CÁC XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

CÁC XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

ThS. Nguyễn Linh Giang – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ngày nay, quyền con người đã được thừa nhận một cách rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại. Tuy nhiên, để có được vị trí như hiện nay, quyền con người phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài với biết bao thăng trầm của lịch sử. Từ những tư tưởng sơ khai đầu tiên, khái niệm về quyền con người đã phát triển và không ngừng được mở rộng. Quyền con người thoạt tiên chỉ là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Ngày nay quyền con người còn bao gồm cả quyền phát triển, quyền được thông tin, quyền được sống trong môi trường trong sạch, quyền chăm sóc sức khỏe…

Như vậy, cũng giống như rất nhiều các lĩnh vực khoa học xã hội, quyền con người không phải là một khái niệm bất biến mà nó thay đổi, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nhìn lại quá trình phát triển của khái niệm quyền con người cũng như sự phát triển của các quyền con người, có thể thấy đã có rất nhiều thay đổi trong lĩnh vực này, gắn kết chặt chẽ với các sự kiện và những thay đổi quan trọng của con người.

  1. I.      Nhìn lại các xu hướng phát triển của quyền con người trong lịch sử

Quyền con người là một khái niệm mang tính chính trị, pháp lý và đã có một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại cho đến ngày nay, mặc dù các khái niệm, các quan điểm có nhiều thay đổi, nhưng có một giá trị bất biến và không thể thay đổi, đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng, đó là quyền con người là “quyền vốn có” và “không thể tách rời” đối với mỗi con người sinh ra trên trái đất này, không phân biệt họ là ai, sinh ra ở đâu, không phân biệt giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội.

Nguồn gốc của quyền con người trải dài từ truyền thống xa xưa của các quốc gia, các dân tộc. Thông qua quá trình phát triển, mỗi người đều có các quyền và nghĩa vụ thông qua tư cách thành viên trong một nhóm người, một gia đình, một dân tộc, một tôn giáo, một tầng lớp xã hội, một cộng đồng người, một Nhà nước. Mỗi xã hội đều có các quan điểm truyền thống, được xem là các quy tắc trong ứng xử giữa các thành viên trong xã hội. Kinh Vedas, Bộ luật Hammurabi, Kinh thánh, Kinh Koran và những tuyển tập của Khổng Tử được xem là những tư liệu cổ nhất đề cập đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người. Trong các bộ luật của người Inca và Aztec cổ cũng đã ghi nhận các nguyên tắc về công bằng. Thực tế ở mọi xã hội, mọi quốc gia, cho dù có được ghi nhận thành văn hay không thì đều có một hệ thống về cách ứng xử công bằng, đúng mực và tôn trọng lẫn nhau.

Các văn bản ghi nhận các quyền cá nhân như Magna Carta (1215), Luật về các quyền của Anh (1689), Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789) và Hiến Pháp Mỹ năm 1791 là những văn kiện tạo cảm hứng cho phần lớn các văn kiện về quyền con người ngày nay. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, các khái niệm cũng như các tuyên bố về quyền con người mới chỉ được giới hạn trong phạm vi các quốc gia và chưa mang tính quốc tế.

Đầu thế kỷ XX, trong giai đoạn có các cuộc chiến tranh thế giới, những hình phạt về tinh thần và thể xác con người đã xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, và đó được xem là những hình phạt nghiêm trọng trong lịch sử loài người. Chính vì vậy mà một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng thế giới là sự tôn trọng phẩm giá của con người, phải bảo vệ và phát huy quyền con người. Từ đó đã nảy sinh ra nhu cầu cần phải có sự bảo vệ về quyền con người trên phạm vi toàn thế giới. Các văn bản pháp luật về quyền con người hiện đại của Liên hợp quốc cũng bắt nguồn từ lịch sử. Những cố gắng trong thế kỷ XIX để ngăn chặn nạn buôn bán nô lệ và để hạn chế sự tàn khốc của chiến tranh đã làm cơ sở cho sự ra đời của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) năm 1919. Từ đó, các văn kiện bảo vệ người lao động với sự tôn trọng quyền của họ cũng như đảm bảo an toàn lao động và sức khỏe của họ đã được thông qua. Kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất, với sự ra đời của Hội quốc liên, cho dù tổ chức này không bao giờ đạt được mục đích hoạt động của mình, cũng đã ghi dấu ấn trong lịch sử về những cố gắng về bảo vệ quyền con người.

Các ý tưởng về quyền con người đã trở nên phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết sau chiến tranh thế giới thứ II. Sự thảm sát hơn 6 triệu người Do Thái, người Sinti, người Gypsy, người đồng tính và những người tàn tật trong chiến tranh thế giới thứ II đã làm cả thế giới bàng hoàng và khiếp sợ. Các phiên tòa đã được tổ chức ở Nuremberg và Tokyo để kết án những tội phạm chiến tranh, những kẻ “chống lại hòa bình” và “chống lại loài người”. Vì thế mà các quốc gia đã thống nhất thành lập nên Liên hợp quốc với mục tiêu chính là giữ gìn hòa bình thế giới và ngăn chặn các xung đột. Tất cả mọi người đều mong muốn rằng sẽ không bao giờ còn xảy ra tình trạng con người bị từ chối các quyền được sống, quyền tự do, quyền có thức ăn, nơi ở, quyền có quốc tịch…

Sự ra đời của Liên hợp quốc đã trở thành một dấu ấn quan trọng trong lịch sử phát triển của nhân loại. Cùng với sự ra đời của tổ chức này, các quy định về nhân quyền đã được hình thành và gắn liền với quá trình phát triển của phần lớn các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc, hàng trăm các văn kiện quốc tế về quyền con người đã được soạn thảo và được thông qua trong suốt hơn 60 năm qua.

Như vậy, có thể thấy rõ ràng là sự phát triển của quyền con người trong lịch sử gắn chặt với các sự phát triển của xã hội. Từ những đòi hỏi của quyền cá nhân, quyền con người đã trở thành quyền của cộng đồng, của xã hội, từ những đòi hỏi của từng quốc gia, quyền con người đã trở thành những đòi hỏi mang tính quốc tế. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của kinh tế… đã kéo theo những đòi hỏi ngày càng cao về quyền con người, và từ đó các khái niệm về quyền con người ngày càng mở rộng.

Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học, trong đó có sự phát triển của công nghệ sinh học, công nghệ thông tin… cùng với quá trình toàn cầu hóa, mỗi con người đều đã trở thành “công dân toàn cầu”, thì quyền con người đã và đang xuất hiện các xu hướng phát triển mới, gắn liền với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người.

  1. II.   Các xu hướng mới về quyền con người
  2. 1.  Quyền con người và phát triển bền vững

Con người là trung tâm của mọi sự phát triển. Nếu như trước đây, người ta chỉ đặt ra vấn đề về quyền được phát triển hay phát triển dựa trên quyền, thì hiện nay vấn đề quyền con người và phát triển bền vững lại được nhắc đến nhiều trong các diễn đàn về quyền con người. Sự phát triển bền vững trên các lĩnh vực của đời sống là tiền đề cho sự phát triển về quyền con người, đồng thời, bảo đảm quyền con người cũng là tiền đề quan trọng để phát triển bền vững mọi mặt.

– Quyền con người và phát triển bền vững về môi trường. Nếu như giai đoạn trước, người ta thường chỉ nhắc đến quyền được sống trong môi trường trong lành của con người, thì ngày nay, đứng trước các vấn đề về biến đổi khí hậu, việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, quyền được tham gia vào các quyết định về môi trường… đã trở thành vấn đề thường trực hàng ngày của mỗi đất nước, mỗi cộng đồng xã hội. Đồng thời, phát triển bền vững về môi trường còn để đảm bảo quyền “công bằng giữa các thế hệ” – một quyền được nhắc đến thường xuyên trong thời gian gần đây. Đó không chỉ là quyền của những người đang sống, mà đó là quyền cho thế hệ mai sau, những người còn chưa xuất hiện trên trái đất này nhưng họ cũng có quyền được hưởng những nguồn tài nguyên không phải là vô tận của trái đất. Quyền công bằng giữa các thế hệ đặt ra vấn đề của những người đang sống hiện nay phải “cư xử” và khai thác thiên nhiên như thế nào để đảm bảo quyền công bằng với thế hệ tương lai.

– Quyền con người và phát triển bền vững về văn hóa. Trong một thế giới phẳng, với nỗ lực “hòa nhập nhưng không hòa tan” đã đặt mỗi con người, mỗi cộng đồng người, mỗi quốc gia, mỗi khu vực trong quá trình phát triển nhưng vẫn giữ vững những nét đặc trưng về văn hóa, bảo vệ bền vững các giá trị văn hóa với bảo vệ quyền con người. Đồng thời, phát triển bền vững về văn hóa gắn với quyền con người phải được gắn với bình đẳng giới; gìn giữ, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống; gìn giữ ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc thiểu số…

–  Quyền con người và phát triển bền vững về kinh tế. Phát triển kinh tế cũng là để đảm bảo phát triển quyền con người. Hơn nữa, phát triển kinh tế cũng là để tạo tiền đề để thực hiện quyền con người trong các lĩnh vực khác nhau, không chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế. Vì thế, quyền con người luôn gắn với sự phát triển bền vững về kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực như: xóa đói giảm nghèo, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thực hiện an sinh xã hội, xây dựng Nhà nước phúc lợi (Welfare State)…

Có thể thấy, việc gắn quyền con người với việc phát triển bền vững mọi mặt của đời sống xã hội đã trở thành một xu thế tất yếu hiện nay. Chính vì thế, tại nhiều nước trên thế giới các chiến lược phát triển con người, quyền con người luôn được gắn với các chiến lược phát triển bền vững kinh tế, xã hội.

  1. 2.     Quyền con người gắn với sự phát triển của khoa học kỹ thuật

2.1. Với sự phát triển của internet

Có thể nói, chưa bao giờ Internet lại có thể tác động mạnh mẽ đến đời sống của con người đến như hiện nay. Chỉ bằng một động tác click chuột mà mọi người ở khắp nơi trên thế giới đã có thể kết nối với nhau. Cuộc cách mạng về công nghệ số đã khiến cho quyền con người có những hình thức mới. Các phương tiện truyền thông và công nghệ mới đã góp phần vào bảo vệ quyền con người, đến với những người chưa được bảo vệ, nhưng đồng thời các phương tiện này cũng trở thành nguy cơ đe doạ đến quyền con người nếu nó không được quản lý tốt. Dựa vào công nghệ truyền thông, nhiều hoạt động của các Chính phủ, của khu vực tư nhân hoặc của các tổ chức khác có khả năng được thực hiện và mở rộng tầm ảnh hưởng. Tuy nhiên, những hoạt động đó có thể được thực hiện trong sự thiếu hiểu biết về các tiêu chuẩn quyền con người.

Nhìn từ mặt tích cực của Internet, chúng ta có thể nhận thấy Internet đã có những đóng góp rất tích cực cho các phong trào nhân quyền trên thế giới, tăng cường giáo dục về quyền con người cho người dân ở khắp nơi trên thế giới, đồng thời nhờ có Internet mà quyền tiếp cận thông tin của người dân được mở rộng hơn, đỡ mất thời gian, công sức và tiền bạc hơn.

Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng Internet đã đặt ra cho các nhà quản lý những vấn đề nhạy cảm và rất khó giải quyết. Chẳng hạn, chỉ sau 5 năm thành lập, facebook đã trở thành mạng xã hội thành công nhất thế giới với 500 triệu tài khoản được mở (con số thống kế năm 2010)[1]. Vì thế, cũng không lạ khi thời gian vừa qua nhiều cuộc biểu tình, tuần hành lớn tại nhiều nơi trên thế giới đã gắn với cộng đồng của mạng xã hội này. Cũng chính vì thế mà tại nhiều nơi, các nhà cầm quyền đã không ngần ngại ngăn chặn mạng xã hội này và coi đó như là mối đe dọa với ổn định chính trị. Điều này cũng đặt ra những câu hỏi lớn về quyền con người, quyền tự do thông tin, hội họp (cho dù là trên mạng) của người dân.

Với sự mở rộng của Internet, các vấn đề nhạy cảm đã không còn là của riêng ai mà nó đã được mang lên mạng, “mổ xẻ”, bình luận và thậm chí gây áp lực cho các đối tượng có liên quan. Chưa bao giờ đời sống riêng tư của con người, đặc biệt là của những người nổi tiếng lại dễ bị xâm phạm đến như bây giờ. Thậm chí trên nhiều trang web, người ta còn lập ra cả các forum chuyên chỉ để bình luận về hình thức cũng như đời sống riêng tư của người khác với lời lẽ đôi khi là xúc phạm và bôi nhọ danh dự. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có những vụ án hình sự cũng như dân sự liên quan đến lĩnh vực này. Việc thời gian vừa qua, đã xảy ra hàng loạt các vụ tử tự của các ngôi sao trong giới giải trí ở Hàn Quốc do liên quan đến các tin đồn trên mạng, đã đặt ra không chỉ cho Chính phủ nước này mà còn cả các nước khác, trong đó có Việt Nam về nhu cầu nghiên cứu việc quản lý các nguy cơ và đối phó với các tin đồn trên mạng Internet.

Do vậy, việc phát triển của Internet đã đặt ra cho chúng ta rất nhiều vấn đề liên quan đến quyền con người như tự do thông tin, quyền bảo vệ đời sống riêng tư, cũng như đặt ra cho các nhà quản lý một bài toán về việc quản lý các blog, mạng xã hội, quản lý các vấn đề phát sinh trên mạng như thế nào để vừa đảm bảo mục tiêu quản lý nhưng vẫn đảm bảo tôn trọng cao nhất các chuẩn mực về quyền con người.

2.2. Với sự phát triển của y học

– Quyền nhờ/ thuê người mang thai

Cùng với sự phát triển của y học, đặc biệt là trong lĩnh vực thụ tinh nhân tạo, ngày nay, rất nhiều người đã có thể thực hiện ước mơ được làm cha mẹ khi điều kiện sức khỏe của họ không cho phép. Tuy nhiên, thành tựu y học này cũng đã kéo theo một vấn đề có liên quan đến quyền con người, đó là quyền được nhờ hoặc thuê người mang thai hộ.

Đã từ lâu, tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, “nghề” đẻ thuê đã ra đời và tồn tại. Đặc biệt, tại một số nước như Ấn Độ thì việc đẻ thuê đã trở thành một nghề hợp pháp và thu được nhiều ngoại tệ. Nhưng đồng thời, tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam thì vấn đề này vẫn là một câu hỏi khó có đáp án. Việc 14 cô gái Việt Nam được giải thoát khỏi đường dây đẻ thuê tại Thái Lan đã cho thấy vấn đề này đã trở thành vấn đề mang tính quốc tế, chứ không phải là chuyện riêng của mỗi nước.

Thực tiễn pháp luật tại nhiều nước trên thế giới cho thấy, nhiều nước đã coi đẻ thuê là một nghề  hợp pháp, trong khi một số nước khác nghiêm cấm gắt gao và xử phạt nặng hành vi này.

Vào những năm 1980, hình thức đẻ thuê thương mại được liệt vào một dạng tội phạm ở Australia. Song đến nay, hầu hết các tiểu bang tại Australia lại cho phép phụ nữ sinh con thuê và được nhận “những chi phí hợp lý”, theo đó mỗi lần sinh con thuê, người mẹ được thuê có thể nhận khoảng 50.000 USD. Dịch vụ mang thai thuê bắt đầu phát triển ở Ấn Độ vào đầu thập kỷ 1990. Đến năm 2002, Ấn Độ hợp pháp hóa chuyện mang thai hộ mang tính thương mại để thúc đẩy du lịch y tế, ngành mà Hiệp hội Công nghiệp Ấn Độ dự đoán mỗi năm đem về cho nước này 2.3 tỉ USD tính tới năm 2012. Nga, Ukraina cũng nằm trong số những nước cho phép phụ nữ được mang thai hộ có trả tiền. Trong khi đó Đài Loan, Hungary, Italia, Nhật Bản, Ả rập Xê Út, Anh, New Zealand… cũng không cho phép đẻ thuê[2].

Tại Việt Nam, trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/2003/NĐ- CP ngày 12/2/2003 đề cập đến quyền sinh con theo phương pháp khoa học và nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Tuy nhiên, việc thuê người mang thai hộ vẫn đang ngày càng phát triển, và dường như “thị trường” này lúc nào cũng “nóng”.

Có thể nói, vấn đề này đã đặt ra một số điểm khó giải quyết liên quan đến quyền con người. Một mặt, đó là quyền của những người mong muốn có con nhưng vì lý do sức khỏe mà không thể mang thai và sinh con bình thường. Mặt khác đó cũng là quyền của những người được nhờ hoặc thuê mang thai hộ. Đồng thời, cũng phải chống lại các trường hợp có sức khỏe bình thường để mang thai nhưng vì lý do nào đó mà họ dùng tiền để thuê người mang thai hộ cho mình.

Nhiều ý kiến cho rằng không thể coi dịch vụ đẻ thuê là một dịch vụ bình thường. Dù lý do kinh tế đã được mang ra để biện minh cho hành vi này thì việc làm này cũng làm tổn thương đến đạo đức xã hội[3].

– Quyền được chuyển đổi giới tính

Một lần nữa, sự phát triển của y học lại đặt ra một vấn đề liên quan đến quyền con người, đó là quyền xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính. Hiện nay, vẫn chưa có những nghiên cứu và điều tra xã hội học về nhu cầu xác định lại giới tính hoặc phẫu thuật chuyển đổi giới tính của một số người ở Việt Nam rói riêng và trên thế giới nói chung. Nhưng cho dù con số này có không lớn lắm thì cũng không thể chối cãi được rằng đây là một vấn đề cần được quan tâm và đã làm “nóng” nghị trường của nhiều nước và cả ở Việt Nam trong thời gian gần đây.

Thực tế ở Việt Nam gần đây đã cho thấy nhu cầu được xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính đã trở thành vấn đề mà xã hội quan tâm và bình luận. Đứng ở khía cạnh quyền con người, việc xác định lại giới tính là việc nên làm và cần phải làm để bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình. Tuy nhiên, rất nhiều người sau khi chuyển đổi giới tính đã gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, không kể đến những tổn thương tâm lý mà họ gặp phải do sự kỳ thị của mọi người[4], thì các giao dịch hàng ngày mà cần đến giấy tờ tùy thân cũng đã khiến họ gặp không ít rắc rối.

Hiện nay, pháp luật nhiều nước đã có các quy định về việc xác định lại giới tính. Ở Việt Nam Nghị định 88/2008/NĐ-CP đã có quy định việc xác định giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác và Nghị định cấm thực hiện chuyển đổi giới tính đối với các trường hợp đã hoàn thiện về giới tính.

Vấn đề đặt ra hiện nay không phải là việc có cho phép việc chuyển đổi giới tính và xác định lại giới tính hay không, mà các quốc gia, trong đó có Việt Nam cần phải hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến vấn đề này để đảm bảo quyền cho những người chuyển đổi giới tính, nhưng cũng ngăn chặn được hiện tượng “lầm tưởng” về tâm lý hoặc chỉ chuyển đổi giới tính theo sở thích, lối sống hoặc vì mục đích nào đó[5].

  1. 3.  Quyền của các đối tượng dễ bị tổn thương

Trước đây, nếu như nói đến quyền của các đối tượng dễ bị tổn thương, người ta thường nghĩ tới vấn đề quyền của phụ nữ và trẻ em. Nhưng hiện nay, chúng ta đã có thể yên tâm phần nào khi nói  tới các vấn đề về quyền của phụ nữ và trẻ em vì các đối tượng này đã và đang tiếp tục nhận được sự quan tâm của cộng đồng thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực bình đẳng giới, mở rộng quyền tham gia của phụ nữ vào chính trị và quyền được chăm sóc và giáo dục của trẻ em. Còn với xu hướng hiện nay, khi nhắc đến quyền của các đối tượng dễ bị tổn thương thì đã xuất hiện một số đối tượng mới, đó là người đồng tính, người cao tuổi, người tàn tật và những người lao động di trú.

3.1. Quyền của người đồng tính

Mặc dù chưa có thống kê chính xác về số người đồng tính hiện nay trên thế giới, nhưng theo một nghiên cứu gần đây của Gallagher và Baker tiến hành tại bang Massachusetts – Mỹ thì ước tính có khoảng 2,3% đàn ông và 1,3% phụ nữ là người đồng tính[6]. Như vậy, đây là một con số không nhỏ và không ai có thể phủ nhận được là có một bộ phận những người này trong từng cộng đồng người. Khoa học cũng đã chứng minh rằng đây là hiện tượng có thể xảy ra trong thế giới tự nhiên và cả trong xã hội loài người.

Mặc dù quan điểm của xã hội đối với hiện tượng người đồng tính vẫn còn rất khác nhau và chủ yếu là chống lại hiện tượng này, cho rằng đó là bệnh hoạn, bệnh tâm lý hay là trái tự nhiên. Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận rằng đã đến lúc cần phải quan tâm đến những quyền con người cơ bản của những người đồng tính. Đó là các quyền không bị phân biệt đối xử, quyền được chuyển đổi giới tính, quyền được kết hôn như những người bình thường và quyền được làm việc, được tham gia vào các hoạt động xã hội[7].

Thực tế, để có được quyền không bị phân biệt đối xử, quyền được tham gia vào các hoạt động xã hội cho người đồng tính sẽ là một chặng đường dài vì cần phải thay đổi quan niệm đạo đức xã hội và cần có được sự cảm thông thật sự của xã hội. Nhưng bằng các công cụ pháp lý, các nhà nước hoàn toàn có thể đảm bảo được quyền chuyển đổi giới tính, quyền làm việc và quyền được kết hôn của người đồng tính.

Về quyền được chuyển đổi giới tính, bài viết đã đề cập ở trên. Liên quan đến quyền được làm việc, cần phải có chế tài đối với người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với người đồng tính. Ở đây, xin được tập trung vào phân tích quyền được kết hôn của người đồng tính.

Ở Việt Nam hiện nay, luật hôn nhân và gia đình cấm hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên, thực tế là ở Việt Nam đã có các đám cưới đồng tính diễn ra. Đám cưới đồng tính được xem là đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức vào tháng 4 năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh giữa hai nam giới. Tháng 3 năm 1998, một đám cưới đồng tính nữ đã được tổ chức ở Vĩnh Long, hai người này đã xin làm giấy đăng ký kết hôn nhưng không được chấp nhận. Và gần đây nhất, đám cưới của hai cô gái 19 tuổi ở Hà Nội đã gây ra rất nhiều tranh luận với các luồng ý kiến trái chiều về vấn đề này. Có thể thấy, mặc dù pháp luật chưa cho phép nhưng cũng không thể phủ nhận nhu cầu tình cảm và kết hôn của người đồng tính. Và vấn đề quyền kết hôn của người đồng tính vẫn còn đang là vẫn đề tranh luận tại nhiều nơi trên thế giới.

Nếu như trước đây, đồng tính luyến ái bị xem là phạm pháp, thì từ vài chục năm gần đây ở châu Âu và châu Mỹ, nhiều quy định cấm đoán quan hệ đồng tính đã bị bãi bỏ. Quan trọng nhất, năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa kỳ đã đưa đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các rối loạn tâm thần, và từ đó nhiều quốc gia khác đã đưa ra các quy định cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cư trú và dịch vụ. Tuy nhiên, vấn đề kết hôn của người đồng tính vẫn là một “câu hỏi khó” với các nhà lập pháp ở khắp nơi trên thế giới.

Vào năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận hôn nhân đồng giới. Tiếp sau đó, 9 quốc gia khác như Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Na Uy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Iceland và Argentina lần lượt thừa nhận hôn nhân của những người đồng tính. Ngoài ra, thủ đô Mexico city (Mexico) và một số tiểu bang tại Mỹ như Massachusetts, Iowa, Connecticut, Vermont, New Hampshire cũng cho phép hôn nhân đồng giới. Ở một vài quốc gia khác, người đồng tính có thể sống với nhau theo tình trạng kết hợp dân sự và họ được hưởng quyền lợi ngang bằng như các đôi vợ chồng khác giới. Đan Mạch là nơi đầu tiên có đạo luật này năm 1989, tiếp đến là Pháp, Đức, Anh.

Nữ Thủ tướng Johanna Sigurdardottir của Iceland trở thành lãnh đạo đầu tiên trên thế giới công khai mình đồng tính. Bà kết hôn với người bạn lâu năm – nhà văn Jonina Leosdottir. MC nổi tiếng người Mỹ Ellen DeGeneres đã kết hôn với người tình đồng giới là nữ diễn viên Portia de Rossi; Ca sĩ Elton John lấy người bạn trai lâu năm David Furnish[8].

Như vậy, đã có sự phát triển về việc pháp điển hóa quyền được kết hôn đồng giới trên thế giới. Tuy nhiên, có vẻ các xã hội Á châu không ủng hộ quan điểm này và chưa có nước nào ở châu Á có quy định ủng hộ vấn đề này. Điều này, dường như trái quá nhiều với quan điểm đạo đức của các nước này. Tuy nhiên, nên nhìn nhận vấn đề này với góc độ khoa học và cũng phải thấy rằng việc cho phép người đồng tính kết hôn cũng không ảnh hưởng gì đến môi trường chính trị, kinh tế và nếu con người sinh ra vốn được và cần được tôn trọng tự do cá nhân thì quyền tự do kết hôn (cho dù là giữa những người đồng giới) cũng cần được tôn trọng. Hơn nữa, việc cho phép những người đồng tính kết hôn cũng có thể giúp Nhà nước bảo vệ tốt hơn quyền của những đối tượng này bằng công cụ pháp luật, vì nếu không cho phép họ vẫn cố tình chung sống với nhau, và khi có mâu thuẫn xảy ra thì quyền của các bên lại không được bảo đảm bằng pháp luật, như vậy còn nguy hiểm hơn. Nhưng đồng thời cũng cần tính đến các yếu tố tâm lý xã hội khác để tránh gây “sốc” khi các văn bản luật có liên quan được thông qua.

3.2. Quyền của người cao tuổi

Ngày nay, dân số thế giới đang già đi, tỉ lệ người lớn tuổi trong cơ cấu dân số của toàn thế giới đang tăng, điều này đặt ra một thực tế là cần phải quan tâm ngày một nhiều hơn đến các quyền của đối tượng này. Hiện nay, theo ước tính, có gần 20% người cao tuổi trên toàn thế giới được hưởng tiền trợ cấp. Điều này có nghĩa là có khoảng 607 triệu người tuổi từ 60 trở lên thiếu sự đảm bảo về thu nhập[9]. Nhiều người cao tuổi vẫn phải làm các công việc nặng nhọc để kiếm sống, nhiều người bị bỏ rơi trong các nhà dưỡng lão thiếu các tiện nghi chăm sóc cá nhân. Thậm chí, tại nhiều nơi cũng không có nhà dưỡng lão để đảm bảo chăm sóc đối tượng người cao tuổi và nhiều người cao tuổi vẫn phải sống trong tình trạng không nhà cửa, lang thang kiếm sống.

Trước tình hình, ở nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới, vai trò của người cao tuổi đã không được nhìn nhận đúng đắn và được quan tâm. Đồng thời người cao tuổi cũng là những đối tượng dễ bị tổn thương do vấn đề về sức khỏe và thu nhập. Nhiều nước cũng đã có những đề xuất sửa đổi pháp luật nhằm bảo vệ quyền của người cao tuổi, xác định rõ hơn rằng những người trẻ tuổi phải có bổn phận thăm nom và chăm sóc cho cha mẹ mình.

Để giải quyết các vấn đề của người cao tuổi ở tầm quốc tế, ngày 19/11/2010 vừa qua, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết thành lập một nhóm công tác để giải quyết các vấn đề quyền của người cao tuổi. Đây là bước đi có ý nghĩa quan trọng hướng tới việc đảm bảo quyền của người cao tuổi trên toàn thế giới. Đồng thời, nhân ngày quốc tế người cao tuổi 1/10/2010, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki – Moon đã kêu gọi chính phủ các nước tăng cường các biện pháp hỗ trợ cho người cao tuổi.Ông Ban Ki-moon nhấn mạnh, từ lâu, Liên hợp quốc đã đấu tranh cho các quyền của người cao tuổi, song những tiến bộ đó không đồng đều ở tất cả các nước và các khu vực trên thế giới. Ở những nước bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh HIV/AIDS, những người già thường phải chịu trách nhiệm chăm sóc các cháu bị mồ côi do AIDS.

Theo ông Ban Ki Moon, đã đến lúc các nước trên thế giới cần đưa ra các biện pháp tài chính, xã hội và luật pháp nhằm giúp hàng triệu người cao tuổi thoát khỏi cảnh nghèo đói, đảm bảo quyền có cuộc sống khỏe mạnh và được tôn trọng. Những người này đều có quyền được tiếp cận các dịch vụ xã hội; các nước cần đưa ra các chương trình lương hưu cho người cao tuổi, xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử về tuổi tác và giới tính tại nơi làm việc.

Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc Navi Pillay cũng cho rằng, với việc 2/3 số người cao tuổi trên thế giới sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chính phủ các nước cần đưa ra các chương trình lương hưu cho người già cũng như các biện pháp phù hợp trong các lĩnh vực nhà ở, y tế, giao thông, nước sạch để đảm bảo rằng họ không bị bỏ rơi và phân biệt đối xử.
Dự kiến, đến năm 2050, số người cao tuổi trên toàn thế giới sẽ tăng lên 2 tỷ người[10].

Như vậy, rõ ràng, đã đến lúc chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến các quyền của người cao tuổi, đặc biệt là quyền được đảm bảo mức sống tối thiểu cũng như quyền được chăm sóc về sức khỏe của họ.

  Quyền của người khuyết tật

Hiện nay, số người khuyết tật chiếm khoảng 5% dân số thế giới, vì thế việc quan tâm và đảm bảo quyền của đối tượng này là việc đương nhiên phải tính đến. Nếu như trước đây, quyền của người khuyết tật chỉ được quan tâm ở mức độ đảm bảo cho họ có được mức sống tối thiểu và được chăm sóc về y tế, thì hiện nay, trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển hơn, việc chăm lo đến quyền của người khuyết tật chính là việc phải tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật được thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng và tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội.

Việc chăm sóc đến quyền lợi của người khuyết tật ngày nay đồng thời cũng gắn với việc phải tính đến quyền được tham gia giao thông của người khuyết tật và phải tính đến khả năng tiếp cận với các công trình công cộng của người khuyết tật thông qua việc xây dựng các phương tiện, công trình hỗ trợ cho họ, đặc biệt là tại trụ sở của các cơ quan nhà nước, các địa điểm vui chơi công cộng, nhà ga, sân bay, trạm chờ xe bus hay các điểm vệ sinh công cộng.

Việc ra đời của Công ước Quốc tế về Quyền của người khuyết tật đã là một cơ sở pháp lý vững chắc để các nước tiến hành các chương trình, dự án liên quan đến việc tăng cường và củng cố quyền của người khuyết tật trên phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng, dù ở đâu trên thế giới này, đời sống của người khuyết tật vẫn luôn luôn gặp khó khăn và người khuyết tật cũng đồng thời là đối tượng nghèo trong xã hội. Vì thế, cần phải nhận thức rõ hơn về quyền của đối tượng này. Tăng cường đào tạo nghề, tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật, cũng như xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử với người khuyết tật trong việc làm và tham gia vào các công việc của nhà nước và của xã hội.

3.3. Quyền của người lao động di trú

Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa về kinh tế thì thị trường lao động đã mở cửa hơn bao giờ hết. Người lao động từ các nước kém phát triển và đang phát triển có nhiều cơ hội đến làm việc tại các nước phát triển, có điều kiện nâng cao thu nhập và được đào tạo nghề ở chất lượng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, vấn đề người lao động di trú cũng đặt ra cho nhiều quốc gia trên thế giới những vấn đề khó giải quyết.

Người lao động di trú tại nhiều nước phát triển thường là nạn nhân của nạn phân biệt đối xử. Nhiều đối tượng lao động phải chấp nhận làm các công việc thu nhập thấp, không có chế độ bảo hiểm, điều kiện làm việc không an toàn, nơi ở không đảm bảo. Đối với những người muốn ở lại các nước phát triển và nhập cư bất hợp pháp, còn có nguy cơ bị bắt và bị ngồi tù vì không có giấy tờ hợp pháp.

Vấn đề này, một mặt đặt ra vấn đề đảm bảo quyền cho người lao động di trú, nhưng đồng thời cũng đặt ra câu hỏi về gánh nặng tài chính cho các nước phát triển. Một số nước phát triển đã ra luật về Người nhập cư hoặc về điều kiện ở lại của người nước ngoài như Pháp, Canada, Hy Lạp, Đức…Tính đến năm 2010, Pháp có 6,7 triệu người nhập cư, chiếm 11% dân số nước này, Mỹ có 42,8 triệu người nhập cư, Nga có 12,3 triệu, Đức có 9,1 triệu, Ả rập Xê út có 7,3 triệu, Canada có 7,2 triệu, Anh có 6,5 triệu, Tây Ban Nha có 6,4 triệu[11]. Con số này đã cho thấy gánh nặng tài chính mà các nước này phải gánh chịu lên đến hàng trăm triệu euro mỗi năm. Đó là còn chưa kể, các vấn đề của người lao động di trú cũng kéo theo vấn đề về tội phạm, vấn đề hòa nhập cộng đồng, ngôn ngữ, văn hóa, giáo dục và vấn đề quản lý dòng nhập cư…

Như vậy, có thể thấy, việc giải quyết các vấn đề về quyền của người lao động di trú cũng là vấn đề mà nhiều nước hiện nay đang quan tâm, kể cả các nước phát triển (nơi đón nhận dòng lao động di trú) và các nước kém và đang phát triển (nơi có nhiều người lao động di trú ra nước ngoài).

Kết luận

Có thể nhận xét rằng, các xu hướng phát triển mới của quyền con người hiện nay đều gắn chặt với sự phát triển của xã hội, của khoa học và của quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình phát triển tiếp theo, chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề mới liên quan đến quyền con người xuất hiện, nhưng trước mắt, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới cần quan tâm và giải quyết các vấn đề mới về quyền con người đã nói ở trên.


[1] Theo Dominique Boullier, “Avec internet, un monde commun… mais pluriel” (Với Internet, một thế giới chung… nhưng đa dạng) trong “Questions internationales” số 47, tháng 1-2/2011, Documentation française, Paris 2011.

[2] Xem H.Long (tổng hợp), Thế giới cũng mâu thun, Lao động cuối tuần, số 12, ngày 1-3/4/2011, tr.7.

[3] Vũ Quỳnh Hương, Quản để chống, Lao động cuối tuần, số 12, ngày 1-3/4/2011, tr.7.

[4] Có trường hợp một người ở thành phố Hồ Chí Minh đã bị buộc thôi việc sau khi làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính.

[5] Như để biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao…

[6]  Xem “Echec des marriages homosexuels”, http://qe.catholique.org/11193-echec-des-mariages-homosexuels (tham khảo ngày 22/4/2011).

[7] Phần lớn những người đồng tính đều phải giấu diếm “thân phận” của mình vì sợ bị phân biệt đối xử và khó tìm việc làm. Rất nhiều quán bar, các câu lạc bộ của người đồng tính trên thế giới bị cảnh sát tấn công và yêu cầu đóng cửa với lý do đó là tệ nạn xã hội.

[8] Xem Diễm Thư (tổng hợp) trong Thanh niên tuần san số 24/1/2011, tr.50.

[9] Xem Kiều Giang (Theo Xinhua), Liên hợp quốc đề cao vai trò của người cao tuổi trong cuộc chiến chống đói nghèo, http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30480&cn_id=439273, tham khảo ngày 17/12/2010.

[10] Thông tấn xã Việt Nam, Liên hợp quốc kêu gọi các nước tăng cường hỗ trợ người già, ngày 3/10/2010.

[11] Theo Wikipedia, http://www.fr.wikipedia.org/wiki/Immigration_en_France, tham khảo ngày 18/4/2011.

 

 

 

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học, Human Rights, LGBT, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: