Quyền tham gia trưng cầu ý dân trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi

Trương Hồng Quang*

(Bài đăng Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 2/2013)

 Tổ chức trưng cầu ý dân là một nhu cầu đang ngày càng thực sự rõ nét ở Việt Nam. Điều này được thể hiện bằng việc dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã tách Điều 53 của Hiến pháp hiện hành thành một Điều riêng về trưng cầu ý dân (Điều 30 (sửa đổi, bổ sung Điều 53): “Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”). Có thể nhận thấy quyền tham gia trưng cầu ý dân cùng với các quyền chính trị cơ bản khác là biểu hiện trực tiếp cao nhất nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Việc Nhà nước bảo đảm quyền tự do ý chí của công dân trong các cuộc trưng cầu ý dân là sự bổ sung cho các hình thức dân chủ đại diện, từ đó tạo điều kiện cho công dân tham gia một cách tích cực và hiệu quả nhất vào quá trình quyết định những công việc hệ trọng của đất nước. Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa quyền tham gia trưng cầu ý dân của nhân dân hiện nay vẫn còn những rào cản nhất định về mặt thể chế cũng như nhận thức của các chủ thể có liên quan[1].

Về dự thảo Hiến pháp sửa đổi, mặc dù vấn đề này đã được quy định thành một Điều riêng nhưng chỉ vỏn vẹn một câu mang tính chất tuyên ngôn. Thực ra, Hiến pháp không nên được xây dựng theo hướng tuyên ngôn mà trong một số trường hợp cần có quy định cụ thể hơn, nhất là đối với những quyền chính trị căn bản của công dân. Với quy định như dự thảo Hiến pháp hiện nay đã cho thấy một số hạn chế về vấn đề trưng cầu ý dân:

Thứ nhất, quy định như dự thảo dễ gây nhầm lẫn rằng việc tổ chức trưng cầu ý dân chỉ do cơ quan Nhà nước tự chủ động đề xuất, quyết định tổ chức mà không có trường hợp xuất phát từ yêu cầu, đề nghị của chính nhân dân hay đại biểu dân cử. Để khắc phục điểm này cần có sự quy định cụ thể hơn nội dung Điều 30 trong Dự thảo.

Thứ hai, quy định của dự thảo còn quá chung chung, chưa rõ phạm vi những loại vấn đề phải đưa ra tổ chức trưng cầu ý dân, chủ thể nào có quyền đề xuất tổ chức trưng cầu ý dân, chủ thể nào có trách nhiệm đứng ra tổ chức trưng cầu ý dân dựa trên đề xuất của những chủ thể khác, giá trị của kết quả trưng cầu ý dân như thế nào? Với quy định như dự thảo sẽ rất khó để cụ thể hóa thành Luật trong thực tế thời gian tới.

Chế định trưng cầu ý dân ở các nước đều quy định Hiến pháp là đối tượng quan trọng nhất cần được áp dụng. Xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay, chúng tôi cho rằng cần xem xét một cách thận trọng, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm[2]. Về phạm vi, nên quy định trưng cầu ý dân đối với việc sửa đổi, bổ sung, ban hành Hiến pháp; những vấn đề trọng đại của cả nước và địa phương (ví dụ như thông qua việc gia nhập một điều ước quốc tế; chia tách, sáp nhập địa giới hành chính của các địa phương…). Các vấn đề trọng đại cụ thể thuộc phạm vi trưng cầu ý dân nên giao cho Luật Trưng cầu ý dân quy định.

Về chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu ý dân có thể đa dạng: đại biểu Quốc hội, nhân dân và chính cơ quan Nhà nước. Chủ thể phải tổ chức việc trưng cầu ý dân chính là cơ quan Nhà nước (ở trung ương là Quốc hội, ở địa phương là Hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố).

Về giá trị của kết quả trưng cầu ý dân, Hiến pháp hoặc Luật nên quy định có giá trị bắt buộc nếu có hơn ½ hoặc từ 2/3 cử tri trở lên bỏ phiếu đồng ý. Điều này xuất phát từ nguyên nhân việc tổ chức trưng cầu ý dân rất tốn kém về mặt thời gian cũng như tài chính, hơn nữa nếu kết quả trưng cầu ý kiến của các công dân chỉ để tham khảo thì sẽ làm giảm đi tính dân chủ trực tiếp của quyền này[3]. Điều này có thể sẽ gây ra quan ngại rằng đôi khi sự lựa chọn của nhân dân chỉ mang tính chất cảm tính, thiếu tính hợp lý. Thực ra, chúng tôi cho rằng một người dân, khi tham gia quyết định những vấn đề chính trị, thì họ phải nhìn nhận theo tiêu chí riêng của họ. Rõ ràng, khó có thể nói rằng việc lựa chọn phương án nào (trong số các phương án đưa ra trong một cuộc trưng cầu ý dân) là khôn ngoan nhất. Vấn đề là ở chỗ, kết quả của trưng cầu ý dân là sự phản ánh đa số ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Nói một cách khác, không ai phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân bằng chính nhân dân. Chúng tôi cho rằng đây là ưu thế tuyệt đối của dân chủ trực tiếp so với dân chủ đại diện. Điều đó rõ ràng góp phần thực hiện định hướng chung của Đảng và Nhà nước ta là chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nhân dân, phát huy trí tuệ của nhân dân và nhất là phải hợp lòng dân. Như vậy, rào cản ở đây cũng xuất phát từ chính người dân nhưng rào cản nhận thức của chính quyền trong việc đánh giá vai trò, vị trí của người dân cũng chưa thực sự toàn diện. Hơn nữa, có lẽ tâm lý e ngại tổ chức trưng cầu ý dân vẫn còn tồn tại trong hệ thống bộ máy của Nhà nước. Đây là một thực tế nếu không được khắc phục thì sẽ khó có dân chủ thực sự.

Mặc dù về mặt nguyên lý, trưng cầu ý dân có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức dân chủ đại diện, nhưng về mặt thực tiễn, việc thực hiện nó có thể gặp rất nhiều phức tạp. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu và nhiều chính khách còn lo ngại về việc thực hiện biện pháp này. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ chính trị – pháp lý của nhân dân… mặc dù không phải là không có cơ sở để thực hiện, nhưng so với nhiều nước khác, rõ ràng cũng không phải là hoàn toàn thuận lợi. Do đó, việc xác định những vấn đề gì không nên trưng cầu; điều kiện, hoàn cảnh nào thuận lợi và không thuận lợi cho việc trưng cầu; cách thức trưng cầu ra sao, đưa ra một phương án hỏi người dân đồng ý hay không không đồng ý hay đưa ra hai hoặc nhiều phương án để người dân lựa chọn; nếu không được đa số phiếu tán thành thì xử lý như thế nào…) là rất cần thiết.

Với những phân tích như trên, chúng tôi cho rằng nên sửa đổi Điều 30 dự thảo Hiến pháp như sau[4]:

“1. Công dân có quyền tham gia khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và những việc trọng đại của quốc gia và địa phương.

2. Đối với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; gia nhập một Điều ước quốc tế; chia tách, sáp nhập địa giới hành chính của chính quyền địa phương, Quốc hội/Hội đồng nhân dân phải chủ động tổ chức trưng cầu ý dân, không cần thiết phải do Đại biểu Quốc hội/Đại biểu Hội đồng nhân dân đề xuất.

3. Đối với các vấn đề trọng đại khác, trưng cầu ý dân cấp quốc gia do Quốc hội quyết định khi có 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu; trưng cầu ý dân ở địa phương do Hội đồng nhân dân quyết định khi có 2/3 tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.

4. Giá trị của cuộc trưng cầu ý dân là bắt buộc và có hiệu lực thi hành ngay.

3. Trình tự, thủ tục thực hiện trưng cầu ý dân do Luật định”.

Để cuộc trưng cầu ý dân đạt chất lượng tốt, thời gian tới khi tiếp tục xây dựng Luật Trưng cầu ý dân cần quy định các nguyên tắc tổ chức trưng cầu ý dân tương tự như nguyên tắc bầu cử: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nhà nước phải bảo đảm tiến hành trưng cầu ý dân trên cơ sở tự do, tự nguyện, không cho phép bất kỳ ai, cơ quan, tổ chức nào ép buộc hoặc cản trở công dân sử dụng quyền này. Việc quy định giá trị bắt buộc của trưng cầu ý dân sẽ khẳng định được tính chất nhân dân quyết định. Các quy định của Luật Trưng cầu ý dân phải rất cụ thể để áp dụng được ngay và áp dụng thống nhất trên cả nước, không cần phải ban hành Nghị định quy định chi tiết vì đây là đạo luật duy nhất quy định thủ tục tiến hành một hoạt động dân chủ trực tiếp bảo đảm cho công dân tham gia quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Luật Trưng cầu ý dân nếu được thông qua chắc chắn sẽ là một công cụ pháp lý quan trọng để nhân dân trực tiếp tham gia vào việc quản lý nhà nước và xã hội.

Có thể nhận thấy hiệu quả việc thực hiện dân chủ trực tiếp nói chung và trưng cầu ý dân nói riêng phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố. Mọi vấn đề đều có tính hai mặt ưu điểm và hạn chế nhưng rõ ràng, hầu hết các cuộc trưng cầu ý dân đều phát huy ý nghĩa của nó, đó là phản ánh ý chí của nhân dân. Cũng như nó đang và sẽ xảy ra trong đời sống chính trị của nhiều nước và nhiều khu vực, trưng cầu dân ý dân là một điều tất yếu sẽ được thực thi trên thực tế./.


* Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[1] Xem thêm ở: Trương Hồng Quang, Trưng cầu ý dân và những rào cản tại Việt Nam, Diễn Ngôn, http://dienngon.vn/Blog/Article/Trung-cau-dan-y-va-nhung-rao-can-tai-Viet-Nam, ngày 8/1/2013.

[2] Trương Hồng Quang, Chế định trưng cầu ý dân tại Việt Nam, Chuyên đề đề tài NCKH của Bộ Tư pháp: “Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện quyền hiến định về tham gia quản lý nhà nước của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001)”, năm 2010.

[3] Nếu kết quả chỉ để tham khảo thì cũng có thể chỉ cần tổ chức lấy ý kiến của nhân dân giống như đối với dự thảo Hiến pháp hiện nay.

[4] Xem thêm: Trương Hồng Quang, Vấn đề trưng cầu ý dân trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số tháng 8/2012, tr. 25-37.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Luật Hiến pháp, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: