Trưng cầu ý dân và những rào cản tại Việt Nam

Góc Nhìn Phát Triển | 08/01/2013

Trương Hồng Quang*

Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để tiến đến việc ban hành một bản Hiến pháp mới vào cuối năm 2013. Đây được xem là một cuộc sinh hoạt chính trị lớn của nước ta. Trong quá trình này, giai đoạn lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Hiến pháp được tiến hành từ ngày 2/1/2013 đến hết ngày 31/3/2013. Nhiều người sẽ băn khoăn tự hỏi rằng tại sao là “lấy ý kiến nhân dân” mà không phải là “trưng cầu ý dân”.

Thực chất đây đều là hai hình thức lấy ý kiến nhân dân về một vấn đề quan trọng nào đó và đều là những quyền chính trị quan trọng đã được hiến định (1). Tuy nhiên, hai hình thức này có sự khác nhau nhất định. Đối với trưng cầu ý dân, Nhà nước đưa ra hai lựa chọn cho nhân dân: đồng ý không đồng ý (một dự thảo Hiến pháp, việc gia nhập điều ước quốc tế, chia tách, sáp nhập địa giới hành chính…) thông qua việc bỏ phiếu kín. Trên thế giới hiện nay có hai loại trưng cầu ý dân: kết quả của nhân dân là kết quả cuối cùng hoặc kết quả đó chỉ là cơ sở để Nhà nước xem xét đưa ra quyết định cuối cùng. Đối với hình thức lấy ý kiến nhân dân, Nhà nước đưa ra một vấn đề/dự thảo để nhân dân đóng góp ý kiến hoàn thiện. Theo đó, nhân dân có thể góp ý kiến với toàn bộ hoặc một phần nội dung vấn đề, không thực hiện bỏ phiếu đồng ý hay không đồng ý như hình thức trưng cầu ý dân. Các ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được Nhà nước xem xét tiếp thu hoặc không tiếp thu. Tại Việt Nam hiện nay, bản thân quyền trưng cầu ý dân đang vướng phải một số rào cản nên đến nay vẫn chưa được triển khai trong thực tiễn. 
Rào cản về mặt cơ chế
Liên quan đến vấn đề trưng cầu ý dân, Hiến pháp năm 1992 đã có một số quy định có tính chất tích cực hơn so với hai bản Hiến pháp trước đó là Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1959. Trong Hiến pháp hiện hành đã giành 3 điều quy định về vấn đề trưng cầu ý dân. Về khía cạnh quyền công dân, Hiến pháp năm 1992 đã xác lập quyền biểu quyết của công dân khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân như là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân (Điều 53). Về khía cạnh trách nhiệm của Nhà nước, bên cạnh việc quy định rõ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân, Hiến pháp còn quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện việc trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội; quy định việc phát hành phiếu trưng cầu, thể thức bỏ phiếu và kiểm phiếu; đồng thời, cũng giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội trách nhiệm tổ chức việc bỏ phiếu, tổng hợp, công bố kết quả trưng cầu và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Tuy nhiên có thể thấy các quy định về trưng cầu ý dân hiện nay còn mang tính “khung”, chưa được cụ thể hóa nên chỉ mang tính chất “tuyên ngôn”, chưa đủ cơ sở pháp lý để có thể triển khai tổ chức thực hiện được việc trưng cầu ý dân trên thực tế. Những hạn chế này được thể hiện ở một số vấn đề như: chưa xác định rõ những vấn đề nào bắt buộc phải đưa ra trưng cầu ý dân; những vấn đề nào có thể đưa ra, có thể không đưa ra trưng cầu ý dân; chưa quy định rõ ràng và đầy đủ về quy mô của các cuộc trưng cầu ý dân; chưa quy định rõ cách thức Quốc hội quyết định việc trưng cầu ý dân như thế nào; chưa quy định rõ ai và với điều kiện như thế nào thì có quyền trình Quốc hội xem xét quyết định việc đưa một vấn đề cụ thể ra trưng cầu ý dân.
Pháp luật cũng chưa có quy định rõ về giá trị của kết quả trưng cầu ý dân cho nên nếu có tổ chức trưng cầu ý dân thì cũng không biết kết quả cuộc trưng cầu ý dân có giá trị như thế nào. Chính vì những hạn chế này đã làm cho quyền trưng cầu ý dân thực tế chỉ là quyền dân chủ hình thức, chưa đi vào thực tiễn cuộc sống. Chính vì vậy, có khá nhiều trường hợp trước đây đáng ra cần phải được tổ chức trưng cầu ý dân (ví dụ như việc sáp nhập Hà Tây và Hà Nội) nhưng đã không được tổ chức. Dĩ nhiên, nếu các quy định về trưng cầu ý dân được cụ thể hóa thì trong hầu hết các trường hợp việc đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân sẽ do Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân địa phương quyết định.
Rào cản về mặt nhận thức
 
Thực tế hiểu biết của nhiều người về trưng cầu ý dân còn chưa thực sự đúng đắn, chưa phân biệt được với các hình thức lấy ý kiến khác. Bên cạnh đó, hiện nay có một số tác giả (ở cả trong và ngoài nước) cho rằng trình độ người dân không đồng đều nên nhiều người dân không có khả năng đánh giá đúng ý nghĩa của trưng cầu ý dân, không có khả năng quyết định đúng đắn các vấn đề quan trọng và phức tạp, nhất là đối với những người dân có trình độ thấp (2)
Thực ra, một người dân, khi tham gia quyết định những vấn đề chính trị, thì họ phải nhìn nhận theo tiêu chí riêng của họ. Rõ rang, khó có thể nói rằng việc lựa chọn phương án nào (trong số các phương án đưa ra trong một cuộc trưng cầu ý dân) là khôn ngoan nhất. Vấn đề là ở chỗ, kết quả của trưng cầu ý dân là sự phản ánh đa số ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Nói một cách khác, không ai phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân bằng chính nhân dân. Chúng tôi cho rằng đây là ưu thế tuyệt đối của dân chủ trực tiếp so với dân chủ đại diện. Điều đó rõ ràng góp phần thực hiện định hướng chung của Đảng và Nhà nước ta là chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nhân dân,, phát huy trí tuệ của nhân dân và nhất là phải hợp lòng dân.
Như vậy, rào cản ở đây cũng xuất phát từ chính người dân nhưng rào cản nhận thức của chính quyền trong việc đánh giá vai trò, vị trí của người dân cũng chưa thực sự toàn diện. Hơn nữa, có lẽ tâm lý e ngại tổ chức trưng cầu ý dân vẫn còn tồn tại trong hệ thống bộ máy của Nhà nước. Đây là một thực tế nếu không được khắc phục thì sẽ khó có dân chủ thực sự. Có thể nhận thấy hiệu quả việc thực hiện dân chủ trực tiếp nói chung và trưng cầu ý dân nói riêng phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố. Mọi vấn đề đều có tính hai mặt ưu điểm và hạn chế nhưng rõ ràng, hầu hết các cuộc trưng cầu ý dân đều phát huy ý nghĩa của nó, đó là phản ánh ý chí của nhân dân. Cũng như nó đang và sẽ xảy ra trong đời sống chính trị của nhiều nước và nhiều khu vực, trưng cầu dân ý sẽ là nhu cầu ngày càng rõ nét hơn ở Việt Nam./.
* Bộ Tư pháp. Bài viết chỉ phản ánh quan điểm của tác giả
1. Quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân quy định tại Điều 53 Hiến pháp hiện hành.
2. Chẳng hạn, theo Chris Patten – một chính khách Anh như đã nói ở trên hoặc xem Popular Attitudes towards Direct Democracy, Shaun Boler-Univesity of California, River Side; Todd Donovan- Western Washington University; Jeffrey Karpp – Texas Tech University & University of Twente; page 4, nguồn:
http://www.ac.wwu.edu/~donovan/bdkapsa03.pdf) hoặc xem Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 8/2005, tr. 13.
Dẫn theo: http://dienngon.vn/Blog/Article/Trung-cau-dan-y-va-nhung-rao-can-tai-Viet-Nam
Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Luật Hiến pháp, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: