Một số góc nhìn về hôn nhân giữa những người cùng giới tính

 

Câu chuyện công nhận hay không công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính (viết tắt là hôn nhân cùng giới) luôn là chủ đề nóng trên thế giới từ trước đến nay. Thời gian gần đây, cùng với việc Việt Nam tiến hành sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã làm cho giới truyền thông báo chí cũng như các diễn đàn khác thực sự dậy sóng. Chủ đề đồng tính được nhắc đến nhiều hơn, thảo luận sâu hơn và đôi khi ở một số diễn đàn đã thực sự hiểu đúng bản chất, thông cảm với người đồng tính. Tuy nhiên, liên quan đến quyền kết hôn của người đồng tính vẫn còn rất nhiều quan điểm trái chiều, trong đó cũng không ít quan điểm lệch lạc hay sai lầm.
Hiện nay, quan điểm của Ban soạn thảo Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi đang được xác định sẽ sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 theo hướng “Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử về giới và mọi sự phân biệt đối xử khác giữa các con và giữa các thành viên khác trong gia đình”. Ngoài ra, dự luật sửa đổi sẽ không quy định cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính như Luật hiện hành mà sử dụng cụm từ “không thừa nhận” hôn nhân của những người cùng giới tính cũng như không can thiệp vào việc sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, đồng thời quy định về quyền và nghĩa vụ giữa các bên cùng giới tính trong quan hệ chung sống như vợ chồng theo giải pháp quy định về việc chung sống như vợ chồng giữa những người khác giới . Bình luận về hướng này, một chuyên gia cho rằng nếu không công nhận hôn nhân đồng tính, không nên điều chỉnh trong dự luật sửa đổi, tránh phát sinh rắc rối . Ý kiên này cũng phân tích: “Theo Luật hiện hành, hôn nhân là quan hệ vợ chồng, gia đình có thể xuất phát từ hôn nhân, có thể không như một số phụ nữ không kết hôn mà vẫn có con. Còn nếu thay việc cấm bằng việc không công nhận thì mâu thuẫn với nhau vì khi ấy sẽ phải thay đổi nhiều quan niệm liên quan theo kiểu đứa con mà hai người đồng tính nhận nuôi hoặc sinh ra sẽ gọi những người đồng tính ra sao, hai người đồng tính nam có thể có con nhưng phải nhờ mang thai hộ, đẻ thuê; hai người đồng tính nữ phải sinh con bằng phương pháp khoa học…”.
Có thể nhận thấy ý kiến phản đối này chỉ phù hợp với quy định hiện hành, chưa thực sự mang hơi thở của cuộc sống nên gần như thiếu đi tính nhân văn nhất định.
Theo quan điểm nói trên, nếu không công nhận hôn nhân cùng giới thì không điều chỉnh trong Luật, nghĩa là không tiếp tục quy định về hôn nhân cùng giới như một điều kiện cấm kết hôn hay vẫn quy định như pháp luật hiện hành? Quan điểm này cũng áp đặt quy định hiện hành lên một hiện thực xã hội đã có sự thay đổi rất nhiều chiều như chủ đề đồng tính. Quan niệm về gia đình, về chức năng của gia đình hay hôn nhân là giữa một nam và một nữ thực tế bây giờ đã không còn là quan niệm duy nhất trên thế giới nữa. Tất cả các phương pháp nhận con nuôi hay sinh con bằng phương pháp khoa học thực chất là những điều hết sức bình thường. Liệu một ai đó có bao giờ tự hỏi, một người phụ nữ có xu hướng tính dục đồng giới không được kết hôn với người mình yêu, không được nhận con nuôi chung, không được hưởng một hạnh phúc đơn giản như bao người phụ nữ dị tính khác hoặc bị gia đình kỳ thị, đối tử tệ bạc thì khi đó, mục tiêu bảo vệ phụ nữ của một số cơ quan hiện nay đã đạt được hay chưa? Một khi nhà làm luật đã mang trên mình trọng trách quan trọng đưa ra những quy phạm điều chỉnh xã hội thì cũng nên hướng đến tính nhân văn, giá trị xã hội của pháp luật, đáp ứng các đòi hỏi đang ngày càng sôi động của cuộc sống hiện đại. Bàn luận thêm về chủ đề này, chúng tôi xin đề cấp đến một số vấn đề được nêu ra dưới đây.
Thay đổi chuẩn mực truyền thống hay thay đổi định kiến xã hội?
Một câu hỏi luôn được đặt ra khi xem xét chủ đề hôn nhân cùng giới, đó là liệu hôn nhân cùng giới có làm suy thoái đạo đức, thay đổi chuẩn mực truyền thống hay không? Hôn nhân cùng giới liệu sẽ làm suy thoái nòi giống, đi ngược lại giá trị của cuộc sống hay không? Cho đến thời điểm hiện tại những câu hỏi này vẫn xuất hiện đều đặn tại các diễn đàn, hội thảo khoa học. Chúng tôi cho rằng những người đưa ra các câu hỏi này họ không sai. Nhưng, chính định kiến, sự kỳ thị đã khiến hầu hết mọi người luôn đặt ra những câu hỏi đó. Vì vậy, thực chất, việc chấp nhận người đồng tính hay hôn nhân cùng giới là sự thay đổi định kiến, sự kỳ thị chứ không phải là thay đổi chuẩn mực sống hay giá trị truyền thống. Việc thay đổi quan niệm, quan điểm hay một hình thái khác của xã hội là điều tất yếu của xã hội trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Điều cơ bản là ở vấn đề thời gian và các tác nhân tác động đến sự thay đổi đó.
Trong các quan điểm phản đối hiện nay, có thể thấy rõ nét nhất là quan điểm về khái niệm gia đình. Hầu hết các quan điểm ở Việt Nam hiện nay đều lo ngại thừa nhận hôn nhân cùng giới sẽ làm phá vỡ “gia đình”, đi ngược lại một chức năng cơ bản của gia đình là duy trì nòi giống . Theo chúng tôi, gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới. Trong thực tiễn, khái niệm về gia đình vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và rõ ràng. Tuỳ thuộc vào quan điểm và các phương pháp tiếp cận, người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về Gia đình. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đồng thuận một cách hiểu chung nhất: “Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất là trẻ em” (Tuyên bố của Liên hợp quốc về tiến bộ xã hội trong phát triển). Thực tế hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về gia đình. Một số ý kiến cho rằng trên thế giới hiện nay xuất hiện nhiều dạng gia đình biến thái khiến cho mọi định nghĩa về gia đình đều trở nên bất cập. Chẳng hạn, một học giả phương Tây – James W. Vander Zanden – cho biết: “Một cuộc thăm dò mới đây đã cho thấy 45% người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi không cần kết hôn mà cùng chung sống với nhau thì được coi là một gia đình đích thực, 33% coi các đôi cùng giới tính có nuôi nấng con cái là gia đình, còn 20% thì coi các cặp đồng giới tính chung sống với nhau là một gia đình” . Những ý kiến này đều cho rằng đây có thể là sự mở rộng thái quá trong quan niệm về gia đình mà người Việt Nam ta khó lòng chấp nhận. Đối với người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, gia đình là một giá trị xã hội quan trọng vào bậc nhất. Nếu ở châu Âu gia đình nhiều khi đơn giản chỉ được coi là một nhóm xã hội thì ở ta, gia đình được coi là một tế bào xã hội có tính sản sinh với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó như vợ – chồng – con cái. Dường như, những quan điểm gay gắt này vẫn còn tồn tại rất nhiều ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên tất cả những điều này cũng cho thấy, khái niêm gia đình vẫn hoàn toàn có thể được thay đổi để có sự điều chỉnh phù hợp hơn với những trạng thái khác nhau trong xã hội.
Tại Việt Nam từ trước đến nay, khái niệm kết hôn vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau . Từ đó, khái niệm gia đình cũng được hiểu là của một cặp đôi dị tính . Tuy nhiên, hiện nay, tổ chức Liên hiệp quốc cũng đã ghi nhận quan niệm về một phạm vi rộng rãi trong việc xác thực những tiến triển – thay vì cố định – của định nghĩa về gia đình. Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã lưu ý rằng “khái niệm gia đình có thể khác biệt trong vài khía cạnh, giữa các quốc gia, và ngay cả giữa các tôn giáo, và vì thế không thể đưa ra một định nghĩa chuẩn mực chung” . Uỷ ban Quyền trẻ em Liên hợp quốc đã tuyên bố điều này trong “Nhận định về môi trường gia đình”, rằng cần phản ánh “những cấu trúc gia đình khác nhau, phát sinh từ các mẫu hình văn hóa và các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng đang nổi lên” . Một trong các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng ở đây có thể được hiểu là sự đa dạng về xu hướng tính dục, là một cơ sở quan trọng cho một gia đình của các cặp đôi đồng tính. Việc thừa nhận hôn nhân cùng giới cũng không thể làm suy thoái nòi giống như ý kiến của nhiều người bởi thực ra người đồng tính chỉ chiếm khoảng 3% trong tổng dân số của xã hội. Hơn nữa, người đồng tính hoàn toàn có thể nhờ mang thai hộ hoặc xin con nuôi. Đây cũng là điều mà các nhà làm luật Việt Nam cần cân nhắc xem xét để bổ sung cho khái niệm về gia đình nhằm tạo ra sự công bằng cũng như thay đổi nhận thức về gia đình tại Việt Nam thời gian tới. Bên cạnh đó, hiện nay Luật Hôn nhân và Gia đình quy định trong gia đình, người con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Có ý kiến cho rằng nếu một đứa trẻ sống trong một gia đình đồng tính liệu sẽ bị ảnh hưởng bởi người nuôi nấng chúng, cũng sẽ bị đồng tính hay không ? Xin khẳng định một điều: đồng tính là một xu hướng tính dục, không phải là giới tính thứ ba và không phải là bệnh có thể lây lan hay truyền nhiễm. Vì vậy, đồng tính là điều tự nhiên của một người, không thể vì nghe lời người lớn mà trở thành đồng tính được.
Kết hợp dân sự là sự ban phát quyền cho người đồng tính?
Hiện nay trên thế giới có các hình thức thừa nhận việc chung sống hợp pháp của người đồng tính như: cho phép kết hôn giống những cặp dị tính, công nhận dưới hình thức kết hợp dân sự (civil union) như kết hợp dân sự, đối tác chung nhà (domestic partnership), hình thức hợp danh (partnership)… Đối với hình thức kết hợp dân sự, về mặt pháp lí, họ được xem giống như một cặp vợ chồng nhưng thực tế lại bị hạn chế hơn những cặp vợ chồng dị tính khác ở sự thụ hưởng các chính sách về miễn giảm thuế chung cho vợ chồng, các chế độ an sinh xã hội, bảo hiểm, trợ cấp, quyền nhận nuôi con nuôi, thừa kế… Mặt khác, giá trị pháp lí của giấy chứng nhận kết hợp dân sự nêu trên rất hạn chế, không đương nhiên có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hoặc toàn thế giới. Đa phần các kiểu kết hợp dân sự trên chỉ có giá trị trong phạm vi bang, khu vực cho phép đăng kí kết hôn đồng tính, điều này đã gây không ít trở ngại cho các cặp đôi trên khi di chuyển hoặc thay đổi chỗ ở.
Một số ý kiến cho rằng hành vi công nhận quyền kết hôn của người đồng tính dưới các hình thức kết hợp dân sự như trên được coi như là “ban phát” quyền cho người đồng tính. Theo Thomas Paine đó là điều vô lí vì nếu chính phủ được quyền ban phát quyền cho người khác thì cũng được có thể thu hồi lại( ). Điều này mâu thuẫn với quy tắc quyền con người là thuộc tính tự nhiên, vốn có của con người. John Locke cho rằng Chính phủ và công dân tự nguyện kí vào bản “khế ước xã hội” trao quyền lực cho chính phủ nhằm sử dụng Chính phủ như một phương tiện để bảo vệ các “quyền tự nhiên” cho mình, chứ không phải là ban phát quyền và quy định các quyền ấy cho mình( ) như cách ghi nhận kết hợp dân sự trên. Rousseau trong cuốn Bàn về khế ước xã hội cho rằng, khi một người từ bỏ một vài quyền tự do của mình điều đó đồng nghĩa với việc anh ta phải được nhận lại một số lợi ích nhất định nào đó, khi nhà nước nhận được một số quyền tự do kia đồng nghĩa với việc nhà nước phải đảm đương một số trách nhiệm với họ, “các điều kiện đơn phương nếu không có gì bù lại, nếu không có gì ngang giá sẽ làm cho điều khoản kí kết mất hết ý nghĩa”( ). Điều dễ dàng nhận thấy ở đây là người đồng tính không tự nguyện từ bỏ quyền được kết hôn của mình và nhà nước khi tự ý không thừa nhận quyền tự do kết hôn đó đã không có khoản đền bù ngang giá nào cho những người đồng tính. Theo chúng tôi, hình thức kết hợp dân sự vẫn là việc nên làm, nên thừa nhận, là một bước đệm của hôn nhân cùng giới. Thực tiễn một số nước trên thế giới đã đi theo cách này để tiến tới đề xuất công nhận hôn nhân bình đăng. Thật khó để bất cứ một xã hội nào ngay lập tức công nhận hôn nhân cùng giới, hôn nhân bình đăng trong một thời gian ngắn. Cũng bởi vì kết hợp dân sự có những hạn chế như trên, cho nên việc thừa nhận hôn nhân cùng giới sau đó là điều cần thiết để đảm bảo giá trị xã hội của pháp luật.
Bên cạnh đó, gần đây có một số lí giải thú vị liên quan đến sự khác nhau giữa sống chung không có đăng ký và quyền kết hôn của người cùng giới. Một trong những lập luận, thắc mắc thường nghe nhất của chính nhiều người đồng tính là liệu nếu họ được phép kết hôn thì có hơn gì việc chung sống với nhau thôi hay không. Câu trả lời thường nghe đó là “có ý nghĩa về mặt tinh thần” và phần lớn người đồng tính vẫn nghĩ việc cho phép kết hôn không mang lại nhiều lợi ích thiết thực lắm. Vậy bạn liệu có bao giờ nghĩ tới những trường hợp  như: người bạn đời của bạn vào bệnh viện trong tình trạng nguy kịch, cần một người thân có thể đại diện để ký vào giấy đồng ký phẫu thuật. Nhưng lúc này chỉ có bạn ở bên cạnh, và bạn không có quyền để ký vào tờ giấy đó?; Tài sản do hai người cùng làm ra nhưng chỉ một người có quyền hợp pháp với tài sản đó? Bạn đời của bạn đột ngột qua đời mà không có di chúc, và hai bạn trở thành hai người xa lạ, không hề có quyền thừa kế bất kỳ tài sản nào của nhau? Hai bạn nhận con nuôi nhưng chỉ có một người là cha/mẹ hợp pháp của đứa con. Bạn hoàn toàn không có quyền gì với đứa trẻ. Đứa trẻ cũng không được hưởng quyền lợi gì từ bạn? Mối quan hệ giữa hai bạn chấm dứt sau nhiều năm chung sống và có chung nhiều tài sản; và hai bạn không thể thống nhất phân chia tài sản được và tòa án cũng từ chối giải quyết? Bạn có người yêu xa ở Canda, hay một bang của Mỹ – nơi mà pháp luật cho phép hôn nhân cùng giới, tuy vậy hai bạn vẫn không tài nào kết hôn hợp pháp được? Để góp phần giải quyết những vấn đề này, và đề xã hội có sự thích nghi dần dần thì có lẽ, hình thức kết hợp dân sự vẫn là một lựa chọn hợp lí nhất trong tình hình của Việt Nam hiện nay.
Vĩ thanh
Chúng ta đang tồn tại trong một xã hội hiện đại, ồn ào và tấp nập. Mỗi một ngày đi qua, cuộc sống lại hối hả, phức tạp hơn. Chúng ta – những con người hiện đại như bị lực hút vô hình nào đó cuốn vào dòng chảy cuộc sống ấy, chúng ta cứ mãi đua chen trong từng nhịp sống nhộn nhịp, có đôi lúc vô tình lướt qua nhau trên đường, chúng ta cũng chẳng kịp bận tâm đó là ai. Có lẽ vòng đời đã tôi luyện con người dần trở nên vô tâm như thế, chúng ta chỉ biết sống cho mình, thỏa mãn những khát khao danh vọng đề ra và rồi một lúc nào đó, con người trở thành nô lệ cho chính sự đòi hỏi của bản thân. Không biết có khi nào chúng ta chợt dừng lại để nhận ra rằng: vẫn còn nhiều góc khuất khác nhau trong tính cách và số phận con người, những góc khuất luôn đòi hỏi thời gian, kiến thức và cả sự đồng cảm để cùng khám phá. Câu chuyện về đồng tính là một ví dụ như thế, những người đồng tính vẫn thường được nhắc đến ở nhiều nơi, từ quán nước vỉa hè tới những nhà hàng sang trọng, từ miền Bắc đến tận phía Nam. Các câu chuyện về người đồng tính cũng xuất hiện khá nhiều trên báo chí, phim ảnh và truyền hình. Tưởng như đồng tính đã không còn là “chuyện xa lạ” như nhiều năm về trước, khi đất nước mới mở cửa, nhưng thực tế, những người đồng tính thật sự vẫn còn nỗi niềm suy tư khi xã hội Việt Nam hiện nay vẫn không cho họ cái quyền gọi là bình đẳng. Lẽ ra mọi người nên cảm thông và san sẻ với họ nhiều hơn thay vì ném cho họ những cái nhìn kỳ thị, vì họ là những con người bất hạnh, họ yêu mà không bao giờ được đáp lại, hy sinh mà không bao giờ được bù đắp, cũng như khao khát mà không bao giờ được thỏa mãn. Đồng tính không phải là một tệ nạn như ma túy, thuốc lắc, mại dâm, AIDS… vậy tại sao mọi người lại đồng hóa họ như những tệ nạn, đồng tính là bẩm sinh, họ không có quyền lựa chọn, cũng như không thể nào làm khác đi được, chẳng ai muốn lâm vào cảnh trớ trêu như thế. Phải chăng đã đến lúc, xã hội có cái nhìn thoáng hơn cho những thành viên mang xu hướng tính dục khác, và cho họ được quyền sống bình thường như bao nhiêu cá thể khác của cộng đồng loài người. Thực chất, khi chúng ta tìm hiểu, đánh giá về quyền của người đồng tính sẽ không hề có ý nghĩa muốn cổ vũ cho một trào lưu mới mà nên được hiểu đây chính là thay tiếng nói cho những người đồng tính. Họ không có lỗi trước khuynh hướng giới tính của họ, họ cũng là những con người có đóng góp cho xã hội và cần được chấp nhận một cách bình đẳng, với sự cảm thông và khoan dung hơn của dân tộc Việt Nam./.
* Bộ Tư pháp. Bài viết chỉ phản ánh quan điểm của cá nhân tác giả.
 1 Trích Báo cáo về quan điểm, định hướng của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại cuộc họp của Ban soạn thảo ngày 6/12/2012.
 2 Ý kiến trong cuộc họp của Ban soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, nguồn: Hoàng Thư, Dự án Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi): Tránh tình trạng Luật quy định một đằng, thực tế thi hành một nẻo, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Lists/HDLanhDaoBo/View_Detail.aspx?ItemID=5754, ngày 7/12/2012.
3  Ý kiến nêu ra tại Hội thảo do Bộ Tư pháp tổ chức: “Nhận diện những bất cập trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 từ góc nhìn thực tế”, Hà Nội, tháng 7/2012.
4  James W. Vander Zanden: Sociology the Core, Mc. Graw Publishing Company, 1990, p. 225.
5  Khoản 10, Điều 8, Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.
7  Nhận định chung thứ 19: Bảo vệ gia đình, quyền hôn nhân và bình đẳng của các phối ngẫu, Uỷ ban Nhân quyền, Văn kiện Liên hợp quốc, HRI/GEN/1/Rev.2 (1990), tại 2.
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Human Rights, LGBT, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: