MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỰ DO TÔN GIÁO TẠI MỸ

1. Sự phát triển của tôn giáo và quyền tự do tôn giáo ở Mỹ

Nơi lánh nạn tôn giáo và sự đa dạng về tôn giáo ở nước Mỹ thời kỳ lập quốc

Khó có thể hiểu thấu đáo về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ, nếu không nói tới tôn giáo nước Mỹ từ thời ập quốc[1]. Nước Mỹ chính là nơi lánh nạn tôn giáo. Quá trình vận động và phát triển của đất nước này vẫn giữ được một ý thức và là sự tiếp nối một loạt các giá trị truyền thống được hình thành từ thuở lập quốc và phản ánh chủ nghĩa đa nguyên, tư tưởng tự do, nhất là tự do tôn giáo của đất nước này [2].

Phong trào thức tỉnh và tôn giáo phục hưng ở Mỹ

Cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua hai lần đại thức tỉnh và tôn giáo phục hưng, Phong trào thức tỉnh và tôn giáo phục hưng lần thứ nhất (cuối những năm 1730 sang những năm 1740 và 1750) và Phong trào đại thức tỉnh và tôn giáo phục hưng lần thứ hai (Thập niên 90 của thế kỷ XVIII)

Quan hệ chính – giáo ở nước Mỹ

Điều sửa đổi thứ nhất Hiến pháp Mỹ qui định cơ quan lập pháp không được đặt ra luật pháp thiết lập tôn giáo hoặc hạn chế thực tiễn của nó. Đây chính là “hai phân câu” nổi tiếng (phân câu thiết lập và phân câu thực tiễn tự do), thể hiện nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp Mỹ về vấn đề tôn giáo: chính giáo phân ly và tự do tôn giáo.

2. Khái quát về thực tiễn tôn giáo và quyền tự do tôn giáo ở Mỹ

Sự đa dạng về tôn giáo

Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có nhiều loại tôn giáo nhất thế giới. Ngoài việc có tất cả các giáo phái tôn giáo lớn trên thế giới, Hoa Kỳ thực sự còn là đất nước của những nhóm tôn giáo thiểu số. chính vì thế, sẽ không quá khi nói rằng tôn giáo nước Mỹ tựa như bảo tàng tôn giáo thế giới đương đại, sống động, phong phú, đa dạng và vô cùng rộng lớn.

Vai trò của quyền tự do tôn giáo trong xã hội Mỹ

Alexis de Tocqueville đã từng nói “Luật pháp cho phép người Mỹ làm cái điều mà họ muốn làm, tôn giáo ngăn cản họ lừa dối, cấm họ làm những việc lỗ mãng hoặc không công chính”. Cũng như vậy, trong xã hội Mỹ đương đại, tôn giáo vẫn là một lực lượng “đạo đức” mạnh mẽ phát huy tác dụng trừ gian tá ác, giữ gìn luân lý, kêu gọi lương tri, cố kết xã hội.

Luật Quyền công dân năm 1964 – Một đạo luật cụ thể hóa các quyền (nói chung), quyền tự do tôn giáo (nói riêng).

Đạo luật Quyền công dân năm 1964 được coi là một trong những đạo luật rất quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tự do tôn giáo mà Hiến pháp đã qui định.

Các phán quyết quan trọng của Tòa án bảo vệ quyền tự do tôn giáo

Diễn đàn Pew về Tôn giáo và Đời sống cộng đồng tổng kết những phán quyết quan trọng của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ:

Vụ Reynolds kiện Hoa Kỳ (1879): Truy tố hình sự một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong đạo Mormon vì vi phạm chế độ một vợ một chồng tại bang Utah.

Vụ Cantwell kiện Connecticut (1940): Bác bỏ một bản án về tội gây rối trật tự, phán quyết cho rằng Điều khoản Tự do Tôn giáo được áp dụng với các hành động tại tiểu bang cũng như liên bang.

Học khu Minersville kiện Gobitis (1940): Phán rằng Điều khoản Tự do Tôn giáo không trao cho học sinh trường công có động cơ tôn giáo quyền được chọn không tham gia lễ chào cờ bắt buộc.

Vụ Sở Giáo dục bang Tây Virginia kiện Barnette (1943): Bác bỏ phán quyết Gobitis và công nhận quyền được phép không tham gia lễ chào cờ bắt buộc căn cứ theo quyền tự do ngôn luận và thờ cúng. Ở Mỹ, việc người Do Thái đội mũ yarmulke hàng ngày trên đường phố và ở nhà là việc rất bình thường. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Mỹ đã phán quyết rằng một cơ trưởng không quân người Do Thái không được miễn khỏi quy định đội mũ phi công trên máy bay

Vụ Hoa Kỳ kiện Ballard (1944): Trong một vụ liên quan tới thầy lang chữa bệnh bằng lòng tin tự nhận có sức mạnh siêu nhiên khi chữa bệnh, đã phán rằng chính phủ không thể đặt câu hỏi về sự thực hay độ tin cậy về đức tin của một người nào đó, nhưng được quyền xem xét xem liệu đức tin đó có thực sự được thực hiện hay không.

Vụ Braunfeld kiện Brown (1961): Bác bỏ lập luận của các doanh nhân người Do Thái hành lễ ngày xa-ba các ngày thứ 7 và phản đối một đạo luật yêu cầu các doanh nghiệp phải đóng cửa vào ngày chủ nhật.

Vụ Sherbert kiện Verner (1963): Phán rằng chính sách thất nghiệp của Nam Carolina buộc người lao động  phải lựa chọn giữa việc được hành lễ  ngày xa- ba và việc nhận trợ cấp thất nghiệp, như vậy đã vi phạm điều khoản Tự do Tôn giáo.

Vụ Wisconsin kiện Yoder (1972): Phán rằng Điều khoản Tự do Tôn giáo đã miễn cho trẻ vị thành niên theo đạo Old Order Amish không phải có mặt bắt buộc tại trường học.

Vụ trường Đại học Bob Jones kiện Hoa Kỳ (1983): Bác bỏ một đơn kiện căn cứ theo Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp đối với chính sách của Sở Thu nhập quốc nội bác bỏ quy chế miễn thuế cho các cơ sở giáo dục tôn giáo phi lợi nhuận vốn có chính sách phân biệt chủng tộc.

Vụ Goldman kiện Weinberger (1986): Phán rằng Điều khoản Tự do Tôn giáo không cho phép một đại úy không quân người Do Thái được miễn áp dụng một quy định cấm đội bất kỳ loại mũ lưỡi trai nào trong nhà.

Vụ O’Lone kiện Estate of Shabazz (1987): Phán rằng lý do an ninh là cơ sở hợp lý để hạn chế tù nhân tham gia các buổi hành lễ của đạo Hồi.

Vụ việc làm kiện Smith (1990):  Ủng hộ việc bác bỏ không bồi thường thất nghiệp cho hai tư vấn viên về phục hồi sức khỏe sau cai nghiện người đa đỏ vốn đã bị đuổi việc vì họ đã nuốt chất met-ca-lin gây ảo giác trong nghi lễ tôn giáo.

Vụ Nhà thờ Lukumi Babalu Aye kiện Thành phố Hialeah (1993): Phán rằng các pháp lệnh của thành phố Hialeah về đối xử với động vật đã phân biệt đối xử với đạo Santeria và nghi lễ tế thần bằng động vật của tôn giáo này.

Vụ Thành phố Boerne kiện Flores (1997): Phán rằng Quốc hội không có đủ thẩm quyền để sử dụng quyết định của mình để thay thế phán quyết của ngành tư pháp liên bang về các quy tắc tự do tôn giáo mà các tiểu bang phải tuân thủ.

Vụ Locke kiện Davey (2004): Phán rằng việc bao cấp trong ngành giáo dục đại học tại tiểu bang Washington không dành cho những người học chuyên ngành tôn giáo là hợp hiến.

Vụ Cutter kiện Wilkinson (2005): Bác bỏ lập luận cho rằng một số nội dung trong quy định của liên bang về tự do tôn giáo đối với phạm nhân và những người sống trong các cơ sở từ thiện đã vi phạm Điều khoản tổ chức tôn giáo trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp.

Vụ Gonzales kiện O Centro Espirita Beneficiente Uniao do Vegetal (2006): Phán rằng RFRA (Đạo luật khôi phục quyền tự do tôn giáo năm 1993) bảo vệ quyền của một giáo phái nhỏ được nhập khẩu và sử dụng chất gây ảo giác trong nghi lễ tôn giáo của họ[3].


[1] Xem thêm: Vũ Văn Nhiêm, “Mấy vấn đề về tự do ở Mỹ”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3(251) – 2009.

[2] George Clack (Executive Editor), Mildred Solá Neely (Managing Editor), Outline of U.S. History, Bureau of International Information Programs U.S. Department of State, tr.337.

[3] Richard W. Huckaby (Editor-in-Chief), Freedom of Faith: Religious Minorities in the United States, U.S. Department of State –  August 2008-  Volume 13 –  Number 8 eJournal USA, tr.37-39.

 

 

 

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: