MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC THI PL BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ VIỆT NAM

Bảo vệ môi trường trong các làng nghề: Những bất cập trong thực thi pháp luật

 Trương Hồng Quang

Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 21, tháng 11/2012

 

Làng nghề Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển làng nghề trong nhiều năm qua đã xuất hiện nhiều vấn đề nan giải, trong đó có nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng cần phải có biện pháp giải quyết kịp thời.

Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội. Theo thống kê ở Việt Nam có 4.575 làng nghề, trong đó có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề[1]. Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%). Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% – 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20%-40%. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% – 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên. Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200-250 lao động[2]. Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

Có thể nhận thấy, các làng nghề giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề phải bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững, thể hiện cụ thể qua một số điểm như sau:

Thứ nhất, hoạt động sản xuất trong các làng nghề đã và đang có nhiều đóng góp vào ổn định đời sống người dân và phát triển kinh tế – xã hội, tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động trong cả nước[3] nhưng một trong những thách thức lớn đang đặt ra đối với không ít làng nghề là vấn đề ô nhiễm môi trường. Phần lớn các làng nghề chưa có quy hoạch hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu dân cư, công nghệ lạc hậu và thiếu ổn định nên ô nhiễm môi trường khó kiểm soát, xử lý và khắc phục, có nơi ngày càng trở nên trầm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân tại địa bàn, nhất là người lao động trực tiếp. Ô nhiễm chất hữu cơ tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ là các loại hình sản xuất có nhu cầu sử dụng nước rất lớn và nước thải có độ ô nhiễm hữu cơ rất cao. Hàm lượng các chất ô nhiễm, vượt quy chuẩn Việt Nam (QCVN) hàng chục lần. Đặc biệt là nước thải từ khâu lọc tách bã, tách bột đen của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng có độ chua (pH) thấp, hàm lượng nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu ôxy hóa học (COD) vượt trên 200 lần. Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ việc sử dụng than làm nhiên liệu (phổ biến là than chất lượng thấp), sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất trong dây chuyền công nghệ sản xuất. Khí thải chứa các thành phần là bụi, khí độc và chất hữu cơ bay hơi. Trong đó, ngành sản xuất có thải lượng ô nhiễm lớn nhất là tái chế kim loại, sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ. Ngoài ra, quá trình tái chế và gia công cũng phát sinh các khí độc như hơi axit, kiềm, oxit kim loại và ô nhiễm nhiệt. Hàm lượng bụi ở khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tại một số địa phương vượt QCVN là 3 – 8 lần, hàm lượng sunphuarơ (SO2) có nơi vượt 6,5 lần.

Như vậy, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam thực sự đã ở mức “báo động đỏ”.Hàng chục năm qua, đây là vấn đề nhức nhối mà kéo theo nó là những hệ lụy ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động sản xuất mà còn gây tổn hại đến sức khỏe người dân. Một khi nghề còn là việc làm độc lập của từng hộ gia đình, thì việc xử lý ô nhiễm vẫn gặp nhiều khó khăn (thiết bị lạc hậu, khoan nước giếng không phép, xả thẳng nước thải, rác thải ra môi trường, không nộp phạt khi bị thanh kiểm tra và cam chịu cuộc sống “cùng chịu ô nhiễm”). Các hộ làm nghề đều coi việc xả chất thải ra môi trường, khoan nước giếng sản xuất không phép, không nộp tiền xử phạt vi phạm luật bảo vệ môi trường là điều “tự nhiên”. Hầu hết các làng nghề đều có tư tưởng ỷ lại, coi xử lý hậu quả ô nhiễm làng nghề là việc của Nhà nước. Do đó, nhiều hộ sản xuất có doanh thu vài trăm triệu đồng nhưng vẫn không muốn đóng góp các khoản tiền vệ sinh môi trường. Các kết quả quan trắc trong thời gian gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của làng nghề có xu hướng gia tăng, nhất là ô nhiễm bụi tại các làng nghề gốm, sứ, vật liệu xây dựng, khai thác đá, đồ gỗ mỹ nghệ và các làng nghề tái chế. Tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ, nước thải có độ ô nhiễm hữu cơ cao. Công tác thu gom và xử lý chất thải rắn ở các làng nghề vẫn còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh. Trước hết, người dân ở chính các làng nghề phải gánh chịu những hậu quả do bản thân mình gây ra.

Thứ hai,hiện nay hầu hết các làng nghề đều vi phạm pháp luật về môi trường, vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường[4].

 Dường như, giữa phát triển và vấn đề môi trường vẫn đang là một nghịch lý[5]. Hiện nay, các chất thải phát sinh từ nhiều làng nghề đang gây ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân. Mặc dù cả nước có trên 3.000 làng có nghề, mỗi làng nghề lại có rất nhiều cơ sở sản suất, nhưng hàng năm tỷ lệ các cơ sở sản xuất tại các làng nghề có đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường được phê duyệt rất ít. Theo báo cáo giám sát mới nhất của Quốc hội, riêng trong năm 2010, tại 14 tỉnh/thành phố mới có 517 cơ sở có cam kết bảo vệ môi trường và 77 cơ sở có báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và chỉ có 23 cơ sở thực hiện việc báo cáo định kỳ, 38 cơ sở thực hiện quan trắc môi trường định kỳ[6].

Ở những cơ sở đã được phê duyệt các cam kết về bảo vệ môi trường, các tổ chức, cá nhân thường thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ cam kết của Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt hoặc Bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc Đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận; chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn, lỏng, khí như đã cam kết đăng ký. Nhiều cơ sở, tổ chức, doanh nghiệp đã xây dựng trạm xử lý nhưng hệ thống xử lý không đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật hoặc không vận hành thường xuyên.

Thứ ba, việc thực thi các quy định về chỉ đạo, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ môi trường[7] của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trên thực tế còn rất hạn chế.

Cho đến nay, kinh phí từ Trung ương và địa phương dành chi trực tiếp cho hoạt động bảo vệ môi trường làng nghề rất hạn chế. Ví dụ như tại tỉnh Nam Định, vào năm 2010 trong tổng số kinh phí bảo vệ môi trường của địa phương là 75,25 tỷ đồng thì chỉ có 7,424 tỷ đồng chi cho bảo vệ môi trường làng nghề (chiếm 9,8%); tại Tây Ninh vào năm 2010 trong tổng số kinh phí bảo vệ môi trường của địa phương là 3,6 tỷ thì không có kinh phí chi cho bảo vệ môi trường của làng nghề…[8]  Theo quy định được áp dụng từ năm 2006 đến nay thì nguồn ngân sách 1% sự nghiệp môi trường được áp dụng cho việc bảo vệ môi trường, tuy nhiên các địa phương hầu như cũng không lưu tâm dành kinh phí cho việc bảo vệ môi trường làng nghề. Quỹ bảo vệ môi trường đã triển khai cho vay với lãi suất ưu đãi đối với một số dự án về xử lý chất thải làng nghề, nghiên cứu và triển khai các công nghệ thân thiện môi trường (như dự án chuyển đổi từ lò nung gốm sử dụng than sang lò nung bằng gas tại làng nghề Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội). Tuy nhiên,do nguồn vốn rất hạn hẹp, nên sự hỗ trợ và đầu tư của Quỹ cho công tác bảo vệ môi trường làng nghề còn rất hạn chế.

Việc kiểm tra, thanh tra tại làng nghề cũng rất ít ỏi và xử lý còn hạn chế. Theo thống kê, trong năm 2010, tại Hà Nội mới có 06 cơ sở được kiểm tra (bằng với năm 2009), không có cơ sở nào được thanh tra, trong đó có 01 cơ sở gây ô nhiễm môi trường, 01 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 03 cơ sở bị cảnh cáo; 03 cơ sở bị phạt tiền với tổng số tiền là 158.000.000đ và không có cơ sở nào bị di dời hay đình chỉ hoạt động[9]. Theo quy định hiện hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiện xây dựng quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn; lập quy hoạch xây dựng làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề phù hợp với yêu cầu sản xuất, bảo vệ môi trường; thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn các cơ sở làng nghề chấp hành các quy định của pháp luật,… Tuy nhiên cho tới nay, các giải pháp nhằm cải thiện ô nhiễm làng nghề vẫn chỉ là di dời các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng ra khỏi khu vực dân cư; quy hoạch khu, cụm công nghiệp để tiếp nhận các cơ sở gây ô nhiễm; có nơi đã xây dựng cơ sở xử lý nước thải tập trung… nhưng hiệu quả chưa cao. Thực tế cho thấy, 15 làng nghề được đưa vào danh sách gây ô nhiễm nghiêm trọng phải xử lý theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ban hành ngày 22 tháng 4 năm 2003 về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” vẫn chưa giải quyết triệt để.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, tập trung vào hệ thống chính sách, pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước như sau:

Thứ nhất, về mặt thể chế:

Chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng đối với vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sản xuất làng nghề. Mặc dù đã có nhiều văn bản pháp luật đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường trong các làng nghề và về bản chất, làng nghề rất đa dạng về loại hình sản xuất và quy mô phát triển, có những đặc thù riêng nhưng cho đến nay hoàn toàn chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng đối với vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sản xuất làng nghề. Các văn bản hiện hành đều quy định chung cho tất cả các loại hình sản xuất kinh doanh nên việc áp dụng nhiều khi không phù hợp hoặc khó áp dụng.Ví dụ, theo quy định hiện hành, mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh dịch vụ đều phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường hoặc phải lập đề án bảo vệ môi trường nhưng cho đến nay, hầu như các hộ sản xuất trong làng nghề vì nhiều lý do khác nhau mà không có báo cáo tác động môi trường hay đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường[10]. Thực tế cho thấy nội dung này rất khó có thể áp dụng được đối với đặc thù làng nghề, do đó cần phải nghiên cứu, ban hành một hình thức cam kết bảo vệ môi trường với nội dung đơn giản, gọn nhẹ hơn. Bên cạnh đó, khi tiến hành kiểm tra, các quy chuẩn thải về khí và nước luôn được xem xét và so sánh, cũng được áp dụng đối với các làng nghề. Thực tế cho thấy nếu áp dụng các quy chuẩn đó cho làng nghề thì còn quá cao vì các cơ sở sản xuất trong làng nghề hiện đều ở quy mô hộ gia đình nên chưa có điều kiện và kinh phí để lắp đặt hệ thống thiết bị xử lý môi trường đạt quy chuẩn hiện hành. Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường tuy đã được xây dựng nhiều, nhưng vẫn chưa tính đầy đủ những yếu tố đặc thù và khách quan đối với làng nghề nên tác dụng, hiệu lực một số văn bản còn thấp. Ví dụ như:

Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 chưa quy định cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm thu phí BVMT đối với chất thải rắn ở địa phương.

– Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 chưa quy định định mức phát thải của chất gây ô nhiễm làm căn cứ tính toán khối lượng chất gây ô nhiễm trong nước thải công nghiệp để xác định số phí phải nộp.

Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/6/2006 của Bộ NN&PTNT chưa quy định rõ tiêu chí về BVMT khi xem xét, công nhận làng nghề.

– Thông tư 04/2008/TT-BTNMT ngày 18/9/2008 đã hết hiệu lực, nhưng đến nay chưa có quy định tiếp tục hướng dẫn áp dụng đối với các cơ sở đã đi vào hoạt động mà chưa có ĐTM hoặc cam kết BVMT…

Thứ hai, vẫn còn sự chồng chéo, mẫu thuẫn trong bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương.

Mặc dù bộ máy quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương tới địa phương đã từng bước được kiện toàn nhưng hiện nay việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước đối với làng nghề tại không ít địa phương còn chồng chéo, bất cập. Điều này xuất phát từ sự chồng chéo và không rõ ràng về vai trò và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường làng nghề giữa các bộ/ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường) và giữa bộ/ngành với địa phương. Việc phối hợp liên ngành còn khá hạn chế. Một số địa phương vẫn coi trọng kinh tế, coi nhẹ môi trường, vai trò bảo vệ môi trường làng nghề còn khá mờ nhạt. Điều này đã và đang được minh chứng trong thực tế. Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý môi trường các cấp còn nhiều hạn chế, chưa chặt chẽ[11], nhiều văn bản được ban hành không được các làng nghề thực hiện; công tác quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tập trung cho làng nghề còn nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế nhất định. việc xử lý văn bản pháp luật về môi trường chưa được thực hiện một cách đồng bộ và thống nhất giữa các Bộ, ngành, địa phương; việc áp dụng các hình thức xử lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực sự nghiêm minh, đặc biệt khi xử lý đối với các cơ sở sản xuất lớn gây ô nhiễm môi trường. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức bộ máy quản lý môi trường, cơ chế thực thi bảo vệ môi trường trong các làng nghề.

Thứba, ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề còn thấp.

 Mặc dù vấn đề truyền thông, phổ biến về pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường tại làng nghề nói riêng đã được quan tâm và triển khai một cách tương đối bài bản, tuy nhiên, hiệu quả công tác này vẫn còn hạn chế. Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, một số đối tượng khác mặc dù đã nhận thức đầy đủ nhưng vì lợi ích cá nhân nên vẫn cố tình vi phạm; nhận thức của người dân trong các làng nghề nhìn chung còn hạn chế, chưa thực sự muốn tham gia nhiều vào hoạt động bảo vệ môi trường tại nơi mình sinh sống, kinh doanh,…

Trong thời gian đến, đề góp phần nâng cao chất lượng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề nên thực hiện các giải pháp sau đây:

– Xây dựng chiến lược phát triển làng nghề gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và các chương trình về xây dựng nông thôn mới. Làm rõ các khái niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bổ sung quy định tiêu chí bảo vệ môi trường vào các tiêu chí để công nhận làng nghề. Đổi mới công tác quản lý làng nghề bảo đảm hiệu lực, hiệu quả; tăng cường công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và xây dựng thương hiệu cho các làng nghề, sản phẩm làng nghề;

– Khẩn trương quy hoạch làng nghề một cách khoa học dựa trên các yếu tố làng nghề truyền thống, mức độ ô nhiễm môi trường, yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Ban hành chính sách cụ thể về hỗ trợ công nghệ sản xuất, đào tạo nhân lực, mặt bằng sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm và đầu tư phát triển làng nghề. Nhà nước đầu tư một phần kinh phí nâng cấp cơ sở hạ tầng các làng nghề được công nhận, đặc biệt là đối với các làng nghề truyền thống. Nhân rộng các mô hình xã hội hóa về bảo vệ môi trường làng nghề có hiệu quả; xây dựng các hương ước, quy ước gắn với cam kết bảo vệ môi trường làng nghề;

– Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đến năm 2015, xử lý đạt tỷ lệ 85% các cơ sở sản xuất, cơ sở tái chế phế thải hoặc núp bóng làng nghề gia công, sản xuất các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng;

– Tổ chức thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, trong đó trọng tâm là xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề./.


[1] Quốc hội (2011), Báo cáo Kết quả giám sát về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, tr. 22.

[2] Báo động ô nhiễm môi trường các làng nghề, http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/bao-ve-moi-truong/2012/04/bao-dong-o-nhiem-moi-truong-cac-lang-nghe/, ngày 18 tháng 4 năm 2011.

[3] Nghị quyết số 19/2011/QH13 của Quốc hội về kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2011.

[4] Xem thêm: Thống kê được nêu trong Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 về Môi trường làng nghề Việt Nam do Bộ Tài Nguyên và Môi trường thực hiện và Quốc hội (2011), Báo cáo Kết quả giám sát về việc thực hiện chính sách,pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề.

[5] Báo động ô nhiễm môi trường các làng nghề, http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/bao-ve-moi-truong/2012/04/bao-dong-o-nhiem-moi-truong-cac-lang-nghe/, ngày 18 tháng 4 năm 2011.

[6] Thái Bình là địa phương có nhiều cơ sở được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (14) và cơ sở có cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận nhiều nhất (144), Hưng Yên có 127 cơ sở cam kết bảo vệ môi trường, và Vĩnh Phúc có 37 cơ sở có đánh giá tác động môi trường và 45 cơ sở có cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận. Xem tại: Quốc hội (2011), Báo cáo Kết quả giám sát về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, Phụ lục số XIII, tr. 118.

[7] Bảo vệ môi trường làng nghề: Phát triển làng nghề theo hướng bền vững,

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2009/3240/Lang-nghe-va-bao-ve-moi-truong-lang-nghe-theo-huong-phat.aspx, ngày 14 tháng 12 năm 2009.

[8] Quốc hội (2011), Báo cáo Kết quả giám sát về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, Phụ lục số XIa, tr. 105.

[9] Quốc hội (2011), Báo cáo Kết quả giám sát về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, Phụ lục số XIa, tr. 115.

[10] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2008: Môi trường làng nghề Việt Nam, tr. 61.

[11] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2008: Môi trường làng nghề Việt Nam, tr. 62.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Luật Môi trường, Pháp luật Kinh tế

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: