LGBT: QUAN TÂM VẤN ĐỀ GÌ DƯỚI GÓC ĐỘ XÃ HỘI VÀ PHÁP LÝ?

Trương Hồng Quang (Bộ Tư pháp)

Tại ViệtNam hiện nay, thuật ngữ LGBT (viết tắt của các từ Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender, có nghĩa lần lượt là Đồng tính nữ, Đồng tính nam, Lưỡng tính, Chuyển giới) đã không còn quá xa lạ. Tuy nhiên, hình ảnh của cộng đồng LGBT và quan điểm, sự nhìn nhận của các tầng lớp xã hội đối với cộng đồng này dường như đang bị bóp méo dần, chưa phản ánh được những điểm tốt đẹp vốn có. Thực trạng này được thể hiện qua một số vấn đề sau đây:

Điều đầu tiên có thể đề cập là cách sử dụng từ ngữ khi nhắc đến LGBT chưa thực sự chính xác. Khá nhiều ý kiến thường xem “đồng tính” là giới tính thứ ba, cộng đồng người đồng tính là thế giới thứ ba. Thực chất, người đồng tính về mặt y học vẫn mang giới tính là nam/nữ và họ vẫn xem mình là nam/nữ nhưng chỉ yêu những người cùng giới tính với mình. Như vậy, sự khác biệt ở đây chính là xu hướng tính dục chứ đồng tính không phải là một giới tính khác. Đặc điểm này cũng là cơ sở để phân biệt người đồng tính với người chuyển giới (dù giới tính sinh học là nam/nữ nhưng lại cho rằng mình mang giới tính ngược lại). Tựu chung lại, về bản chất không hề có giới tính thứ ba nào cả, đơn giản chỉ khác nhau ở xu hướng tính dục và bản dạng giới. Bên cạnh đó, cách sử dụng từ “người bình thường” (dị tính) để phân biệt với người đồng tính, người chuyển giới,… cũng ít nhiều thể hiện sự không bình đẳng vì thực tế LGBT cũng là những người hoàn toàn tự nhiên, bình thường như những người dị tính khác. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy yếu tố bẩm sinh (quan trọng nhất) hoặc có thêm sự tác động của đời sống gia đình, xã hội,… chính là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính. Và bởi vậy, nếu nhìn nhận LGBT là những người bình thường sẽ đúng đắn hơn, nếu có khác cũng chỉ thể hiện ở chỗ họ là nhóm thiểu số trong xã hội.

Thứ hai, nhiều ý kiến cũng cho rằng đồng tính là bệnh hoạn, có thể được chữa trị bằng y học là một quan điểm sai lầm. Từ thế kỷ XIX trở về trước, nhiều quốc gia đã đưa đồng tính vào danh sách các bệnh về tâm thần. Quan niệm đồng tính luyến ái là rối loạn tâm lý là một quan niệm phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ XIX và sang đến một phần thế kỷ XX, và có lẽ nó lan truyền cùng với sự phổ biến của y học phương Tây[1]. Đến những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học đã khẳng định đồng tính luyến ái không phải là bệnh. Nhiều nước lần lượt loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, bắt đầu là Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào năm 1973. Đến năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới – cơ quan của Liên Hợp Quốc cố vấn chuyên môn cho các quốc gia về y tế đã chính thức loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần.

Thứ ba, có thể nhận thấy hiện nay ởViệtNamnhiều người rất ngại ngần khi nhắc đến LGBT, chưa có nhận thức đúng đắn về cộng đồng này. Hình ảnh của cộng đồng LGBT xuất hiện trên các phương tiện truyền thông thường gắn liền với các vụ án lừa tình, lừa tiền, tham gia các hoạt động ảnh hưởng đến an ninh trật tự; người đồng tính trong các bộ phim thường bị bóp méo/vô tình bóp méo rất nhiều… Chính vì vậy đã dẫn đến các quan điểm không ủng hộ, nhận thức sai lầm về cộng đồng LGBT, cho rằng LGBT đi ngược lại với truyền thống, đạo đức của một quốc gia phương Đông,…

Dưới góc độ bảo vệ quyền, khá nhiều cá nhân, các tổ chức thường lên tiếng đòi sự bình đẳng cho cộng đồng LGBT, mong muốn hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới,… Xét một cách công bằng, những nhu cầu này là hoàn toàn có cơ sở và thực sự chính đáng. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, trước hết chúng ta cần phải quan tâm giải quyết một số vấn đề khá quan trọng như sau:

Một là, cần phải thừa nhận nguyên tắc không được kỳ thị, phân biệt đối xử đối với các vấn đề liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới. LGBT là một trong những đối tượng của nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội và thường bị kỳ thị, phân biệt nhiều hơn so với các đối tượng dễ bị tổn thương khác. Nếu Hiến pháp, pháp luật đã thừa nhận, bảo vệ quyền, tránh sự phân biệt đối xử đối với các đối tượng như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật,… thì cũng cần phải ghi nhận nguyên tắc này đối với nhóm LGBT. Ở một mức độ nào đó, việc ghi nhận nguyên tắc không kỳ thị, phân biệt đối xử về xu hướng tính dục và bản dạng giới cũng sẽ góp phần thay đổi những quan niệm chưa đúng đắn về cộng đồng LGBT trong xã hội, đồng thời làm cơ sở rõ ràng cho việc luật hóa thành các quy định cụ thể.

Hai là, pháp luật cần thừa nhận cộng đồng LGBT, qua đó thừa nhận sự đa dạng về xu hướng tính dục cũng như bản dạng giới. Hiện nay, pháp luật không quy định cấm đồng tính, lưỡng tính hay không nhưng lại có quy định cấm việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính, nghĩa là cấm chuyển giới (Điều 4 của Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính). Việc bỏ ngỏ này của pháp luật đã dẫn đến người đồng tính, lưỡng tính khá lạc lõng trong đời sống xã hội, các vụ án liên quan đến hiếp dâm người chuyển giới (đã phẫu thuật chuyển từ nam thành nữ) nhưng khó xử tội hiếp dâm do về mặt giấy tờ họ vẫn mang giới tính nam do pháp luật chưa thừa nhận.

Ba là, một số bức xúc khác liên quan đến pháp luật hình sự cũng xuất hiện trong thời gian gần đây. Ví dụ như vấn đề mại dâm đồng tính. Theo Điều 3 của Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003 thì một trong những yếu tố cấu thành hành vi mại dâm là giao cấu. Trong đó “Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác” và “Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu”. Nhưng theo cách hiểu của các cơ quan chức năng hiện nay, giao cấu là hành vi quan hệ nam nữ có chức năng sinh sản, do đó quan hệ tình dục có trả tiền giữa hai người cùng giới chưa thể coi là mại dâm. Vì vậy, đối với hành vi mại dâm nam đồng giới được xem là không có hành vi giao cấu, các cơ quan chức năng không thể xử lý hình sự với người tổ chức môi giới và cũng không thể xử lý hành chính đối với người mua dâm, bán dâm.

Bốn là, cần bổ sung các chính sách bảo vệ đối tượng trẻ em là LGBT, nhất là trẻ em LGBT lang thang, cơ nhỡ,… Bản thân trẻ em đường phố đã khó bảo vệ, nếu là trẻ thuộc nhóm LGBT lại càng bị lạm dụng, kỳ thị hơn trong thực tế so với các đối tượng trẻ em khác. Theo chúng tôi, nên sửa đổi Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và các văn bản pháp luật có liên quan để góp phần bảo vệ nhóm đối tượng này, đáp ứng yêu cầu của thực tế đang đặt ra. Ví dụ như có thể xem trẻ em LGBT là một trong những đối tượng của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đặt ra các yêu cầu về chính sách, đối xử, tạo điều kiện trong đời sống xã hội,…

Năm là, Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và các văn bản pháp luật có liên quan không đề cập đến bạo lực gia đình đối với LGBT trong gia đình. Thực tiễn hiện nay có khá nhiều trường hợp cha mẹ kỳ thị, đánh đập, đối xử tệ bạc đối con cái nếu biết con của mình là đồng tính. Thậm chí có trường hợp thuê người về hiếp dâm con gái để chữa bệnh đồng tính cho con gái của mình. Đó là những vấn đề hết sức đáng báo động, cần phải có những bổ sung về mặt chính sách để bảo vệ người đồng tính, lưỡng tính hay chuyển giới ngay trong chính một gia đình – tế bào của xã hội. Nếu ngay chính người thân, họ hàng, gia đình không có thái độ thông cảm, thương yêu, động viên thì dễ làm cho con cái (là LGBT) rơi vào bế tắc trong tình cảm, cuộc sống, dẫn đến các hậu quả khó lường.

Một vấn đề cần quan tâm nữa là việc sống chung giữa những người cùng giới tính là một hiện tượng đã có ở ViệtNam, từ đó phát sinh các quan hệ về nhân thân, tài sản hoặc về con (ví dụ nhận con nuôi). Hiện nay pháp luật vẫn thiếu cơ chế để điều chỉnh các hậu quả phát sinh từ các quan hệ này. Thực tiễn xét xử ở Tòa án trong những năm qua đã có một số vụ án có tranh chấp tài sản giữa những người đồng tính có quan hệ sống chung nhưng chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết tranh chấp. Để giải quyết vấn đề này, có lẽ nên xem xét quy định vấn đề sống chung có đăng ký giữa những người cùng giới tính (cặp đôi dân sự, chưa phải là kết hôn) trong Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trên đây là một trong số các vấn đề mà chúng tôi cho rằng nên quan tâm giải quyết trong thời điểm hiện nay dưới góc độ pháp lý. Chính bản thân các vấn đề này sẽ làm nền tảng để cộng đồng LGBT có được một vị thế công bằng hơn trong xã hội, giải quyết các vấn nạn tiêu cực liên quan đến cộng đồng LGBT một cách hợp lý, theo đúng tinh thần tuân thủ pháp luật. Bên cạnh đó, chính bản thân người đồng tính, lưỡng tính, chuyển giới và các tổ chức có liên quan nên tích cực thể hiện những hình ảnh đẹp, đúng đắn hơn nữa để góp phần làm thay đổi các quan niệm sai lầm về LGBT. Nếu làm được những điều này, sẽ tạo điều kiện để có thể hướng đến các mục tiêu cao hơn của quyền LGBT như: sống chung có đăng ký (kết hợp dân sự), kết hôn đồng giới, quyền nhận con nuôi,…Vì vậy, phải nhận thức được rằng đây là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều bước khác nhau để đạt được sự đồng thuận cao về vấn đề quyền của cộng đồng LGBT./.


[1] Trương Hồng Quang (2012), Nhận thức về đồng tính và quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), (3), trang 28.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Human Rights, LGBT, Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Luật Hiến pháp, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: