Quyền phúc quyết trong Hiến pháp các nước thuộc khu vực châu Âu

Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp

Người hướng dẫn: Trương Hồng Quang

Hiến pháp của một số nước khu vực châu Âu có ghi nhận quy định quyền phúc quyết Hiến pháp như: Liên bang Nga, Thụy Sĩ, Đức, Rumani, Ireland, Italia, Pháp, Ba Lan,… Trong đó, quốc gia quy định về quyền phúc quyết Hiến pháp sớm nhất là Ireland với bản Hiến pháp ban hành năm 1937, sau đó lần lượt đến Cộng hòa liên bang Đức (Hiến pháp năm 1946), Cộng hòa Pháp (Hiến pháp năm 1958), Rumani (Hiến pháp năm 1991), Ba Lan (Hiến pháp năm 1997), Thụy Sĩ (Hiến pháp năm 1999),… Bên cạnh đó, Hiến pháp của một số quốc gia khu vực châu Âu cũng quy định phúc quyết đối với các vấn đề quan trọng của quốc gia và các đạo luật cơ bản của đất nước. Điển hình cho việc mở rộng phạm vi quyền phúc quyết cho nhân dân chính là Hiến pháp của một số quốc gia sau đây:

Quốc gia đầu tiên phải kể đến chính là Cộng hòa liên bang Đức[1]. Tại nước này, phạm vi quyền phúc quyết được mở rộng gần như tối đa. Điều 146 của Hiến pháp năm 1949 quy định Hiến pháp “phải được dân biểu quyết”[2] khi ban hành Hiến pháp mới hay có những nội dung sửa đổi, bổ sung. Đến nay, Hiến pháp đã được sửa đổi tới gần 60 lần (chưa kể đến các lần thay đổi Hiến pháp khác nhau trong lịch sử quốc gia họ, gắn liền với thay đổi thể chế). Tuy nhiên tại quốc gia này bản thân Hiến pháp còn đi xa hơn, không những quy định những văn bản lập pháp phải được phúc quyết (nghĩa là không chỉ quy định chuẩn mực thước đo giới hạn nhà nước được phép làm) mà còn quy định một số vấn đề phải được dân trực tiếp quyết định. Chẳng hạn điều 29 của Hiến pháp quốc gia này quy định phân chia lại địa giới các tiểu bang phải phúc quyết tại các tiểu bang đó. Chính vì vậy, trước đây khi chủ trương mở rộng thủ đô Berlin bằng cách sát nhập thêm tiểu bang Brandenburg, được Chính phủ hai tiểu bang chuẩn bị trong vài năm, sau khi 2 Quốc hội thông qua, đưa ra phúc quyết toàn dân năm 1996 đã bị thất bại (khi tiểu bang Berlin chỉ nhỉnh quá bán còn tiểu bang Brandenburg chỉ đạt 36,57% phiếu thuận[3]). Ngay cả trường hợp Hiến pháp không quy định phúc quyết, Đức vẫn tự động áp dụng ngày một nhiều biện pháp trưng cầu dân ý đối với những văn bản luật vẫn tranh cãi giữa bên chấp thuận và bên phủ quyết trong Quốc hội. Nghĩa là một khi luật pháp tuân thủ nguyên tắc quá bán, nhưng lòng người lại khác, không phải lúc nào cũng theo lý trí, bị phân chia, thì buộc không còn con đường nào khác, phải lấy dân với tư cách chủ nhân, làm thước đo, để họ phúc quyết. Nước Đức đã tiến lên thang bậc mới trên con đường dân chủ, chuyển từ dân chủ gián tiếp sang trực tiếp, bất cứ lúc nào có thể. Bởi không ai khẳng định được mình đại diện cho dân (dân chủ gián tiếp) bằng chính người dân, tự họ định đoạt lấy (dân chủ trực tiếp).

Cách thức tổ chức trưng cầu dân ý để thực hiện phúc quyết đối với việc thay đổi địa giới hành chính tại Đức cũng có những nét đặc thù. Việc trưng cầu dân ý chỉ được tổ chức tại hai hay một số tiểu bang và chỉ diễn ra khi có sự thay đổi ranh giới giữa các tiểu bang và thành lập tiểu bang mới[4]. Sự thay đổi đó do luật của liên bang quy định nhưng trước khi ban hành luật phải tổ chức trưng cầu dân ý ở các tiểu bang hay ở vùng lãnh thổ dự kiến thành lập tiểu bang mới. Cử tri cần trả lời một cách rõ ràng cho câu hỏi: đồng ý duy trì ranh giới cũ hay không, đồng ý thành lập tiểu bang mới hay không. Cộng hòa liên bang Đức không đưa ra các phương án để cử tri lựa chọn và cũng không bao giờ tiến hành trưng cầu dân ý trên toàn lãnh thổ liên bang[5].

Quốc gia thứ hai phải đề cập đến là Thụy Sỹ. Hiến pháp quốc gia được ban hành ngày 18 tháng 4 năm 1999 (đến nay vẫn là Hiến pháp hiện hành). Các quy định của bản Hiến pháp này về phúc quyết cũng có phạm vi khá rộng (nhưng vẫn hẹp hơn so với Cộng hòa liên bang Đức).

Đầu tiên phải kể đến là phúc quyết Hiến pháp: bất kỳ sự thay đổi nào của Hiến pháp đều phải được thông qua bằng trưng cầu dân ý bắt buộc. Điều này xuất phát từ đặc điểm Thụy Sĩ là một trong những nước điển hình về việc quy định trưng cầu dân ý về Hiến pháp[6]. Trước hết, Điều 136 Hiến pháp Thụy Sỹ quy định về các quyền chính trị của công dân: mọi công dân nam và nữ của Thụy Sỹ tròn 18 tuổi trở lên, nếu không bị hạn chế về năng lực hành vi đều có các quyền và nghĩa vụ như nhau về chính trị (tham gia bầu cử Nghị viện, đưa ra sáng kiến về trưng cầu dân ý và ký vào bản thu thập chữ ký trưng cầu dân ý). Tiếp theo đó, Điều 138 của Hiến pháp nước này quy định Hiến pháp sẽ được sửa đổi nếu có ý kiến đề nghị của 100.000 cử tri. Khi đã thu thập được 100.000 chữ ký cử tri về đề nghị sửa đổi Hiến pháp thì cần phải tổ chức trưng cầu dân ý về sửa đổi Hiến pháp. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 139, Nghị viện sẽ soạn thảo những sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và đưa dự thảo ra để trưng cầu dân ý. Nếu đã có đủ số cử tri yêu cầu sửa đổi Hiến pháp nhưng Nghị viện lại không đồng ý với sáng kiến của cử tri thì vấn đề có sửa đổi Hiến pháp hay không cũng cần phải đưa ra trưng cầu dân ý để nhân dân quyết định. Nếu kết quả trưng cầu dân ý cho thấy đa số cử tri ủng hộ sáng kiến sửa đổi Hiến pháp thì Nghị viện sẽ phải soạn thảo dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Hiến pháp được sửa đổi dựa trên đề xuất của Quốc hội, các bang hoặc dựa trên sáng kiến của nhân dân. Nếu sáng kiến của nhân dân ở cấp liên bang cần phải thu thập được chữ ký hợp lệ của nhân dân trong vòng 18 tháng, không trái với pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế sẽ được Quốc hội xem xét đưa ra phúc quyết trong toàn dân. Trưng cầu dân ý được sử dụng ở các cấp liên bang và bang và thường được tổ chức vào ngày chủ nhật. Một số nhà nghiên cứu của Thuỵ Sĩ, như Bruno S. Frey cho rằng phúc quyết Hiến pháp với nền tảng trung tâm là sự tham gia của nhân dân đã thể hiện tính dân chủ trực tiếp, góp phần ổn định xã hội và mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy một vấn đề là các quyết định được đưa ra lựa chọn trong cuộc trưng cấu ý dân thường mang tính bảo thủ, sáng kiến sửa đổi Hiến pháp của nhân dân có số lượng khá nhiều nhưng ít khi vượt qua được cuộc biểu quyết trong toàn dân. Đối với các vấn đề như có sửa đổi toàn diện Hiến pháp hay không khi còn có bất đồng ý kiến giữa các Viện của Nghị viện cũng đều phải tổ chức trưng cầu dân ý bắt buộc[7].

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 140 của Hiến pháp Thụy Sỹ, quyền phúc quyết còn được áp dụng cho trường hợp xem xét gia nhập một tổ chức quốc tế, gia nhập tổ chức an ninh tập thể hay các tổ chức, cộng đồng trên quốc gia; ban hành các đạo luật tạm thời, tức là các đạo luật không có cơ sở Hiến pháp và chỉ có hiệu lực không quá một năm (thực hiện thông qua trưng cầu dân ý bắt buộc). Có thể nhận thấy hai điểm này không có ở Hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức nhưng xét về phạm vi vẫn chưa mở rộng hơn vì vẫn chưa chạm đến vấn đề phúc quyết đối với các vấn đề mang tính chất cụ thể ở địa phương.

Tại Italia, quyền phúc quyết có phạm vi áp dụng cho việc sửa đổi Hiến pháp và ban hành một số đạo luật cơ bản. Phương thức thực hiện quyền này vẫn là thông qua trưng cầu dân ý (được quy định ở các Điều số 75, 87, 123, 132 và 138 của Hiến pháp Italia năm 2003). Điều 138 Hiến pháp năm 2003 Italia quy định: “Các đạo luật về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và các đạo luật khác được ban hành trên cơ sở những quy định của Hiến pháp được thông qua tại Hạ viện và Thượng viện thành 2 đợt, mỗi đợt thảo luận cách nhau không dưới 3 tháng và phải được thông qua với số phiếu tán thành đa số tuyệt đối và bỏ phiếu 2 vòng”. Điều 132 của Hiến pháp này cũng quy định:“Các đạo luật này sẽ được đưa ra trưng cầu dân ý nếu trong vòng 3 tháng sau khi được công bố có 1/5 nghị sĩ của mỗi Viện hay có 500.000 cử tri hay 5 hội đồng cấp tỉnh yêu cầu. Một đạo luật được đưa ra trưng cầu dân ý sẽ không được thông qua nếu như không có được đa số phiếu tán thành. Trưng cầu dân ý cũng không được tổ chức nếu khi bỏ phiếu thông qua lần hai tại Nghị viện đã được 2/3 tổng số nghị sĩ của mỗi viện bỏ phiếu tán thành.”

Như vậy, việc thông qua một Hiến pháp mới, các sửa đổi Hiến pháp hay một số dự thảo luật sau khi được sự chấp thuận của Viện đại biểu và Thượng viện thì phải được nhân dân phúc quyết thông qua. Mọi công dân đều có quyền bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý để phúc quyết các vấn đề liên quan đến Hiến pháp và dự thảo luật.

Tại Ireland, Hiến pháp được ban hành vào ngày 1 tháng 7 năm 1937 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 29 tháng 12 năm 1937[8]. Từ khi có hiệu lực đến trước thời điểm năm 1941, các sửa đổi Hiến pháp thường do Hội đồng lập pháp và hai Viện thuộc Nghị viện thông qua. Từ năm 1941 trở đi, việc sửa đổi Hiến pháp chỉ được thực hiện thông qua trưng cầu dân ý đối với toàn dân. Hiến pháp nước này đã ghi nhận quyền phúc quyết thông qua các quy định về trưng cầu dân ý tại Điều 27 và 47. Theo đó, phúc quyết tại Ireland có hai phạm vi là các dự luật quan trọng tầm quốc gia và phúc quyết Hiến pháp, cụ thể như sau:

– Trong bất cứ trường hợp nào mà Tổng thống nhận thấy rằng Dự luật được đệ trình có các đề xuất có tầm quan trọng quốc gia liên quan đến ý chí của người dân thì Tổng thống sẽ phải thông báo với Thủ tướng và chủ tịch mỗi viện trong Quốc hội bằng văn bản viết tay và phải từ chối công bố Dự luật ấy trừ phi dự luật này được thông qua bởi cả: (1) Người dân trong cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức theo các điều khoản trong phần 2, Điều 47 Hiến pháp này trong thời hạn 18 tháng kể từ quyết định của Tổng thống, và (2) bằng một nghị quyết của Hạ viện được thông qua trong thời hạn đã nêu sau khi giải tán và tái lập Hạ viện (Điều 27, khoản 5, đoạn 1).

– Mỗi dự thảo sửa đổi Hiến pháp được đưa ra để trưng cầu dân ý theo ý của người dân sẽ được công nhận là được người dân đồng ý nếu đa số phiếu đồng tình.

– Mỗi dự thảo (trừ dự thảo sửa đổi Hiến pháp) được đưa ra trưng cầu dân ý được cho là bị phủ quyết bởi người dân nếu đa số người dân bỏ phiếu chống hoặc số phiếu chống không ít hơn 33% hoặc 33,3% số cử tri đi bầu. Mọi công dân có quyền bầu nghị sĩ hạ viện thì đều có quyền bỏ phiếu trong trưng cầu dân ý (điều 47).

Với những quy định như trên, Hiến pháp hiện hành của Ireland đã được thông qua bằng một cuộc trưng cầu dân ý bắt buộc vào ngày 01 tháng 07 năm 1937. Cho đến nay thì đã có khoảng 30 cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức (từ lần ban hành Hiến pháp hiện hành cho đến cuối năm 2009)[9]. Những sửa đổi Hiến pháp đầu tiên được thông qua bởi cả hai Viện của Quốc hội, đưa ra nhân dân để trưng cầu dân ý, và được ký ban hành bởi Tổng thống. Thực chất, Tổng thống không thể từ chối ký ban hành một luật đã được phê duyệt thông qua trưng cầu dân ý. Vì vậy vai trò của Tổng thống chỉ mang tính hình thức trong trường hợp này.

Tại Pháp, Hiến pháp quy định quyền phúc quyết có phạm vi rộng hơn so với Italia với các nội dung: sửa đổi Hiến pháp, dự án luật và điều ước quốc tế. Điều 89 của Hiến pháp Công hòa Pháp (ban hành ngày 4 tháng 10 năm 1958) quy định tổ chức trưng cầu dân ý (bắt buộc) về dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Luật hiến pháp của Pháp quy định việc sử dụng rộng rãi chế định trưng cầu dân ý. Pháp luật của Pháp quy định trưng cầu dân ý về hiến pháp, nếu như những sửa đổi, bổ sụng Hiến pháp được thông qua theo sáng kiến của các nghị sỹ tại Quốc hội (nếu theo sáng kiến của Tổng thống thì có khả năng tiến hành trưng cầu dân ý và cũng có khả năng Nghị viện biểu quyết tại phiên họp chung của Thượng viện và Hạ viện)[10]. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phải được cả hai Viện thống nhất thông qua. Nội dung sửa đổi Hiến pháp chỉ chính thức có hiệu lực sau khi được nhân dân thông qua trong khuôn khổ một cuộc trưng cầu dân ý. Bên cạnh đó, Điều 11 của Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958 quy định: “Tổng thống có quyền đưa một dự án luật hay một điều ước quốc tế ra để trưng cầu dân ý nếu như có đề nghị của Chính phủ hoặc đề nghị của hai viện, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện”. Kết quả của các cuộc trưng cầu dân ý này cũng có tính bắt buộc, nghĩa là ghi nhận quyền phúc quyết đối với các dự thảo Luật, việc tham gia điều ước quốc tế. Tuy nhiên có thể thấy việc mở rộng phạm vi này có những nét khác biệt bởi việc đưa dự thảo Luật hay điều ước quốc tế ra phúc quyết chỉ xuất phát từ Tổng thống chứ không được quy định là một nguyên tắc chung phải áp dụng cho những đạo luật có tính chất như thế nào.

Một quốc gia ghi nhận quyền phúc quyết có thể đề cập nữa là Liên bang Nga. Một trong những nội dung mới khi thông qua Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 là trưng cầu dân ý về dự thảo Hiến pháp. Kết quả trưng cầu dân ý có ý nghĩa bắt buộc và thể hiện ở chỗ Hiến pháp có được thông qua hay không phụ thuộc vào việc nhân dân có thông qua Hiến pháp hay không.

Khoản 3, Điều 3 của Hiến pháp liên bang năm 1993 quy định “Trưng cầu dân ý và bầu cử tự do là sự thể hiện cao nhất, trực tiếp của quyền lực nhân dân”. Bên cạnh đó, Hiến pháp cũng quy định tại mục B, Điều 84 thẩm quyền của Tổng thống quyết định trưng cầu dân ý. Các điều 32, 130, 135 của Hiến pháp Liên bang Nga quy định về trình tự tiến hành trưng cầu dân ý và những vấn đề cơ bản, nguyên tắc cơ bản của trưng cầu dân ý ở Liên bang Nga. Điều 135 quy định: “Hội nghị Lập hiến hoặc quyết định không sửa đổi Hiến pháp Liên bang Nga, hoặc soạn thảo bản Hiến pháp mới của Liên bang Nga. Hội nghị Lập hiến thông qua dự thảo bởi hai phần ba tổng số phiếu hoặc quyết định trưng cầu phúc quyết toàn dân. Trong trường hợp phúc quyết toàn dân, Hiến pháp Liên bang Nga được thông qua khi có hơn một nửa tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu tán thành, với điều kiện phải có hơn một nửa tổng số cử tri tham gia phúc quyết”. Qua quy định này cho thấy dự thảo Hiến pháp là vấn đề bắt buộc phải trưng cầu dân ý nếu như Hội nghị lập hiến thông qua quyết định đưa dự thảo Hiến pháp ra trưng cầu dân ý[11]. Quyết định được thông qua tại các cuộc trưng cầu dân ý[12] ở Liên bang Nga là quyết định cuối cùng, có hiệu lực pháp lý ngay mà không cần phải được phê chuẩn bởi bất cứ cơ quan nào. Các quyết định này có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga và chỉ có thể bị sửa đổi, hủy bỏ bằng một cuộc trưng cầu dân ý mới.

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 1993, trong trường hợp nhân dân biểu quyết thông qua Hiến pháp thì Hiến pháp có hiệu lực bắt buộc mặc dù có thể vẫn có tuyên bố chính thức của Nghị viện hay Tổng thống hay của Ủy ban bầu cử Trung ương về việc thông qua Hiến pháp và tuyên bố Hiến pháp có hiệu lực. Kết quả trưng cầu dân ý về Hiến pháp là kết quả cuối cùng, không có cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền bác bỏ. Điều 3 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 tuyên bố về việc nhân dân thực hiện quyền lực của mình trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước ở trung ương và các cơ quan tự quản địa phương. Hiến pháp cũng nhấn nhấn mạnh rằng, vấn đề về lãnh thổ của Liên bang Nga chỉ có thể được giải quyết thông qua sự thể hiện ý chí của nhân dân tại các cuộc trưng cầu dân ý. Sau khi các đạo luật trên được ban hành ở Nga đã có nhiều cuộc trưng cầu dân ý.

Thực ra, chế định trưng cầu dân ý cũng đã có nguồn gốc ở chính nước Nga. Bằng trưng cầu dân ý các quyết định đã được thông qua tại các hội đồng ở Novgorod, Pskov, Kiev và một số thành phố cổ của nước Nga. Hiến pháp Liên Xô năm 1936 cũng coi trưng cầu dân ý như hình thức tham khảo ý kiến nhân dân. Điều 5 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 quy định hai hình thức dân chủ trực tiếp: toàn dân thảo luận và toàn dân biểu quyết (trưng cầu dân ý). Quy định tương tự như vậy cũng có trong Điều 5 Hiến pháp Liên Xô năm 1978. Tuy nhiên trong thời gian dài pháp luật không quy định cơ chế thực hiện chế định này mặc dù các nhà khoa học Xô Viết luôn đặt vấn đề về sự cần thiết phải thông qua một văn bản quy phạm đặc biệt quy định trình tự tiến hành trưng cầu dân ý. Các nhà khoa học cũng từng soạn thảo, đưa ra những kiến nghị cụ thể về cơ cấu và những điều khoản cơ bản của văn bản quy phạm về trưng cầu dân ý và đề nghị thông qua đạo luật về trưng cầu dân ý trên toàn lãnh thổ Xô viết. Tháng 12 năm 1990, Đại hội Đại biểu Xô viết Tối cao Liên Xô đã thông qua Luật trưng cầu dân ý. Trước đó vài tháng Luật trưng cầu dân ý đã được thông qua tại Litva và Liên bang Nga[13].

Ở đây, điểm mới của Hiến pháp Liên bang Nga là khả năng áp dụng thực tế quyền phúc quyết khi cần thông qua một bản Hiến pháp mới. Đương nhiên, Hiến pháp Nga quy định, khả năng thông qua Hiến pháp mới qua con đường biểu quyết toàn dân là công đoạn cuối cùng sau khi Quốc hội Lập hiến thông qua bản Hiến pháp. Trên thực tế, Hiến pháp Nga hiện hành là bản Hiến pháp được thông qua theo con đường này. Ngày 12 tháng 12 năm 1993 trên cơ sở Sắc lệnh số 1633 của Tổng thống Liên bang Nga ban hành ngày 15 tháng 10 năm 1993 “Về tiến hành trưng cầu dân ý toàn Nga về dự thảo Hiến pháp Liên bang Nga ngày 12 tháng 12 năm 1993”[14] đã có cuộc trưng cầu dân ý dân ý toàn Nga. Đây là cuộc trưng cầu dân ý về Hiến pháp lần đầu tiên trong lịch sử nước Nga. Người dân Nga đã đánh giá cao và đã đồng ý với Dự thảo Hiến pháp do Tổng thống đưa ra. Đã có 58.187.775 cử tri đăng ký tham gia bỏ phiếu và đa số (32.937.630 người (tức 58,4%) ủng hộ việc thông qua Hiến pháp. Ngày tiến hành bầu cử cũng được coi là ngày thông qua Hiến pháp Liên bang Nga.

Như vậy, mặc dù Hiến pháp Nga ghi nhận phúc quyết Hiến pháp nhưng không phải là quyền tuyệt đối. Bản Hiến pháp mới hoàn toàn có thể chỉ do Hội nghị lập hiến soạn thảo và thông qua và việc quyết định đưa ra trưng cầu phúc quyết toàn dân hoàn toàn do Hội nghị lập hiến quyết định, chủ động. Do đó, trong một chừng mực nhất định, quyền phúc quyết Hiến pháp đã bị hạn chế bởi các cơ quan quyền lực nhà nước.

         Ngoài các quốc gia mở rộng phạm vi quyền phúc quyết như trên, một số quốc gia khác thuộc khu vực này chỉ quy định phúc quyết đối với Hiến pháp. Tại Rumani, Hiến pháp năm 1991 (sửa đổi năm 2003) quy định nhân dân có quyền phúc quyết để phê duyệt các sửa đổi Hiến pháp thông qua trưng cầu dân ý bắt buộc tại Điều 151. Quy định này đã được sử dụng hai lần: trong việc phê chuẩn Hiến pháp Rumani vào năm 1991 và sửa đổi Hiến pháp trong năm 2003[15]. Tại Ba Lan, khoản 6 Điều 235 Hiến pháp năm 1997 quy định: “Nếu dự luật sửa đổi Hiến pháp liên quan đến các quy định tại các Chương I, II hoặc XII, thì các chủ thể quy định tại khoản 1, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày dự luật được Thượng nghị viện thông qua, có thể đề nghị tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để chứng thực. Các chủ thể này sẽ gửi đề nghị đến Chủ tịch Hạ nghị viện, là người ra lệnh tổ chức cuộc trưng cầu dân ý trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị. Việc sửa đổi Hiến pháp sẽ được xem là được chấp thuận nếu đa số người dân bỏ phiếu ủng hộ việc sửa đổi này”. Như vậy Ba Lan cũng quy định về quyền phúc quyết Hiến pháp của người dân được thực hiện thông qua hình thức trưng cầu dân ý.


[1] Xem thêm từ tài liệu: TS. Nguyễn Sỹ Phương (CHLB Đức), Từ phúc quyết Hiến pháp đến trưng cầu chính sách, nguồn: chungta.com, cập nhật ngày 03/09/2010.

[2] Article 146 (Validity of the Constitution): This Constitution, which is valid for the entire German people following the achievement of the unity and freedom of Germany, ceases to be in force on the day on which a constitution adopted by a free decision of the German people comes into force.

[3] Khác với họ, Hiến pháp ta không có điều khoản đó, việc sát nhập tỉnh Hà Tây vào Hà Nội được thực hiện tức thì sau khi Quốc hội thông qua nhanh chóng – chưa biết liệu cách làm của Đức hay Việt, đâu ưu việt hơn, (chưa phân tích trên cơ sở khái niệm dân chủ, phúc quyết, phụ thuộc vào quan niệm chính quyền từng nước), còn phải chờ đánh giá kết qủa thu được từ 2 biện pháp đó. Nhưng ở Đức, chính quyền hai tiểu bang phải chuyển sang hình thức liên hiệp, đến nay vẫn tiếp tục triển khai, như mạng giao thông, sân bay, truyền thông, bảo hiểm hưu trí, thống kê, giáo dục, viện nghiên cứu trường học, giám định, đều liên hiệp lại mang tên Berlin-Brandenburg, chờ thực tiễn kiểm chứng.

[4] PGS, TS. Đinh Ngọc Vượng (2006), Các mô hình điều chỉnh pháp luật chủ yếu đối với chế định trưng cầu dân ý ở các nước trên thế giới, Hội Luật gia Việt Nam, Hội thảo Quốc tế về Trưng cầu dân ý, Hà Nội, tr 29.

[5] PGS,TS. Đinh Ngọc Vượng (2006), Các mô hình điều chỉnh pháp luật chủ yếu đối với chế định trưng cầu dân ý ở các nước trên thế giới, Hội Luật gia Việt Nam, Hội thảo Quốc tế về Trưng cầu dân ý, Hà Nội, tr 23.

[6] Hiến pháp Thụy Sỹ điều chỉnh chế định trưng cầu ý dân tại Chương 2 của Phần thứ Tư, từ điều 138 đến điều 142; Điều 136, Chương 2 (điều 140, 141), 162, 165 và Điều khoản cuối trong Chỉ thị Liên bang ngày 18/12/1998.

[7] TS. Nguyễn Thị Việt Hương (2006), Các hình thức lấy ý kiến có tính chất quyết định của nhân dân và những vấn đề thuộc về đối tượng trưng cầu dân ý, Hội Luật gia Việt Nam, Hội thảo Quốc tế về Trưng cầu dân ý, Hà Nội, tr. 4.

[8] Cục môi trường, di sản và chính quyền địa phương của Ireland (2006), The Referendum in Ireland (Trưng cầu dân ý tại Ai – len), (9), trang 2.

[9] Summary of Constitutional Referendums (Tổng quan về các cuộc trưng cầu dân ý Hiến pháp), Elections Ireland. Nguồn: http://www.electionsireland.org/results/referendum/summary.cfm. Retrieved 2010-04-20.

[10] TS. Nguyễn Thị Việt Hương (2006), Các hình thức lấy ý kiến có tính chất quyết định của nhân dân và những vấn đề thuộc đối tượng trưng cầu dân ý, tlđd, trang 10.

[11] Dân chủ trực tiếp – quyền trưng cầu dân ý của công dân về các vấn đề. Nguồn:

http://www.npsnet.com/cdd/common-3.htm

[12] Hoạt động trưng cầu dân ý của Liên bang Nga được quy định cụ thể tại Luật Liên bang về trưng cầu dân ý (thông qua năm 1995). Trưng cầu dân ý ở Liên bang Nga tiến hành trên toàn bộ lãnh thổ Nga theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông, tự do thể hiện ý chí và trực tiếp, bỏ phiếu kín. Mỗi công dân có một lá phiếu. Mọi công dân Nga tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý phải có đủ những điều kiện như thực hiện quyền bầu cử (đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi đầy đủ…).

[13] Sau khi Luật trưng cầu dân ý của Liên Xô được thông qua, các đạo luật trưng cầu dân ý được thông qua tại các nước cộng hòa liên bang khác như Armenia, Gruzia, Ukraine, Belorussia, Moldova. Một số nước cộng hòa tự trị thuộc Liên bang Nga cũng đã thông qua luật trưng cầu dân ý. Như vậy, trước đây Liên Xô cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác có trưng cầu ý kiến nhân dân, nhưng hầu như không có một nước nào thực hiện trên thực tế chế định trưng cầu dân ý. Hơn nữa, xuất phát từ quan niệm hiện đại về trưng cầu dân ý (nhân dân bỏ phiếu về vấn đề cụ thể và kết quả có hiệu lực pháp lý cao nhất và được thực hiện bắt buộc) thì chế định trưng cầu dân ý thực sự chưa có ở Liên Xô.

[14] PGS, TS. Đinh Ngọc Vượng, tlđd, tr 45.

[15] Hiến pháp Rumani năm 1938 đã thiết lập một thời gian ngắn của chế độ độc tài của hoàng gia. Một nội các mới nhậm chức vào ngày 12 tháng hai năm đó đã công bố ý định bổ nhiệm một ủy ban để soạn thảo một hiến pháp mới. Một văn bản mới được công bố vào ngày 21 tháng hai, một cuộc trưng cầu dân ý đã tiến hành sử dụng quyền biểu quyết bằng miệng trong tình trạng bị vây hãm, được tổ chức vào ngày 24 tháng 2, và ban hành bởi nhà vua ba ngày sau đó.

Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Human Rights, Luật Hiến pháp, Pháp luật hành chính Nhà nước, Đề tài hướng dẫn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: