Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

 

Trương Hồng Quang

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội) số 24, tháng 12 năm 2012

 

1. Một số vấn đề về đồng tính

Image

Thứ nhất, “đồng tính” là từ viết tắt của cụm từ “đồng tính luyến ái” (homosexuality) là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục, cảm xúc giữa những người cùng giới tính. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law)[1], sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul  của Gustav Jager[2], Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft – Ebing[3]. Từ đó, thuật ngữ trên được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với người dị tính và người song tính[4]. Ngày nay, đồng tính luyến ái còn được gọi bằng các từ ngữ khác như: gay chỉ người đồng tính nam, les hay lesbianchỉ người đồng tính nữ. Ở Việt Nam còn có một số từ như: “bóng”, “bóng kín”, “đồng cô”, “pê đê” (dùng cho nam), “ô môi” (dùng cho nữ).

Thứ hai, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association – APA) không đưa ra lý giải khoa học cho hiện tượng đồng tính mà chỉ nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tình dục đó, nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hoà nhập cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này. APA đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973. Đồng thời vào tháng 12/1992, APA đã đưa ra lời kêu gọi thế giới cùng hành động để bảo vệ quyền lợi của những người đồng tính luyến ái: “Xét thấy luyến ái đồng giới tự thân nó không hề hàm chứa việc có hay không sự thiệt hại, tính ổn định, sự tin cậy, trong năng lực xã hội chung hay khả năng tác nghiệp (ở người đồng tính luyến ái), APA kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm thần học ở các quốc gia hãy thúc đẩy trên đất nước mình việc bãi bỏ những trừng phạt pháp lý đối với tình cảm và tình dục đồng giới có sự đồng thuận giữa những người trưởng thành. Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hãy thực hiện mọi việc có thể để giảm đi những sỉ nhục có liên quan đến luyến ái đồng giới, ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào”[5]Hiện nay, các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết đều cho rằng, khuynh hướng tình dục trên chịu sự chi phối của cả yếu tố sinh học và xã hội. Trường phái tâm thần học của Sigmund Freud đưa ra quan điểm “Trong khi hầu hết loài người sinh ra với khuynh hướng tình dục dị giới thì tâm sinh lý, với sự phát triển riêng của mình, do các yếu tố bên trong và bên ngoài chi phối, đã tạo ra hiện tượng đồng tính luyến ái”[6]. Kết quả các cuộc nghiên cứu, thống kê và khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học và nhi khoa khác đều đi đến kết luận đồng tính luyến ái không phải là sự rối loạn tâm thần mà là hiện tượng bình thường trong tự nhiên, những người có khuynh hướng tình dục trên hoàn toàn không phải do sự lựa chọn chủ quan của họ. Ngày 17/5/1990 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xoá bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần – đây là dấu mốc quan trọng góp phần hạn chế những quan niệm sai lầm về người đồng tính.

Thứ ba, cần phải hiểu rằng đồng tính là xu hướng/thiên hướng tính dục, không phải là một giới tính như suy nghĩ của nhiều người. Bản thân người đồng tính về mặt sinh học họ vẫn là nam giới/nữ giới và cũng không phải là người lưỡng giới (có thể yêu cả nam lẫn nữ). Số lượng người đồng tính (có khuynh hướng tình dục đồng giới) chiếm số lượng rất ít trong xã hội. Họ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương (bị đẩy vào thế bất bình đẳng) nên rất cần được sự quan tâm, chia sẻ của xã hội, không nên có các hành vi kỳ thị, xa lánh chỉ vì họ là người đồng tính[7]. Người đồng tính thường phải chịu các tác động tiêu cực từ xã hội và cả tâm lý sợ hãi của bản thân họ do những nhận thức sai lầm và quan điểm kỳ thị vì xu hướng tình dục không phổ biến này. Những vấn đề mà người đồng tính thường gặp có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của bản thân họ như: vấn đề thay đổi xu hướng tình dục đồng tính luyến ái[8], hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia)[9], công khai xu hướng tình dục của người đồng tính[10].

 Tại Việt Nam, một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (ISEE) về sự kỳ thị người đồng tính nam cho thấy “1,5% đã bị đuổi học khi bị phát hiện là người đồng tính; 4,1% bị kỳ thị về vấn đề nhà ở; 4,5% từng bị tấn công và bị đánh đập vì là người đồng tính; 15,1% cho biết bị gia đình chửi mắng vì là người đồng tính”[11]. Một nghiên cứu khác về sức khỏe và tinh thần của người nam quan hệ với người cùng giới đã đưa ra một số biểu hiện của thái độ kỳ thị người đồng tính như “Định kiến và phân biệt đối xử, lăng mạ và bạo hành thể xác ở gia đình, chê cười tại trường học, sa thải hoặc từ chối tuyển dụng tại nơi làm việc, gây áp lực phải lấy vợ và có con, một số người đồng tính còn kỳ thị với chính bản thân, coi mình mắc bệnh kinh niên và dị thường hoặc có suy nghĩ hoặc hành động tự tử”[12]. Hội chứng sợ đồng tính luyến ái đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực, đe dọa đời sống tinh thần và sức khỏe người đồng tính khiến cho việc hoà nhập xã hội của họ gặp nhiều khó khăn. Sự gia tăng hay ngầm không phản đối những hành vi kỳ thị trên đồng thời là dấu hiệu đi xuống của đạo đức khi con người mặc nhiên để những điều bất công đó được tồn tại.

Như vậytrên phương diện khoa học, người đồng tính được xem như người bình thường nhưng thực tế cuộc sống lại đặt người đồng tính vào những nguy cơ bị xâm hại, đe dọa xâm hại đến đời sống của họ xuất phát từ các thái độ tiêu cực của xã hội. Những định kiến, kỳ thị nêu trên tạo ra sự uy hiếp và đối xử không công bằng với bộ phận người đồng tính trong xã hội – nhóm người yếu thế, đang chịu những tổn thương nhất định trong việc hoà nhập với cuộc sống thật của mình và với cộng đồng xã hội nói chung. Sự tồn tại của người đồng tính trong xã hội với những khó khăn, thử thách mà họ đang chịu đựng sẽ là những căn cứ quan trọng để đưa ra kiến nghị về việc thừa nhận các quyền cho người đồng tính.

2. Cơ sở lý luận tiếp cận quyền của người đồng tính

2.1. Quyền của người đồng tính có bản chất là quyền tự nhiên[13]của con người

Một là, về sự công bằng trong quyền được sống và được tự do: Người đồng tính là người bình thường như mọi cá nhân khác trong xã hội có khả năng thực hiện các nghĩa vụ và được quyền hưởng các quyền bình đẳng, ngang bằng như những người khác. Một trong những quyền quan trọng nhất là quyền được công nhận và tôn trọng. Xã hội cần nhìn nhận người đồng tính như người bình thường với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, không được phép miệt thị, xúc phạm hoặc coi họ như những bệnh nhân lệch lạc về tâm thần. Quyền tự nhiên cho rằng “con người sinh ra tự do”[14], trong đó, theo John Locke[15], “tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào”. Như vậy, quyền được công khai xu hướng tình dục của mình và sống theo bản năng của xu hướng tình dục đó là một phần của tự do. Nhưng trên thực tế, người đồng tính khi công khai xu hướng tình dục, thực hiện “quyền tự do” nói trên lại gặp nhiều sự cản trở đến từ các thành kiến xã hội và các quan điểm sai lầm dẫn đến những thiệt thòi cho họ. Quan điểm trên của John Locke có hạn chế là đã đề cao quá mức tự do của cá nhân mà chưa chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội và các lợi ích hợp pháp của cá nhân khác. Song, nếu xét điều đó đối với đòi hỏi được công khai và được xã hội công nhận thì đòi hỏi này của người đồng tính hoàn toàn không ảnh hưởng hay đe dọa đến bất kỳ lợi ích hợp pháp chung nào cả.

Hai là, về quyền mưu cầu hạnh phúc: Mưu cầu hạnh phúc là một dạng thể hiện của sự tự do, con người – bằng khả năng của mình, tìm kiếm hạnh phúc, các giá trị sống cho bản thân. Đây là điều hiển nhiên trong mọi chế độ chính trị – xã hội. Một trong các giá trị sống đó được tạo dựng từ việc kết hôn, xây dựng gia đình hạnh phúc và được nhà nước tôn trọng, bảo vệ quan hệ hôn nhân ấy. Với người đồng tính, kết hôn lại là điều rất khó. Hiện nay có các hình thức thừa nhận việc chung sống hợp pháp của người đồng tính như: cho phép kết hôn giống những cặp dị tính; công nhận dưới hình thức kết hợp dân sự (civil union) như: kết hợp dân sự, đối tác chung nhà (domestic partnership), hình thức hợp danh (partnership)… Về mặt pháp lý, họ được xem giống như một cặp vợ chồng nhưng thực tế lại bị hạn chế hơn những cặp vợ chồng dị tính khác ở sự thụ hưởng các chính sách về miễn giảm thuế chung cho vợ chồng, các chế độ an sinh xã hội, bảo hiểm, trợ cấp, quyền nhận nuôi con nuôi, thừa kế… Mặt khác, giá trị pháp lý của giấy chứng nhận kết hợp dân sự nêu trên rất hạn chế, không đương nhiên có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hoặc toàn thế giới. Đa phần các kiểu kết hợp dân sự trên chỉ có giá trị trong phạm vi bang, khu vực cho phép đăng ký kết hôn đồng tính, điều này đã gây không ít trở ngại cho các cặp đôi trên khi di chuyển hoặc thay đổi chỗ ở.

Hành vi công nhận quyền kết hôn của người đồng tính dưới các hình thức kết hợp dân sự như trên được coi như là “ban phát” quyền cho người đồng tính. Theo Thomas Paine đó là điều vô lý, vì nếu chính phủ được quyền ban phát quyền cho người khác thì cũng có thể thu hồi lại[16]. Điều này mâu thuẫn với quy tắc quyền con người là thuộc tính tự nhiên, vốn có của con người. John Locke cho rằng, chính phủ và công dân tự nguyện ký vào bản “khế ước xã hội” trao quyền lực cho chính phủ nhằm sử dụng chính phủ như một phương tiện để bảo vệ các “quyền tự nhiên” cho mình, chứ không phải là ban phát quyền và quy định các quyền ấy cho mình[17] như cách ghi nhận kết hợp dân sự trên. Rousseau trong cuốn Bàn về khế ước xã hội cho rằng, khi một người từ bỏ một vài quyền tự do của mình điều đó đồng nghĩa với việc anh ta phải được nhận lại một số lợi ích nhất định nào đó, khi nhà nước nhận được một số quyền tự do kia đồng nghĩa với việc nhà nước phải đảm đương một số trách nhiệm với họ, “các điều kiện đơn phương nếu không có gì bù lại, nếu không có gì ngang giá sẽ làm cho điều khoản ký kết mất hết ý nghĩa”[18]. Điều dễ dàng nhận thấy ở đây là người đồng tính không tự nguyện từ bỏ quyền được kết hôn của mình và nhà nước khi tự ý không thừa nhận quyền tự do kết hôn đó đã không có khoản đền bù ngang giá nào cho những người đồng tính.

Quyền tự nhiên là tư tưởng chỉ đạo, nguồn cảm hứng để các quốc gia xây dựng chế độ pháp luật hợp lý. Chịu ảnh hưởng các nguyên tắc của quyền tự nhiên, Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ có đề cập: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 từng nhắc lại hai lập luận trên và tái khẳng định các quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do của một dân tộc cũng như của mỗi con người. Trước những lý lẽ trên, chúng ta không được phép loại bỏ người đồng tính ra ngoài vòng pháp luật, mà cần có những quy định rõ ràng nhằm thừa nhận và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người đồng tính và xem đó như tất yếu trong xã hội.

2.2. Quyền của người đồng tính cần được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật

Quyền con người trong pháp luật là sự cụ thể hoá các quyền tự nhiên của con người vào một cơ chế rõ ràng, minh bạch và được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước. Thông qua pháp luật, các nghĩa vụ sẽ được tôn trọng và thực thi, các quyền trở thành quy tắc ứng xử bắt buộc và thống nhất chung cho toàn xã hội. Quyền con người trong pháp luật là phạm trù rộng lớn không chỉ trong pháp luật của từng quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế thông qua các điều ước quốc tế và các tuyên ngôn về nhân quyền. Trong phạm vi quốc gia, quyền con người được thể chế hoá và bảo vệ đầu tiên thông qua hiến pháp. Các quy định trong hiến pháp ghi nhận các quyền tự do của con người, tạo ra các giới hạn pháp lý cho tổ chức và hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ chặt chẽ hơn các quyền cơ bản của con người[19] để xây dựng chính quyền dựa trên nhận thức nhân bản là “con người vốn sinh ra là tự do”. Hiến pháp Hoa Kỳ là ví dụ tiêu biểu về việc bảo vệ các quyền con người và được xem như “luật về các quyền”, quyền cơ bản của con người được chính thức và trực tiếp đặt vào trung tâm hệ thống pháp lý Hoa Kỳ. Với vấn đề đồng tính, Toà án Hoa Kỳ đã có những phán quyết quan trọng dựa trên các quy định của Hiến pháp[20]. Theo đó, luật pháp Hoa Kỳ đã sử dụng quyền con người để thừa nhận và bảo vệ các quyền lợi của người đồng tính.

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã ghi nhận và bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội cho các công dân Việt Nam. Xét ở khía cạnh nào đó, người đồng tính là công dân trong xã hội nên sẽ có quyền thụ hưởng các quyền trên. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính (khoản 5 Điều 10).

Trong luật quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc thì quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc thể hiện sâu sắc tinh thần đó. Chủ thể được thừa hưởng các quyền con người là tất cả những người đang sống và tồn tại trên thế giới, là “tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội, không phân biệt địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ uỷ trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế” (Điều 2). Dưới đây là một số quyền cơ bản mà hiện nay người đồng tính chưa được thụ hưởng đầy đủ:

– Quyền được tôn trọng về phẩm giá của mỗi cá nhân: mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền (Điều 1);

– Quyền tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền; quyền sống, tự do và an toàn cá nhân; quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ như nhau, không có bất kỳ sự phân biệt nào; quyền tự do với cuộc sống riêng tư; quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; quyền làm việc, tự do làm việc, hưởng các điều kiện làm việc như nhau và không bị phân biệt đối xử (các Điều 1, 3, 6, 7, 12, 19 và 23);

– Quyền được bảo vệ, không bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm; được bảo vệ chống lại mọi hành vi, hình thức phân biệt đối xử hoặc xúi giục phân biệt đối xử; quyền được pháp luật bảo vệ chống lại các hành vi can thiệp hoặc xâm phạm đời sống riêng tư, gia đình, nơi ở, danh dự và uy tín; gia đình được nhà nước và xã hội bảo vệ (các Điều 5, 7, 12 và 16);

– Quyền kết hôn và xây dựng gia đình: nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình, không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch và tôn giáo. Họ được hưởng mọi quyền bình đẳng như nhau khi kết hôn, trong thời gian chung sống và sau khi ly hôn (Điều 16);

– Quyền bình đẳng trong việc hưởng các dịch vụ xã hội (Điều 21);

– Quyền được làm việc, tự do chọn nghề, được có những điều kiện làm việc thuận lợi, chính đáng và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp (Điều 23).

Bên cạnh Tuyên ngôn Nhân quyền, Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá năm 1966 đều đề cập các quyền tự do cơ bản của con người tương tự như trên, “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới”[21]. Như vậy, người đồng tính với tư cách là một phần tử trong đại gia đình đó cần phải được thừa nhận và bảo vệ ở các quyền: tự do, bình đẳng, quyền kết hôn và quyền được bảo vệ một cách cụ thể và rõ ràng.

Về vấn đề quyền của người đồng tính, tháng 12/2008, Tổ chức của những người ủng hộ quyền cho người đồng tính đã trình lên Liên hợp quốc dự thảo Tuyên bố của Liên hợp quốc về định hướng tình dục và sự đồng giới (the United Nations Declaration on Sexual orientation and Gender Identity) với nội dung lên án những hành vi bạo lực, quấy rối, phân biệt đối xử, loại trừ, kỳ thị, định kiến, sự giết hại, hành quyết, tra tấn, bắt giữ tuỳ tiện và tước bỏ các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá dựa trên xu hướng tình dục và đồng giới[22]. Dự thảo nhận được sự ủng hộ của Liên minh châu Âu nhưng vấp phải sự phản đối của các nước thuộc khối Ả Rập và Vatican, các quốc gia này lấy lý do việc pháp điển hoá hôn nhân đồng giới và các quan hệ dân sự khác có thể làm tổn hại đến đức tin của các tôn giáo cũng như đến các giá trị đạo đức và quan hệ xã hội. Ngày 19/7/2010, Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc chính thức công nhận tư cách tư vấn tại Hội đồng Liên hợp quốc của Uỷ ban quốc tế về quyền của người đồng tính (International Gay and Lesbian Rights Commission, IGLRC)[23]. Vào khoảng tháng 6 hàng năm, khắp nơi trên thế giới lại tổ chức những cuộc diễu hành đồng tính (pride parade) để tưởng nhớ sự kiện “Bạo động Stonewall”[24] vào ngày 28/6/1969 – sự kiện có tính chất bước ngoặt trong lịch sử đấu tranh cho quyền lợi của người đồng tính đồng thời biểu dương cho văn hoá đồng tính.

Cuối cùng, có thể thấy việc thừa nhận và bảo vệ quyền cho người đồng tính – một phạm trù của quyền tự nhiên, chỉ mang tính khả thi khi được pháp luật chính thức hoá. Quy định quyền của người đồng tính trong pháp luật vừa đảm bảo cho người đồng tính có cơ sở pháp lý vững vàng để tự bảo vệ quyền lợi cho chính mình và vừa đảm bảo sự tuân thủ, tôn trọng các quyền đó của các chủ thể khác trong xã hội.

2.3. Công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính bảo đảm giá trị xã hội của pháp luật

Xác lập sự điều chỉnh lên một quan hệ xã hội cụ thể không chỉ dựa trên ý chí, quyền lợi của giai cấp thống trị mà còn phụ thuộc vào bản chất xã hội của quan hệ đó và mối liên hệ với các yếu tố khác. Yêu cầu công nhận, đề ra các biện pháp bảo vệ quyền của người đồng tính trong pháp luật sẽ được xem xét dựa vào các căn cứ đó.

Về mặt kinh tế, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã nới rộng khoảng cách giàu nghèo, gia tăng sự chênh lệch trong mức sống và sự hưởng thụ quyền lợi của các nhóm người trong xã hội. Trong đó các nhóm thiểu số yếu tiềm năng kinh tế, thiếu quyền lực chính trị là đối tượng dễ bị tổn thương dưới các tác động tiêu cực đó nhất. Pháp luật vì vậy cần có những điều chỉnh hợp lý để vừa thúc đẩy kinh tế phát triển, vừa hạn chế sự bất bình đẳng trong việc thụ hưởng quyền giữa các nhóm chủ thể khác nhau, vì xét cho cùng, mục đích của phát triển kinh tế là nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân và đảm bảo công bằng xã hội. Dưới ảnh hưởng của sự kỳ thị, phân biệt đối xử, người đồng tính có thể được xem như đối tượng yếu thế trong xã hội. Khi tham gia vào các quan hệ kinh tế như: tìm kiếm việc làm, cơ hội thăng tiến trong công việc, vấn đề nhà ở… họ sẽ gặp nhiều trở ngại và có thể bị đối xử bất công. Hơn nữa, do người đồng tính chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong dân số nên tiếng nói chưa được chú trọng đúng mức; hệ quả là khả năng tự thân chống đỡ, tự bảo vệ khi quyền lợi chính đáng bị xâm phạm thường rất thấp. Nói cách khác, pháp luật cần có các cơ chế hữu hiệu để bảo vệ người đồng tính khỏi các xâm hại nói trên.

Về mặt chính trị[25], khi ban hành pháp luật cần chú trọng tới địa vị pháp lý, quyền và lợi ích của các bên để có những quy định phù hợp. Thực tế cho thấy, với số lượng ít, chưa có sự góp mặt trên các diễn đàn pháp luật, người đồng tính chưa bày tỏ được quan điểm, nguyện vọng của mình để nhà làm luật xem xét và phát triển thành luật. Điều này không có nghĩa là chỉ đến khi người đồng tính lên tiếng thì pháp luật mới vào cuộc mà phải hiểu rằng, quyền được pháp luật bảo vệ các lợi ích chính đáng là đòi hỏi hợp lý của mọi công dân. Luật pháp khi ban hành phải tính đến quyền lợi chung cho cả cộng đồng, trong đó quyền của những nhóm người thiểu số, dễ bị tổn thương phải được chú ý đến. Nền luật pháp nếu không đề cập quyền lợi của số ít người yếu thế thì không thể là nền luật pháp dân chủ và tiến bộ. Đồng tính luyến ái không phải là hiện tượng xã hội có tính chất tạm thời. Sự tồn tại của hiện tượng này là tất yếu, xuất hiện ở mọi xã hội, trong mọi giai đoạn lịch sử. Sự phát triển của đời sống đã nâng cao các đòi hỏi về quyền tự do, quyền sống của con người. Trong bối cảnh đó, người đồng tính đã nảy sinh các mâu thuẫn với xã hội liên quan đến các yêu cầu được xã hội công nhận sự tồn tại của mình, được đối xử công bằng, được kết hôn như những người khác, với những giá trị truyền thống, chuẩn mực văn hoá, đạo đức lâu đời. Xung đột ngày một mạnh mẽ của các lợi ích ấy đòi hỏi cần có sự điều chỉnh hợp lý của pháp luật. Cần thiết phải có những quy phạm điều hoà, giải quyết mâu thuẫn trên để duy trì trật tự xã hội hợp lý đồng thời bảo vệ toàn diện các quyền cơ bản mà người đồng tính đáng được hưởng.

3. Kết luận

Đồng tính là hiện tượng còn gây nhiều tranh cãi trong xã hội. Hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm sai lầm hoặc chưa rõ ràng về người đồng tính. Đồng tính luyến ái không phải là bệnh mà là xu hướng tình dục. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, nhân cách người có hành vi tình dục đồng giới không có gì khác mọi người, ngoại trừ xu hướng tính dục của họ. Những người này hoàn toàn khoẻ mạnh, họ có năng lực thể chất như nhiều người khác. Họ vẫn có những đam mê công việc, yêu quý người thân và cũng biết nuôi dạy con cái như những bậc cha mẹ tốt (nếu họ nhận con nuôi). Trên thế giới hiện nay đã có nhiều quốc gia cũng như nhiều tôn giáo có cách nhìn tích cực hơn về người đồng tính. Chính vì thế, có thể thấy được cuộc chiến âm thầm nhằm bảo vệ người đồng tính của các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, các trào lưu tiến bộ xã hội đã đạt được những thành tựu đáng kể[26]. Quyền của người đồng tính là biểu hiện cụ thể của quyền tự nhiên, có tính chất xã hội, các quyền lợi đó chỉ được bảo đảm trên thực tế khi được cụ thể hoá bằng pháp luật. Bảo vệ quyền của người đồng tính – đối tượng đang bị yếu thế – sẽ góp phần củng cố tính bền vững của xã hội, của hệ thống quyền con người, quyền công dân của mỗi quốc gia./.


[1].Feray Jean-Claude, Herzer Manfred, “Homosexual Studies and Politics in the 19th Century: Karl Maria Kertbeny”,Journal of Homosexuality 19: 1, 1990.

[2] Xem: Karl Maria Kertbeny, nguồn: http://GayHistory.com.

[3] Xem: Karl Maria Kertbeny, nguồn: http://Gay History.com.

[4] Người dị tính luyến ái (người dị tính): Người có xu hướng tình dục khác giới, họ tìm thấy ở những người khác giới tính với mình sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm và tình dục. Người song tính luyến ái (người lưỡng tính): Người tìm thấy sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm và tình dục ở cả người cùng giới và người khác giới, nguồn:

http://isee.org.vn/?do=iseelg03&mod=view&id=77

[5] Tuyên bố lập trường của Trung tâm tâm lý học và tổ chức về nhân sự (Center for Organizational and Personnel Psychology) về các liệu pháp tập trung thay đổi khuynh hướng tính dục, nguồn:

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=2764&rb=0503.

[6] Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Homosexualit y#cite_note-rcp2007-59.

[7] Trương Hồng Quang, “Đám cưới đồng giới” và những vấn đề xung quanh, 2011, nguồn: Hongtquang.wordpress.com

[8] Một số người do hiểu biết nhầm lẫn về người đồng tính và người chuyển giới nên cho rằng có thể thay đổi được xu hướng tình dục trên bằng các biện pháp y học, dược học. Nhóm khác lại nghĩ nguyên nhân của hiện tượng trên là do các tác động về mặt tâm lý, tinh thần nên đã tìm mọi cách thuyết phục, ép buộc người đồng tính kết hôn với người khác giới để thay đổi tình trạng trên. Thực tế, đây là những quan điểm sai lầm, bởi vì người chuyển giới là người có các đặc điểm sinh học thể hiện giới tính nam/nữ rõ ràng nhưng bản thân lại cho rằng mình thuộc giới tính còn lại. Trong khi đó, người đồng tính là người bình thường về mặt tâm, sinh lý, họbiết rõ mình thuộc giới tính nào nhưng bản thân lại chỉ chịu sự hấp dẫn, kích thích về mặt tình dục, tình cảm với người cùng giới tính.

[9] Là thái độ ghê sợ, định kiến của xã hội đối với nhóm người đồng tính. Nguyên nhân của điều này có thể do xuất phát từ niềm tin tôn giáo khi tôn giáo đó có thái độ phản đối hành vi đồng tính, do thiếu hiểu biết, thiếu những trải nghiệm tiếp xúc với người đồng tính hoặc do những cảm giác chủ quan mặc định việc căm ghét người đồng tính. Hội chứng trên bao gồm chứng tự sợ đồng tính và chứng ghê sợ đồng tính.

[10] Công khai xu hướng tình dục hay thường được gọi là “come out” là việc người đồng tính công khai vấn đề đồng tính với chính bản thân mình, với những người xung quanh hoặc gia nhập vào cộng đồng đồng tính luyến ái. Hình thức công khai có thể là với tất cả mọi người hoặc với một số ít người. Sau khi công khai, người đồng tính sẽ dễ nhận được sự quan tâm giúp đỡ của xã hội và có cơ hội tiếp cận các thông tin hữu ích về an toàn tình dục. Tinh thần, sức khỏe của những người đã công khai thường tốt hơn những người còn giấu giếm. Tuy nhiên, công khai là thử thách lớn đối với người đồng tính vì họ phải vượt qua được những trở lực đến từbản thân và xã hội.

[11] Cộng tác nghiên cứu ISEE và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và tuyên truyền, Nghiên cứu khoa học: Thông điệp về đồng tính trên báo in và báo mạng, tr. 14, nguồn:

http://isee.org.vn/uploads/download/you4share.com_4d5258c2076fb.pdf.

[12] Xem: Giải đáp các câu hỏi của bạn để hiểu thêm về xu hướng tình dục và đồng tính luyến ái, bản dịch đã được Việt hóa và có giải thích do Viện Nghiên cứu kinh tế, xã hội và môi trường thực hiện dựa trên nguyên bản của APA (2008) với tiêu đề: “Answers to your Questions, for a better Understanding of Sexual Orientation and Homosexuality”, tr. 7, nguồn:

http://isee.org.vn/uploads/download/you4share.com_4d26c7be2730c.pdf

[13] Quyền tự nhiên (natural rights) là tổng thể những quyền mà mỗi người khi sinh ra đã được hưởng và là những nguyên tắc đạo đức cơ bản trong xã hội mà bất kỳ quốc gia nào trong quá khứ, hiện tại hay tương lai đều phải thừa nhận và tôn trọng. Nền tảng của quyền tự nhiên là các chuẩn mực về sự công bằng và nguyên tắc tự do của con người. Trong đó, người đồng tính cũng như các chủ thể khác trong xã hội, có các quyền cơ bản gồm quyền được sống, được tự do và được mưu cầu hạnh phúc.

[14] Xem: Jean Jacques Rousseau, Hoàng Thanh Đạm dịch, Khế ước xã hội, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.

[15] John Locke (1632 –1704).

[16] Xem: Thomas Paine (1731 – 1809), Rights of Man, 1791.

[17] Xem: John Locke: An Essay Concerning Human Understands, 1690;  Second Tract Of Government, 1662; Questions Concerning the Law of Nature, 1664.

[18] Jean Jacques Rousseau, sđd, tr. 10.

[19] Xem : Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí, Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr. 41.

[20] Chng hn như trong v Wisconsin v. Mitchell, Toà án ti cao nht trí cho rng vic tăng hình pht đi vi phm ti do thù ghét (hate crime) là hp pháp và không xâm hi đến quyn v t do ngôn lun nêu trong Tu chính án đu tiên. Năm 1958, Tòa án ti cao pháp vin Hoa Kỳ đã bác mt phán quyết ca mt Toà án thp hơn và to ra tin l cho rng các n phm v đng tính luyến ái không mang bn cht khiêu dâm, do đó cn phi được bo v theo quy đnh v quyn t do báo chí  Tu chính án đu tiên, ngun:http://en.wikipedia.org/wiki/LGBT_rights_in_the_United_States. Ngày 4/8/2010, Chánh án Toà án Liên bang M – Vaughn Walker đưa ra phán quyết D lut s 8 ca tiu bang California v bãi b quyn kết hôn ca nhng người đng tính, khng đnh ch có hôn nhân gia người nam và người n mi có giá tr và được công nh California là vi hiến. Chánh án Walker cho rng “các nguyên đơn (nhng người phn đi D lut s 8) tìm kiếm mi quan h được nhà nước công nhn. Và mi quan h ca các nguyên đơn phù hp vi các giá trct lõi trong lch s vi truyn thng và thông l hôn nhân ti Hoa Kỳ”. Ông tuyên b: “Bi vì D lut s 8 chưa làm tròn chc năng bo v Hiến pháp thông qua vic cho phép nhng cuc hôn nhân trên cơ s bình đng nên Toà án tuyên b D lut s 8 là vi hiến, xem: Kết quả vụ kiện Dự luật số 8 của bang California, nguồn: http://thegioithu3.vn/news/tgt3-n ews/1417.html.

[21] Lời mở đầu của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966.

[22] Xem: Nguyễn Đăng Dung,Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 117.

[25] Theo định nghĩa của từ điển triết học, chính trị được hiểu là sự tham gia vào các công việc của nhà nước, quy định những hình thức, nội dung hoạt động của nhà nước. Theo nghĩa rộng, chính trị là hoạt động của con người nhằm tạo ra và gìn giữ những luật lệ chung mà những luật lệ này sau đó sẽ tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người làm ra nó. Tổng quát lại, chính trị là sự tham gia của con người trong việc tạo ra những quy tắc điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ cao nhất các lợi ích chính đáng của mình, nguồn: Từ điển Triết học, Nxb. Tiến bộ Matxcova, 1975, tr. 236.

[26]Xem: Bùi Th Cm Tú (Vin Nghiên cu môi trường & phát trin bn vng, Vin Khoa hc xã hi Vit Nam), Bo v quyn ca người đng tính – Mt vn đ đáng được lưu tâm, Hi tho Quyn con người: tiếp cn liên ngành KHXH do Đoàn Thanh niên Vin KHXH Vit Nam t chc ngày 01/08/2011, tr. 14.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Human Rights, LGBT, Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự

2 phản hồi trên “Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính”


  1. bài viết này và các bài viết khác về cộng đồng LGBT trong blog thật tuyệt vời. Cảm ơn Luật gia Trương Hồng Quang rất nhiều!! những tài liệu tham khảo này vô cùng hữu ích cho bài luận dân sự của em


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: