyên cảm thấy bị tổn thương, mặc cảm, tự ti và cô lập dẫn đến việc sử dụng rượu bia, ma túy, quan hệ tình dục bừa bãi, nguy hiểm hơn là dẫn đến việc tự tử.[3]

– Về chứng ghê sợ đồng tính luyến ái:

Đây là những phản ứng gay gắt của xã hội đối với người đồng tính thông qua sự phân biệt đối xử trong công việc, trong các sinh hoạt xã hội, các hành vi bạo lực, bạo dâm, giết người đồng tính, chế giễu, khinh bỉ, miệt thị người đồng tính[4]. Tại Vương quốc Anh, quan hệ đồng tính đã được xóa khỏi danh sách tội phạm vào năm 1967 và đến năm 2004, Nghị viện nước này đã thông qua việc kết hợp dân sự giữa những cặp đôi đồng tính. Tuy nhiên, một nghiên cứu cho thấy 2/3 học sinh đồng tính nước này đã từng bị bạo hành ở trường học dưới nhiều hình thức khác nhau như: chửi bới, bị tấn công, những người trưởng thành bị ức hiếp tại nơi làm việc hoặc gặp các rào cản khi muốn tham gia Nghị trường[5]. Tại Mỹ, nhiều người còn cho rằng đồng tính luyến ái là một hiện tượng trái tự nhiên, xã hội còn thiếu nhân ái với họ. Theo thống kê của FBI, trong các vụ tấn công do thù ghét có 15,6% là do kì thị người đồng tính[6]. Năm 1998, vụ án sinh viên Mathew Shepard[7] bị giết hại vì là người đồng tính gây chấn động dư luận Mỹ là một điển hình về tính nguy hiểm của các hành vi ghê sợ đồng tính luyến ái. Bên cạnh đó, một số quốc gia còn cho phép tử hình những người đồng tính.

 Tại Việt Nam, một nghiên cứu của Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (ISEE) về sự kì thị người đồng tính nam cho thấy: 1,5% đã bị đuổi học khi bị phát hiện là người đồng tính; 4,1% bị kỳ thị về vấn đề nhà ở; 4,5% từng bị tấn công và bị đánh đập vì là người đồng tính; 15,1% cho biết bị gia đình chửi mắng vì là người đồng tính[8]. Một nghiên cứu khác về sức khỏe và tinh thần của người nam quan hệ với người cùng giới đã đưa ra một số biểu hiện của thái độ kì thị người đồng tính như: định kiến và phân biệt đối xử, lăng mạ và bạo hành thể xác ở gia đình, chê cười tại trường học, sa thải hoặc từ chối tuyển dụng tại nơi làm việc (Vũ Ngọc Bảo và Philippe Girault, 2005), gây áp lực phải lấy vợ và có con (Lê Bạch Dương và cộng sự, 2004), một số người đồng tính còn kì thị với chính bản thân, coi mình mắc bệnh kinh niên và dị thường (Hoàng Thị Xuân Lan và cộng sự, 2005), hoặc có suy nghĩ hoặc hành động tự tử (Tổ chức cứu trợ trẻ em, vương quốc Anh, 1997)[9].

Hội chứng sợ đồng tính luyến ái đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực, đe dọa đời sống tinh thần và sức khỏe người đồng tính khiến cho việc hòa nhập xã hội của họ gặp nhiều khó khăn. Sự gia tăng hay ngầm không phản đối những hành vi kỳ thị trên đồng thời là dấu hiệu đi xuống của đạo đức khi con người mặc nhiên để những điều bất công đó được tồn tại.

3. Công khai xu hướng tình dục của người đồng tính.

Công khai xu hướng tình dục (come out) là việc người đồng tính công khai vấn đề đồng tính với chính bản thân mình, với những người xung quanh hoặc gia nhập vào cộng đồng đồng tính luyến ái. Hình thức công khai có thể là với tất cả mọi người hoặc với một số ít người. Sau khi công khai, người đồng tính sẽ dễ nhận được sự quan tâm giúp đỡ của xã hội và có cơ hội tiếp cận các thông tin hữu ích về an toàn tình dục. Tinh thần, sức khỏe của những người đã công khai thường tốt hơn những người còn giấu giếm. Tuy nhiên, công khai là một thử thách lớn đối với người đồng tính vì họ phải vượt qua được những trở lực đến từ bản thân và xã hội.

Thứ nhất, đối với bản thân: người đồng tính sẽ phải đối mặt với những nghi vấn về giới tính khác người của mình. Những nền tảng tôn giáo, đạo đức, lối sống truyền thống không mặc nhiên thừa nhận điều này khiến người đồng tính cảm thấy hoang mang, lo sợ và cô độc, ở họ xuất hiện tâm lý tự sợ đồng tính luyến ái và có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực như đã nêu. Tuy nhiên sau khi tự thừa nhận tình cảm đặc biệt với người cùng giới tính, tâm lý người đồng tính sẽ trở nên thoải mái, tích cực hơn và họ sống lành mạnh với xu hướng tình dục ấy.

Thứ hai, đối với xã hội: công khai được hiểu như một tuyên bố chính thức của người đồng tính chấp nhận thách thức từ những người có tâm lý ghê sợ đồng tính luyến ái trong xã hội, chấp nhận việc có thể bị bạo hành, ngược đãi, kì thị và đối xử bất công. Ngoài những đe dọa trên, yếu tố truyền thống gia đình sẽ gây những khó khăn nhất định cho người đồng tính khi họ phải đối diện với trách nhiệm, niềm kỳ vọng của gia đình về một người con bình thường như xã hội vẫn hiểu. Có thể nói, để được sống chân thật với bản năng, xúc cảm của mình, có được điều mà với người dị tính khác là đương nhiên thì người đồng tính phải đấu tranh, nỗ lực rất nhiều mới đạt được và không phải trong mọi trường hợp sau khi công khai người đồng tính sẽ được xã hội đối xử bình đẳng và nhân hậu hơn.

Như vậy, trên phương diện khoa học người đồng tính được xem như một người bình thường nhưng thực tế cuộc sống lại đặt người đồng tính vào những nguy cơ bị xâm hại, đe dọa xâm hại đến đời sống của họ xuất phát từ các thái độ tiêu cực của xã hội. Những định kiến, kỳ thị nêu trên tạo ra sự uy hiếp và đối xử không công bằng với bộ phận người đồng tính trong xã hội – một nhóm người yếu thế, đang chịu những tổn thương nhất định trong việc hòa nhập với cuộc sống thật của mình và với cộng đồng người nói chung. Sự tồn tại của người đồng tính trong xã hội với những khó khăn, thử thách mà họ đang chịu đựng sẽ là các căn cứ quan trọng để đưa ra  kiến nghị về việc thừa nhận các quyền cho người đồng tính trong thời gian sắp đến./.


[1] Xem: Giải đáp các câu hỏi của bạn để hiểu thêm về xu hướng tình dục và đồng tính luyến ái, sđd, tr 3.

[8] Cộng tác nghiên cứu ISEE và Khoa Xã hội học, Học viện báo chí và tuyên truyền, Nghiên cứu khoa học:Thông điệp về đồng tính trên báo in và báo mạng, trang 14, nguồn: http://isee.org.vn/uploads/download/you4share.com_4d5258c2076fb.pdf

[9] Xem: Giải đáp các câu hỏi của bạn để hiểu thêm về xu hướng tình dục và đồng tính luyến ái, sđd, tr 7.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Human Rights, LGBT, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: