Archive for Tháng Một 2013

Thông báo về việc sử dụng bài viết

Tháng Một 23, 2013

Thân chào tác giả TRƯƠNG HỒNG QUANG!

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật vui mừng và trân trọng thông báo bài viết: “MỘT SỐ KIẾN NGHỊ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TẠI VIỆT NAM” của tác giả đã được duyệt đưa vào ngân hàng bài có thể sử dụng để đăng trên Tạp chí trong thời gian tới. Vì vậy, chúng tôi đề nghị tác giả không gửi bài viết đến một Tạp chí khác và cho phép chúng tôi được quyền chủ động đăng tải bài viết vào thời gian thích hợp sớm nhất có thể. Trong trường hợp bài viết này đã được đăng tải trên một Tạp chí khác, đề nghị tác giả thông báo lại để chúng tôi đưa bài viết ra khỏi ngân hàng bài có thể sử dụng.

Trân trọng cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự cộng tác thường xuyên của tác giả.

Kính chúc tác giả và gia đình sức khoẻ và thành công!

Advertisements

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT

Tháng Một 22, 2013


Trương Hồng Quang*

Phạm Mai Diệp**

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2012)

1. Khái quát chung về quyền phúc quyết

1.1. Quan niệm về quyền phúc quyết   

Khi nghiên cứu ngôn ngữ thế giới, chúng tôi nhận thấy khái niệm phúc quyết dường như không phổ biến như khái niệm trưng cầu dân ý. Trong tiếng Latin, thuật ngữ plebiscitum (nghĩa là “cái mà dân đã nói”, thường được dịch là “phúc quyết”) được xem là gần đồng nghĩa với thuật ngữ referendum (nghĩa là “điều cần phải được thông báo”, ngôn ngữ hiện đại dịch là “trưng cầu dân ý”). Plebiscitum cũng là ý kiến của cử tri nhưng thường là các cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân về các vấn đề quan trọng hơn cả đối với đất nước như vấn đề lãnh thổ, các vấn đề quốc tế, các vấn đề liên quan tới cá nhân (trưng cầu dân ý về ứng viên duy nhất chức vụ Chủ tịch nước)[1]. Trường hợp này người Ai Cập gọi là referendum, còn người Pakistan lại gọi là plebiscitum. Thực ra trong ngôn ngữ của nhiều nước, hai thuật ngữ này không được phân biệt rõ, nhất là các ngôn ngữ ngoài châu Âu. Ngay cả trong Hiến pháp các nước cũng không sử dụng thuật ngữ “phúc quyết” mà chỉ đề cập đến “trưng cầu dân ý”. Tuy nhiên, trong Hiến pháp một số nước, trưng cầu dân ý là phương thức để thực hiện quyền biểu quyết, quyết định của nhân dân đối với một vấn đề quan trọng nào đó sau khi đã được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua. Và như vậy, Hiến pháp các nước đã công nhận quyền phúc quyết – khái niệm mà các nhà khoa học Việt Nam hay sử dụng.

Phân tích theo khía cạnh thuật ngữ, vào năm 1957 và 2000, các tác giả Đào Duy Anh và Phạm Văn Các trong hai cuốn Từ điển Hán – Việt của mình đã giải thích nghĩa của từ này. Theo đó, thuật ngữ phúc quyết là từ Hán – Việt, được ghép bởi hai từ là phúcquyết: phúc có nghĩa là “lật lại, xét kỹ”; quyết có nghĩa là “quyết định”[2]. Như vậy, có thể hiểu phúc quyết là việc đưa một vấn đề đã được quyết định (bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền) ra để biểu quyết lại.

Trong lịch sử hệ thống pháp luật của nước ta, thuật ngữ phúc quyết rất ít khi được sử dụng, chúng ta chỉ có thể thấy thuật ngữ này được sử dụng trong Hiến pháp năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa phương vào cùng thời điểm đó. Trong Hiến pháp năm 1946 có quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý” (Điều thứ 32); “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia…” (Điều thứ 21); việc sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo quy định: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (điểm c, Điều thứ 70). Trong Sắc lệnh số 63-SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định: “Nếu một phần ba (1/3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết Ủy ban hành chính xã thì Ủy ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín nhiệm” (Điều thứ 18)[3]. (more…)

Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

Tháng Một 22, 2013

Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

 

Trương Hồng Quang

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội) số 24, tháng 12 năm 2012

 

1. Một số vấn đề về đồng tính

Image

Thứ nhất, “đồng tính” là từ viết tắt của cụm từ “đồng tính luyến ái” (homosexuality) là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục, cảm xúc giữa những người cùng giới tính. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law)[1], sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul  của Gustav Jager[2], Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft – Ebing[3]. Từ đó, thuật ngữ trên được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với người dị tính và người song tính[4]. Ngày nay, đồng tính luyến ái còn được gọi bằng các từ ngữ khác như: gay chỉ người đồng tính nam, les hay lesbianchỉ người đồng tính nữ. Ở Việt Nam còn có một số từ như: “bóng”, “bóng kín”, “đồng cô”, “pê đê” (dùng cho nam), “ô môi” (dùng cho nữ).

Thứ hai, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association – APA) không đưa ra lý giải khoa học cho hiện tượng đồng tính mà chỉ nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tình dục đó, nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hoà nhập cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này. APA đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973. Đồng thời vào tháng 12/1992, APA đã đưa ra lời kêu gọi thế giới cùng hành động để bảo vệ quyền lợi của những người đồng tính luyến ái: “Xét thấy luyến ái đồng giới tự thân nó không hề hàm chứa việc có hay không sự thiệt hại, tính ổn định, sự tin cậy, trong năng lực xã hội chung hay khả năng tác nghiệp (ở người đồng tính luyến ái), APA kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm thần học ở các quốc gia hãy thúc đẩy trên đất nước mình việc bãi bỏ những trừng phạt pháp lý đối với tình cảm và tình dục đồng giới có sự đồng thuận giữa những người trưởng thành. Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hãy thực hiện mọi việc có thể để giảm đi những sỉ nhục có liên quan đến luyến ái đồng giới, ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào”[5]Hiện nay, các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết đều cho rằng, khuynh hướng tình dục trên chịu sự chi phối của cả yếu tố sinh học và xã hội. Trường phái tâm thần học của Sigmund Freud đưa ra quan điểm “Trong khi hầu hết loài người sinh ra với khuynh hướng tình dục dị giới thì tâm sinh lý, với sự phát triển riêng của mình, do các yếu tố bên trong và bên ngoài chi phối, đã tạo ra hiện tượng đồng tính luyến ái”[6]. Kết quả các cuộc nghiên cứu, thống kê và khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học và nhi khoa khác đều đi đến kết luận đồng tính luyến ái không phải là sự rối loạn tâm thần mà là hiện tượng bình thường trong tự nhiên, những người có khuynh hướng tình dục trên hoàn toàn không phải do sự lựa chọn chủ quan của họ. Ngày 17/5/1990 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xoá bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần – đây là dấu mốc quan trọng góp phần hạn chế những quan niệm sai lầm về người đồng tính.

Thứ ba, cần phải hiểu rằng đồng tính là xu hướng/thiên hướng tính dục, không phải là một giới tính như suy nghĩ của nhiều người. Bản thân người đồng tính về mặt sinh học họ vẫn là nam giới/nữ giới và cũng không phải là người lưỡng giới (có thể yêu cả nam lẫn nữ). Số lượng người đồng tính (có khuynh hướng tình dục đồng giới) chiếm số lượng rất ít trong xã hội. Họ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương (bị đẩy vào thế bất bình đẳng) nên rất cần được sự quan tâm, chia sẻ của xã hội, không nên có các hành vi kỳ thị, xa lánh chỉ vì họ là người đồng tính[7]. Người đồng tính thường phải chịu các tác động tiêu cực từ xã hội và cả tâm lý sợ hãi của bản thân họ do những nhận thức sai lầm và quan điểm kỳ thị vì xu hướng tình dục không phổ biến này. Những vấn đề mà người đồng tính thường gặp có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của bản thân họ như: vấn đề thay đổi xu hướng tình dục đồng tính luyến ái[8], hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia)[9], công khai xu hướng tình dục của người đồng tính[10]. (more…)

Lý lịch khoa học đến hết tháng 12/2012

Tháng Một 12, 2013

Đề tài nghiên cứu, Dự án, Hội thảo đã tham gia

2007               Đề tài: “Một số vấn đề về Quyền được chết đối với quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam hiện nay” (Tác giả)

2008            Đề tài: “Pháp luật điều chỉnh hành vi Quảng cáo so sánh của Liên minh Châu Âu và Việt Nam: Nghiên cứu dưới góc độ so sánh luật” (Tác giả)

2009            Đề tài: “Xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh mới tại Việt Nam hiện nay” (Tác giả)

2009               Đề tài: “Nghiên cứu so sánh pháp luật bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số nước trên thế giới và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam” (viết Báo cáo phúc trình)

2009               Tham luận: “Sinh viên Luật với cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu Khoa học – Thực trạng và Giải pháp”, Hội thảo Phong cách học của Sinh viên Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 5/2009.

2009            Đề tài: “Nhận diện trường phái Kinh tế học pháp luật” (Viết Báo cáo phúc trình)

2009             Dự án điều tra cơ bản “Thực trạng tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án                   hình sự” (tham gia khảo sát)

2010               Đề tài: “Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp – công cụ pháp lý bảo vệ Người tiêu dùng” (viết chuyên đề, Báo cáo phúc trình)

2010               Dự án điều tra cơ bản “Thực trạng nuôi con nuôi” (tham gia khảo sát)

2010               Dự án “Tăng cường nhận thức pháp luật, xây dựng Hương ước tại Việt Nam” (tham gia giảng dạy tại Phù Luông, Bá Thước, Thanh Hóa)

2010               Đề tài cấp Nhà nước: “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay” (viết chuyên đề, Báo cáo kết quả tổng hợp)

2010               Đề tài cấp Bộ: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư” (viết chuyên đề, xây dựng Báo cáo phúc trình)

2010               Đề tài cấp Bộ: “Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện quyền hiến định của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổ 2001) về tham gia quản lý nhà nước” (Thư ký)

2011               Tham luận: “Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động công chứng và mức độ thể chế hóa chủ trương này trong Luật Công chứng”, Hội thảo cấp Bộ: Xã hội hóa hoạt động công chứng sau 5 năm triển khai Luật Công chứng, Hà Nội, tháng 11/2011

2011               Tham luận: “Hiệu quả phản biện xã hội của một số chủ thể thông qua một số trường hợp cụ thể tại Việt Nam”, Hội thảo cấp Bộ: Những giải pháp pháp lý cơ bản của việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả hoạt động phản biện xã hội chính sách và pháp luật của Nhà nước, Hà Nội, tháng 12/2011 (Thư ký).

2011               Dự án điều tra cơ bản “Thực trạng thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” (Thư ký)

2012               Đề tài cấp Bộ “Phân công quyền lực giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam hiện nay – Lịch sử, Lý luận và Thực tiễn” (Thư ký)

2012               Hội thảo cơ sở “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của cán bộ trẻ Viện Khoa học Pháp lý” (Chủ nhiệm)

2013               Đề tài cấp cơ sở “Các vấn đề pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay” (Chủ nhiệm)

Tạp chí chuyên ngành

2009               Bàn về Quyền được chết và vấn đề Luật An tử ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước & Pháp                     luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số 06/2009 (tác giả)

2010               Các nguyên lý của chế định trách nhiệm sản phẩm tại Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số 01/2010 (đồng tác giả)

2010               Chế định trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia Asean, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số tháng 07/2010 (đồng tác giả)

2010             Sinh viên Luật với Cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học – Thực trạng và giải pháp,           Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), 07/2010 (tác giả)

2010             Một số vấn đề về hành vi quảng cáo so sánh theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp                       chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), 08/2010 (tác giả)

2010             Nghiên cứu xây dựng một số nội dung cơ bản của Luật An tử, Tạp chí Nghiên cứu Lập                    pháp (Văn phòng Quốc hội), số 19, 10/2010 (tác giả)

2010               Một số vấn đề chung về chế định Trách nhiệm sản phẩm và vai trò của chế định này dưới góc độ bảo vệ Người tiêu dùng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số 12/2010 (đồng tác giả)

2011            Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam: Những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 6, 3/2011 (tác giả)

2011            Bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả và nhãn hiệu hàng hoá theo pháp luật Nhật Bản và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 6/2011 (đồng tác giả).

2011            Hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), 6/2011 (đồng tác giả)

2011            Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Canada, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), 7/2011 (tác giả)

2011            Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), 9/2011 (đồng tác giả)

2011            Phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 19, tháng 10/2011 (tác giả)

2012            Trường phái Kinh tế học Pháp luật và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 5, tháng 3/2012 (đồng tác giả)

2012            Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 3/2012 (tác giả)

2012            Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 7/2012 (tác giả)

2012            Đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), số 15, tháng 8/2012 (tác giả)

2012            Bảo vệ môi trường trong các làng nghề: Những bất cập trong thực thi pháp luật, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), số 21, tháng 11/2012 (tác giả)

2012            Vấn đề trưng cầu ý dân trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số tháng 8/2012 (tác giả)

2012            Những vấn đề cơ bản về quyền phúc quyết, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 10/2012 (tác giả)

2012            Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 24, tháng 12/2012 (tác giả)

2012               Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 12/2012 (tác giả).

 

Sách chuyên khảo, sách tham khảo

2009               Sức nước ngàn năm (tập thể tác giả), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 9/2009

2011            Tìm hiểu Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2001, 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 3/2011 (đồng tác giả)

2011            Tìm hiểu Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 9/2011 (đồng tác giả)

2012            Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tháng 5/2012 (tập thể tác giả)

2012               Về Trường phái Kinh tế học Pháp luật, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 7/2012 (tập thể tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 6/2012 (đồng tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 6/2012 (đồng tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 9/2012 (tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 11/2012 (đồng tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 11/2012 (đồng tác giả)

Hội nghị toàn quốc triển khai việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Tháng Một 9, 2013
Hội nghị toàn quốc triển khai việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 38/2012/QH13 của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ngày 8/1/2013, Hội nghị toàn quốc triển khai lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được tổ chức tại Hà Nội. Các đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư, Ủy viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo trung ương, Ủy viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Uông Chu Lưu, Ủy viên BCH trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, chủ trì hội nghị.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định: lấy ý kiến nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng của quốc gia, cần sự tham gia rộng khắp, thực chất của nhân dân. Do đó, việc lấy ý kiến nhân dân cần phải được triển khai đồng bộ, khoa học, hiệu quả, đồng thời phải tiến hành thận trọng, công khai, dân chủ. Trong lịch sử lập hiến của nước ta, việc xây dựng, ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp đều tiến hành tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Đây là cách thức dân chủ, thể hiện quyền và vai trò làm chủ của nhân dân đối với các vấn đề quốc gia đại sự, tạo điều kiện để người dân có thể thể hiện các quan điểm, chính kiến về toàn bộ Hiến pháp nói chung cũng như đối với từng điều khoản cụ thể của Hiến pháp.

 Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đã nêu bật những nội dung cơ bản của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nội dung lấy ý kiến tập trung vào những vấn đề quan trọng như Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người và nghĩa vụ công dân; kinh tế, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật lập hiến.

Theo Kế hoạch số 216/KH-UBSĐHP của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân sẽ diễn ra từ ngày 2/1/2013 đến ngày 31/3/2012. Đối tượng lấy ý kiến bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các cơ quan, tổ chức ở trung ương và ở địa phương.

Để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp được triển khai có hiệu quả, đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo trung ương nhấn mạnh: cùng với các công việc quan trọng khác, công tác tư tưởng, tuyên truyền có vai trò rất quan trọng, làm cho nhân dân nhận thức sâu sắc về quyền và trách nhiệm của mình trong việc tham gia một cách tích cực, tự giác vào việc đóng góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Phát biểu bế mạc hội nghị, đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư khẳng định: Đây là công tác trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, nhằm phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, tâm huyết của cả dân tộc, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp, nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với Hiến pháp và việc thực hiện Hiến pháp, vì vậy cần kiểm tra đôn đốc, kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc phát sinh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc để việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân khẩn trương, nghiêm túc, đúng tiến độ và hiệu quả.

http://www.nclp.org.vn/thong_tin_cong_tac_lap_phap/hoi-nghi-toan-quoc-trien-khai-viec-to-chuc-lay-y-kien-nhan-dan-ve-du-thao-sua-111oi-hien-phap-1992

Trưng cầu ý dân và những rào cản tại Việt Nam

Tháng Một 9, 2013

Góc Nhìn Phát Triển | 08/01/2013

Trương Hồng Quang*

Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để tiến đến việc ban hành một bản Hiến pháp mới vào cuối năm 2013. Đây được xem là một cuộc sinh hoạt chính trị lớn của nước ta. Trong quá trình này, giai đoạn lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Hiến pháp được tiến hành từ ngày 2/1/2013 đến hết ngày 31/3/2013. Nhiều người sẽ băn khoăn tự hỏi rằng tại sao là “lấy ý kiến nhân dân” mà không phải là “trưng cầu ý dân”.

Thực chất đây đều là hai hình thức lấy ý kiến nhân dân về một vấn đề quan trọng nào đó và đều là những quyền chính trị quan trọng đã được hiến định (1). Tuy nhiên, hai hình thức này có sự khác nhau nhất định. Đối với trưng cầu ý dân, Nhà nước đưa ra hai lựa chọn cho nhân dân: đồng ý không đồng ý (một dự thảo Hiến pháp, việc gia nhập điều ước quốc tế, chia tách, sáp nhập địa giới hành chính…) thông qua việc bỏ phiếu kín. Trên thế giới hiện nay có hai loại trưng cầu ý dân: kết quả của nhân dân là kết quả cuối cùng hoặc kết quả đó chỉ là cơ sở để Nhà nước xem xét đưa ra quyết định cuối cùng. Đối với hình thức lấy ý kiến nhân dân, Nhà nước đưa ra một vấn đề/dự thảo để nhân dân đóng góp ý kiến hoàn thiện. Theo đó, nhân dân có thể góp ý kiến với toàn bộ hoặc một phần nội dung vấn đề, không thực hiện bỏ phiếu đồng ý hay không đồng ý như hình thức trưng cầu ý dân. Các ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được Nhà nước xem xét tiếp thu hoặc không tiếp thu. Tại Việt Nam hiện nay, bản thân quyền trưng cầu ý dân đang vướng phải một số rào cản nên đến nay vẫn chưa được triển khai trong thực tiễn.  (more…)

Bài Tạp chí tháng 12/2012

Tháng Một 6, 2013

Đây là hai bài cuối cùng của năm 2012:

1. Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 24, tháng 12/2012 (tác giả)

2. Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 12/2012 (tác giả).