Archive for Tháng Bảy 2012

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỰ DO TÔN GIÁO TẠI MỸ

Tháng Bảy 30, 2012

1. Sự phát triển của tôn giáo và quyền tự do tôn giáo ở Mỹ

Nơi lánh nạn tôn giáo và sự đa dạng về tôn giáo ở nước Mỹ thời kỳ lập quốc

Khó có thể hiểu thấu đáo về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ, nếu không nói tới tôn giáo nước Mỹ từ thời ập quốc[1]. Nước Mỹ chính là nơi lánh nạn tôn giáo. Quá trình vận động và phát triển của đất nước này vẫn giữ được một ý thức và là sự tiếp nối một loạt các giá trị truyền thống được hình thành từ thuở lập quốc và phản ánh chủ nghĩa đa nguyên, tư tưởng tự do, nhất là tự do tôn giáo của đất nước này [2].

Phong trào thức tỉnh và tôn giáo phục hưng ở Mỹ

Cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua hai lần đại thức tỉnh và tôn giáo phục hưng, Phong trào thức tỉnh và tôn giáo phục hưng lần thứ nhất (cuối những năm 1730 sang những năm 1740 và 1750) và Phong trào đại thức tỉnh và tôn giáo phục hưng lần thứ hai (Thập niên 90 của thế kỷ XVIII)

Quan hệ chính – giáo ở nước Mỹ

Điều sửa đổi thứ nhất Hiến pháp Mỹ qui định cơ quan lập pháp không được đặt ra luật pháp thiết lập tôn giáo hoặc hạn chế thực tiễn của nó. Đây chính là “hai phân câu” nổi tiếng (phân câu thiết lập và phân câu thực tiễn tự do), thể hiện nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp Mỹ về vấn đề tôn giáo: chính giáo phân ly và tự do tôn giáo. (more…)

Advertisements

Tản mạn

Tháng Bảy 29, 2012

Chúng ta đang tồn tại trong một xã hội hiện đại, ồn ào và tấp nập. Mỗi một ngày đi qua, cuộc sống mỗi hối hả, phức tạp hơn. Chúng ta-những con người hiện đại như bị lực hút vô hình nào đó cuốn vào dòng chảy cuộc sống ấy, chúng ta cứ mãi đua chen trong từng nhịp sống nhộn nhịp, có đôi lúc vô tình lướt qua nhau trên đường, chúng ta cũng chẳng kịp bận tâm đó là ai. Có lẽ vòng đời đã tôi luyện con người dần trở nên vô tâm như thế, chúng ta chỉ biết sống cho mình, thỏa mãn những khát khao danh vọng đề ra và rồi một lúc nào đó, con người trở thành nô lệ cho chính sự đòi hỏi của bản thân. Không biết có khi nào chúng ta chợt dừng lại để nhận ra rằng: Vẫn còn nhiều góc khuất khác nhau trong tính cách và số phận con người, những góc khuất luôn đòi hỏi thời gian, kiến thức và cả sự đồng cảm để cùng khám phá.

Câu chuyện về đồng tính là một ví dụ như thế, những người đồng tính vẫn thường được nhắc đến ở nhiều nơi, từ quán nước vỉa hè tới những nhà hàng sang trọng, từ miền Bắc đến tận phía Nam. Các câu chuyện về người đồng tính cũng xuất hiện khá nhiều trên báo chí, phim ảnh và truyền hình. Tưởng như đồng tính đã không còn là “chuyện xa lạ” như nhiều năm về trước, khi đất nước mới mở cửa, nhưng thực tế, những người đồng tính thật sự vẫn còn nỗi niềm suy tư khi xã hội Việt Nam hiện nay vẫn không cho họ cái quyền gọi là bình đẳng. Lẽ ra mọi người nên cảm thông và san sẻ với họ nhiều hơn thay vì ném cho họ những cái nhìn kỳ thị, vì họ là những con người bất hạnh, họ yêu mà không bao giờ được đáp lại, hy sinh mà không bao giờ được bù đắp, cũng như khao khát mà không bao giờ được thỏa mãn.

Đồng tính không phải là một tệ nạn như ma túy, thuốc lắc, mại dâm, AIDS…,vậy tại sao mọi người lại đồng hóa họ như những tệ nạn, đồng tính là bẩm sinh, họ không có quyền lựa chọn, cũng như không thể nào làm khác đi được, chẳng ai muốn lâm vào cảnh trớ trêu như thế. Phải chăng đã đến lúc, xã hội có cái nhìn thoáng hơn cho những thành viên mang xu hướng tính dục khác, và cho họ được quyền sống bình thường như bao nhiêu cá thể khác của cộng đồng loài người.

Thực chất, khi chúng ta nghiên cứu, đánh giá về quyền của người đồng tính sẽ không hề có ý nghĩa muốn cổ vũ cho một trào lưu mới mà nên được hiểu đây chính là thay tiếng nói cho những người đồng tính. Họ không có lỗi trước khuynh hướng giới tính của họ, họ cũng là những con người có đóng góp cho xã hội và cần được chấp nhận một cách bình đẳng, với sự cảm thông và khoan dung hơn của dân tộc Việt Nam.

CÁC XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Tháng Bảy 29, 2012

CÁC XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

ThS. Nguyễn Linh Giang – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ngày nay, quyền con người đã được thừa nhận một cách rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại. Tuy nhiên, để có được vị trí như hiện nay, quyền con người phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài với biết bao thăng trầm của lịch sử. Từ những tư tưởng sơ khai đầu tiên, khái niệm về quyền con người đã phát triển và không ngừng được mở rộng. Quyền con người thoạt tiên chỉ là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Ngày nay quyền con người còn bao gồm cả quyền phát triển, quyền được thông tin, quyền được sống trong môi trường trong sạch, quyền chăm sóc sức khỏe…

Như vậy, cũng giống như rất nhiều các lĩnh vực khoa học xã hội, quyền con người không phải là một khái niệm bất biến mà nó thay đổi, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nhìn lại quá trình phát triển của khái niệm quyền con người cũng như sự phát triển của các quyền con người, có thể thấy đã có rất nhiều thay đổi trong lĩnh vực này, gắn kết chặt chẽ với các sự kiện và những thay đổi quan trọng của con người.

  1. I.      Nhìn lại các xu hướng phát triển của quyền con người trong lịch sử

Quyền con người là một khái niệm mang tính chính trị, pháp lý và đã có một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại cho đến ngày nay, mặc dù các khái niệm, các quan điểm có nhiều thay đổi, nhưng có một giá trị bất biến và không thể thay đổi, đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng, đó là quyền con người là “quyền vốn có” và “không thể tách rời” đối với mỗi con người sinh ra trên trái đất này, không phân biệt họ là ai, sinh ra ở đâu, không phân biệt giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội.

Nguồn gốc của quyền con người trải dài từ truyền thống xa xưa của các quốc gia, các dân tộc. Thông qua quá trình phát triển, mỗi người đều có các quyền và nghĩa vụ thông qua tư cách thành viên trong một nhóm người, một gia đình, một dân tộc, một tôn giáo, một tầng lớp xã hội, một cộng đồng người, một Nhà nước. Mỗi xã hội đều có các quan điểm truyền thống, được xem là các quy tắc trong ứng xử giữa các thành viên trong xã hội. Kinh Vedas, Bộ luật Hammurabi, Kinh thánh, Kinh Koran và những tuyển tập của Khổng Tử được xem là những tư liệu cổ nhất đề cập đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người. Trong các bộ luật của người Inca và Aztec cổ cũng đã ghi nhận các nguyên tắc về công bằng. Thực tế ở mọi xã hội, mọi quốc gia, cho dù có được ghi nhận thành văn hay không thì đều có một hệ thống về cách ứng xử công bằng, đúng mực và tôn trọng lẫn nhau. (more…)

Một số kết quả nghiên cứu được công bố gần đây

Tháng Bảy 20, 2012

Trong thời gian qua một số kết quả nghiên cứu được công bố như sau:

Bài viết Tạp chí chuyên ngành:

1. Tác giả: Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 3/2012.

2. Đồng tác giả: Trường phái Kinh tế học Pháp luật và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5, tháng 3/2012.

3. Tác giả: Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 7/2012.

Sách tham khảo, chuyên khảo:

1. Tập thể tác giả: Về trường phái Kinh tế học Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012.

2. Tập thể tác giả: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển, Viết phần: “Bước đầu tìm hiểu vấn đề quyền được chết trong bối cảnh hiện nay”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012.

Trong thời gian đến dự kiến sẽ công bố tiếp 05 bài viết Tạp chí chuyên ngành và 06 cuốn sách.

CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI VÀ PHÁP LÝ VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Tháng Bảy 18, 2012

Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 6/2013. Dưới đây là phần Kết luận của bài viết.

——————-

Khi được sinh ra trong cõi đời này, không ai thể tự quyết định được cha mẹ mình là ai, cũng không thể tự quyết định được mình sẽ sinh ra trong một gia đình giàu sang hay nghèo khó, và xu hướng tình dục cũng vậy, chúng ta không thể tự quyết định được mình sẽ là dị tính hay đồng tính. Vì vậy đồng tính không đáng bị xem là một cái tội để bị dè bỉu, kỳ thị và xem thường. Pháp luật trước hết phải thay đổi được điều này để có thể đảm bảo được giá trị xã hội vốn có.

Phân biệt đối xử người đồng tính chính là phân biệt đối xử một ai đó là người chúng ta yêu thương và kính trọng[1]. Khi từ chối quyền của người đồng tính được chung sống, xây dựng mối quan hệ lâu dài và bền vững, quyền sở hữu tài sản chung, quyền thừa kế, quyền sinh con, quyền nhận con nuôi… chúng ta không những từ chối quyền con người của người đồng tính mà còn tạo ra nhiều vấn đề cho gia đình họ, cho cộng đồng và cho người dị tính. Nhiều người đồng tính không dám sống là chính mình vì kỳ thị xã hội và phân biệt đối xử trong luật pháp, họ lập gia đình với người dị tính để che dấu xu hướng tình dục của mình. Như vậy, nhiều người dị tính trở thành vợ hoặc chồng của người đồng tính. Đây có phải là một gia đình hạnh phúc không? Đây có phải là một kết cục tốt đẹp không? Không người dị tính nào muốn có bạn đời là người đồng tính cũng giống như không có người đồng tính nào muốn có bạn đời là người dị tính. Dị tính, đồng tính, song tính và chuyển đổi giới tính đều muốn và xứng đáng được sống là chính họ. Thừa nhận quyền của người đồng tính là một giải pháp hai bên cùng thắng cho cả người đồng tính và người dị tính. Bên cạnh đó, chính bản thân người đồng tính, song tính, chuyển giới và các tổ chức có liên quan nên tích cực thể hiện những hình ảnh đẹp, đúng đắn hơn nữa để góp phần làm thay đổi các quan niệm sai lầm về LGBT. Nếu làm được những điều này, sẽ tạo điều kiện để có thể hướng đến các mục tiêu cao hơn của quyền LGBT như: sống chung có đăng ký (kết hợp dân sự), kết hôn đồng giới, quyền nhận con nuôi,… Vì vậy, phải nhận thức được rằng đây là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều bước khác nhau để đạt được sự đồng thuận cao về vấn đề quyền của cộng đồng LGBT


BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH SẼ ĐẢM BẢO GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA PHÁP LUẬT

Tháng Bảy 14, 2012

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH SẼ ĐẢM BẢO GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA PHÁP LUẬT

Nguyễn Sơn Hà – Đại học Luật Hà Nội

Quyền của người đồng tính, đặc biệt là hôn nhân đồng tính là vấn đề đang được quan tâm rất nhiều trong thời gian gần đây trên các phương tiện truyền thông. Hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau từ các góc độ cơ quan Nhà nước, các luật sư, nhà xã hội học hay các tổ chức dân sự tại Việt Nam. Bài viết sau đây chúng tôi xin giới thiệu phần phỏng vấn anh Trương Hồng Quang – nghiên cứu viên của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), một người đã có khá nhiều nghiên cứu về quyền và pháp luật bảo vệ quyền của người đồng tính thời gian qua.

Hỏi: Chào anh, được biết anh có khá nhiều bài viết về nhóm các đối tượng LGBT (người đồng tính, lưỡng tính, chuyển giới), đặc biệt là nhóm người đồng tính. Nguyên nhân nào khiến anh có mối quan tâm đặc biệt với chủ đề này như vậy?

Trả lời:

Chào bạn. Công việc chính của tôi là làm nghiên cứu và hiện nay tôi đang quan tâm đến hướng nghiên cứu về nhân quyền, cụ thể là nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Vấn đề quyền của người đồng tính trong mấy năm gần đây đang dần được quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau. Với công việc của mình tôi rất muốn được đóng góp dưới góc độ pháp lý, thúc đẩy việc hoàn thiện các quy định về quyền của người đồng tính.

Trên phương diện khoa học người đồng tính được xem như một người bình thường nhưng thực tế cuộc sống lại đặt người đồng tính vào những nguy cơ bị xâm hại, đe dọa xâm hại đến đời sống của họ xuất phát từ các thái độ tiêu cực của xã hội. Những định kiến, kỳ thị nêu trên tạo ra sự uy hiếp và đối xử không công bằng với bộ phận người đồng tính trong xã hội – một nhóm người yếu thế, đang chịu những tổn thương nhất định trong việc hòa nhập với cuộc sống thật của mình và với cộng đồng người nói chung. Sự tồn tại của người đồng tính trong xã hội với những khó khăn, thử thách mà họ đang chịu đựng sẽ là những căn cứ quan trọng để đưa ra kiến nghị về việc thừa nhận các quyền cho người đồng tính tại ViệtNamtrong thời gian sắp đến. (more…)

ĐTM trong xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật

Tháng Bảy 9, 2012

VAI TRÒ CỦA ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trương Hồng Quang*

 (Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 15 (527), kỳ 1 tháng 8/2012)

Trong những năm gần đây, Nhà nước ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường, phát triển bền vững và cải tiến phương thức quản lý phát triển sao cho hài hòa với lợi ích môi trường. Cùng với sự quan tâm đó là sự ra đời của các quy phạm pháp luật mới nhằm giải quyết mối xung đột giữa nhu cầu bảo vệ môi trường với sự phát triển. Ðánh giá tác động môi trường là một ví dụ quan trọng về một trong những nỗ lực đó. Đánh giá tác động pháp luật nói chung và đánh giá tác động môi trường nói riêng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một trong những nội dung mới được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 (gọi tắt là Luật năm 2008). Đây là một cuộc cải cách pháp lý quan trọng trong lĩnh vực lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố nền pháp trị, nâng cao vai trò hoạch định chính sách của Quốc hội và thực hiện chính sách của các Bộ, ngành cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp và công dân, đáp ứng yêu cầu mang tính khách quan, nhằm khắc phục những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn soạn thảo, ban hành VBQPPL. Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng và nhiều biến động trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy, nhiều dự án phát triển chỉ mới đạt được được mục tiêu về kinh tế mà chưa đi đôi với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên như định hướng đã đề ra. Vì vậy, yêu cầu đánh giá tác động môi trường không chỉ dừng lại ở hoạt động tuân theo quy định của pháp luật mà còn đòi hỏi đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng VBQPPL. Bài viết sau đây sẽ làm rõ tầm quan trọng của việc áp dụng tốt quy định của pháp luật về đánh giá tác động môi trường vào hoạt động xây dựng VBQPPL.

1. Thế nào là đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng VBQPPL?

Hiện nay, trên thế giới, có rất nhiều quan điểm về đánh giá tác động môi trường nhưng hầu hết quan điểm đều cho rằng cần phải “phát hiện và dự tính những tác động môi trường cũng như đối với sức khỏe và sự thịnh vượng của con người, của các đề xuất, các chính sách, các chương trình dự án, quy trình hoạt động và cần phải chuyển giao và công bố những thông tin về tác động đó”[1]. Quan điểm khác của Cục môi trường Anh (định nghĩa hẹp) lại cho rằng “đánh giá tác động môi trường chỉ là một kỹ thuật và một quy trình giúp các chuyên gia phát triển, tập hợp những thông tin về ảnh hưởng đối với môi trường của một dự án và thông tin này sẽ được nhà quản lý quy hoạch sử dụng để đưa ra những quyết định về phương hướng”[2]. (more…)