Hoàn thiện quy định chương II dự thảo Hiến pháp nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP SỬA ĐỔI NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CỦA XÃ HỘI

Trương Hồng Quang*

 (Hội thảo của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp ngày 22/2/2013 và đăng trên Tạp chí NGhiên cứu Lập pháp số 5, tháng 3/2013)

Có thể nhận thấy việc đưa chương Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên ở vị trí Chương II là một trong những bước tiến của dự thảo Hiến pháp sửa đổi về vấn đề này. Tuy nhiên, các quy định của Chương II vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới, thực tiễn khá sôi động của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Bài viết xin bàn luận và góp ý một số vấn đề cụ thể để góp phần làm cho Hiến pháp có sức sống hơn, phù hợp với yêu cầu đặt ra hiện nay.

1. Cần xem xét ghi nhận những vấn đề mới liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới

Tại Việt Nam, các khái niệm như xu hướng tính dục[1] và bản dạng giới[2] còn khá xa lạ trong đời sống và chưa xuất hiện trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Hai khái niệm này sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề như: quan niệm về gia đình, về kết hôn, quan niệm về bình đẳng giới, tác động đến việc phân biệt đối xử, ngang bằng trong xã hội. Hiện nay, Dự thảo Hiến pháp có quy định hai Điều:

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.

Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Quy định như trên thực sự vẫn còn một số điểm cần quan tâm như sau:

Thứ nhất, Điều 27 dự thảo chỉ ghi nhận bình đẳng giới giữa hai giới nam và nữ, chống phân biệt đối xử giữa nam và nữ.

Như vậy, dự thảo đã bỏ quên một số nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội là người đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT)[3]. Cộng đồng LGBT đang ngày càng hiện hữu rõ nét trong xã hội Việt Nam và trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc đặt ra yêu cầu phải có những hành động cần thiết để đảm bảo quyền công dân cho nhóm công dân này. Với quy định của dự thảo có thể đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử giữa một nam và một nữ nhưng không đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử trong cùng một giới tính (ví dụ như nam đồng tính và nam dị tính). Thực ra, quan niệm về bình đẳng giới ở Việt Nam như hiện nay là còn khá hạn hẹp. Hiện nay trên thế giới đã và đang có xu hướng quan niệm bình đẳng giới dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới chứ không chỉ giữa hai giới tính khác nhau. Thiết nghĩ, quan niệm này sẽ đầy đủ và có tính nhân văn hơn quan niệm truyền thống. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012), xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại (Ngoại trưởng Hoa Kỳ),… Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới. Để góp phần khẳng định tính đúng đắn về xu hướng tính dục thì nên lồng ghép quan điểm chống sự phân biệt về xu hướng tính dục vào trong quan niệm bình đẳng giới. Nhiệm vụ này, nên được Hiến pháp ghi nhận trước tiên, sau đó mới đến các đạo Luật cụ thể hóa.

Đối với vấn đề chống phân biệt đối xử, nhóm người LGBT thường bị phân biệt đối xử, kỳ thị rất nhiều trong xã hội hiện nay. Vì vậy, quy định như dự thảo hiện hành không đảm bảo cơ sở để cụ thể hóa các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ cộng đồng LGBT.

Như vậy, chúng tôi cho rằng dự thảo nên ghi nhận vấn đề xu hướng tính dục và bản dạng giới để đảm bảo tính công bằng của Hiến pháp đối với mọi công dân trong xã hội, không phân biệt nhóm đa số hay thiểu số.

Thứ hai, Điều 39 của Dự thảo vẫn đi theo quan niệm truyền thống về gia đình và kết hôn. Chúng tôi cho rằng nên cân nhắc lại những quan niệm này trong bối cảnh mới của xã hội hiện nay.

Từ trước đến nay, khái niệm kết hôn vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau[4]. Từ đó, khái niệm gia đình cũng được hiểu là của một cặp đôi dị tính[5]. Tuy nhiên hiện nay, tổ chức Liên hiệp quốc cũng đã ghi nhận quan niệm về một phạm vi rộng rãi trong việc xác thực những tiến triển – thay vì cố định – của định nghĩa về gia đình. Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã lưu ý rằng “khái niệm gia đình có thể khác biệt trong vài khía cạnh, giữa các quốc gia, và ngay cả giữa các tôn giáo, và vì thế không thể đưa ra một định nghĩa chuẩn mực chung”[6]. Uỷ ban Quyền trẻ em Liên hợp quốc đã tuyên bố điều này trong “Nhận định về môi trường gia đình”, rằng cần phản ánh “những cấu trúc gia đình khác nhau, phát sinh từ các mẫu hình văn hóa và các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng đang nổi lên”[7]. Một trong các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng ở đây có thể được hiểu là sự đa dạng về xu hướng tính dục, là một cơ sở quan trọng cho một gia đình của các cặp đôi đồng tính. Đây cũng là điều mà Việt Nam cần cân nhắc xem xét để bổ sung cho khái niệm về gia đình nhằm tạo ra sự công bằng cũng như thay đổi nhận thức về gia đình.

Tại Việt Nam thời gian qua nhu cầu thay đổi quan niệm về gia đình và kết hôn là có thật[8]. Nhiều người quan niệm hôn nhân cùng giới có thể làm xói mòn giá trị của hôn nhân truyền thống nhưng về bản chất thì quan niệm này là không đúng đắn. Hôn nhân cùng giới không phá vỡ định chế hôn nhân truyền thống mà chỉ làm phong phú thêm, ghi nhận thêm những nội dung mang tính chất nhân văn của xã hội, góp phần đảm bảo công bằng cho các công dân. Có thể nhận thấy quan niệm về hôn nhân đã thay đổi nhiều lần theo lịch sử, và “truyền thống” là do con người tạo ra, để phục vụ con người chứ không phải “truyền thống” trói buộc, điều khiển con người. Bên cạnh đó, trao cho người khác quyền, không có nghĩa là làm mất đi quyền của người khác. Pháp luật mở rộng cơ hội bình đẳng cho nhiều người hơn, nghĩa là xã hội trở nên hạnh phúc hơn. Không ai xâm phạm quyền của ai. Sẽ không có chuyện những người dị tính tan vỡ và “đổ lỗi” rằng đó là vì hôn nhân cùng giới. Điều này đã được kiểm nghiệm trên thực tế ở nhiều quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới.

Thứ ba, về tính thống nhất với các quy định khác của Dự thảo Hiến pháp. Dưới góc độ này, các quy định tại Điều 27 và Điều 39 không thống nhất với các Điều 15[9] và Điều 17[10] của dự thảo. Điều 15 và 17 đã khẳng định ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân được thừa nhận, thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm, chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như vậy, tất cả các quyền của con người, quyền công dân phải được bảo đảm và bình đẳng, không ai bị phân biệt đối xử và chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp (không có trường hợp do xu hướng tính dục hay bản dạng giới). Tuy nhiên, quy định tại Điều 27 và Điều 39 đã giới hạn một số quyền của cộng đồng LGBT dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới, không đảm bảo tính bình đẳng, nhân văn của Hiến pháp, pháp luật, không có tác dụng trong việc bảo vệ cộng đồng LGBT. Nếu không điều chỉnh quy định Điều 27 và 39 sẽ làm giảm tính thống nhất của dự thảo Hiến pháp.

Từ các phân tích trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi Điều 27 và Điều 39 của Dự thảo Hiến pháp như sau:

 

QUY ĐỊNH CỦA DỰ THẢO

ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Mọi công dân không phân biệt xu hướng tính dục và bản dạng giới đều bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa các công dân trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về xu hướng tính dục và bản dạng giới.Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)

1. Mọi công dân đều có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, các bên bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa hai công dân không phân biệt xu hướng tính dục và bản dạng giới[11].2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Giữ nguyên

 

 

2. Cần ghi nhận đầy đủ nội dung Quyền riêng tư trong Dự thảo Hiến pháp

Hiện nay Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73) của Dự thảo Hiến pháp quy định:

“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Không được phép thu thập, lưu giữ, sử dụng và phổ biến thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác nếu không được người đó đồng ý.

2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định”.

Quy định của Dự thảo Hiến pháp cũng như Hiến pháp 1992, pháp luật hiện hành chỉ đề cập đến một số vấn đề như bí mật đời tư, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật thư tín… Trong bối cảnh hiện nay, việc ghi nhận bằng cách liệt kê như vậy đã không còn phù hợp và chưa theo kịp với thực tiễn của đời sống xã hội. Trên thế giới đã ghi nhận một quyền chung là Quyền riêng tư trong đó có những nội dung như Dự thảo Hiến pháp đề cập. Về mặt khái niệm[12], có thể hiểu Quyền riêng tư là quyền của các cá nhân được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nơi ở, về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác mà không một chủ thể nào có quyền tiếp cận, công khai trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc được bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, Quyền riêng tư có nội hàm rộng hơn Quyền bí mật đời tư trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, các văn bản như: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (Điều 12), Công ước Nhân quyền châu Âu năm 1950 (Điều 8), Công ước về bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản năm 1950 (Điều 8), Tuyên bố Châu Mỹ về Quyền và trách nhiệm của con người năm 1965, Công ước quốc tế về Quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 17), Công ước của Hội đồng châu Âu 1981 về bảo vệ cá nhân đối với việc xử lý tự động của dữ liệu cá nhân (COE)[13]… Các văn bản này đã khẳng định sự riêng tư, quyền riêng tư của công dân được bảo hộ, bảo đảm thực thi, không chỉ đề cập đến quyền bí mật đời tư hay riêng tư về nơi ở, thư tín… Việt Nam cũng đã tham gia hầu hết các Công ước nói trên nên cần tiếp tục nội luật hóa đầy đủ nội dung của Quyền riêng tư. Trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới có nhiều mô hình xây dựng pháp luật về Quyền riêng tư và đã khẳng định được đầy đủ nội dung của Quyền này.

Có thể thấy, các quy định của dự thảo Hiến pháp và pháp luật hiện hành chưa thể hiện hết nội hàm Quyền riêng tư và còn khá chung chung. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Dự thảo Hiến pháp nên ghi nhận đầy đủ Quyền riêng tư để tạo cơ sở cho việc cụ thể hóa thành pháp luật. Tôn trọng Quyền riêng tư là một yêu cầu tất yếu đặt ra cho tất cả mọi người, buộc mọi người phải tuân thủ. Ví dụ như đối với người đồng tính cần xem xét kĩ lưỡng hơn vấn đề Quyền riêng tư để có những quy định phù hợp vì trong quan điểm chung của xã hội, người đồng tính được xem như một hiện tượng kỳ lạ, khác biệt với số đông nhân loại còn lại, đời sống riêng tư của họ không thể tránh khỏi sự tò mò, soi mói của người khác. Đó là các hành vi vi phạm quyền riêng tư của con người. Ở một mức độ khác, sự xâm phạm Quyền riêng tư trên có thể kèm theo các hành vi tiêu cực như đánh đập, xúc phạm nhân phẩm hoặc cản trở đời sống bình thường của người đồng tính. Do vậy, cần có những quy định cụ thể, về tôn trọng quyền riêng để đảm bảo cho người đồng tính sống một cuộc sống bình thường, được tôn trọng và được đối xử bình đẳng như những người khác. Với ví dụ này có thể nhận thấy việc quy định Quyền riêng tư là điều cần thiết phải được thể hiện trong Dự thảo Hiến pháp lần này.

Về mặt kỹ thuật lập pháp, nhóm quyền về tự do căn bản và quyền được bảo vệ về mặt tư pháp là những quyền quan trọng của con người, nhưng để thực hiện được các quyền này cần phải có những quy định cụ thể của Luật kèm theo. Vì thế việc kèm theo cụm từ “theo quy định của Luật” là cần thiết[14]. Điều này là để thể hiện rõ việc cụ thể hóa các quyền này cũng như là việc hạn chế các quyền này trong các hoàn cảnh đặc biệt cần phải theo quy định của một đạo luật do chính Quốc hội ban hành chứ không phải là theo bất cứ một văn bản pháp luật nào đó. Đồng thời, Nhà nước cũng phải nhận thấy trách nhiệm của mình đối với nhóm quyền này là “trách nhiệm hành động”. Việc không ban hành một đạo luật để cụ thể hóa các quyền này, làm cơ sở cho người dân thực hiện các quyền này trên thực tế hay lấy lý do là chưa có luật quy định để hạn chế một trong các quyền thuộc nhóm này cũng là một sự vi phạm quyền con người và vi phạm nghĩa vụ của quốc gia thành viên các Công ước quốc tế về quyền con người. Quy định tại Điều 23 của Dự thảo chưa thể hiện được điều này và vẫn tiếp tục sử dụng cụm từ “do pháp luật quy định”. Chúng tôi đề xuất nên sử dụng cụm từ “do Luật quy định”.

Với những phân tích trên, chúng tôi đề nghị nên sửa Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73) của Dự thảo như sau để đảm bảo tiến bộ xã hội và tính ngắn gọn của Hiến pháp:

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm và quyền bảo vệ sự riêng tư về thông tin cá nhân, cơ thể, thông tin liên lạc và nơi cư trú; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Không được phép thu thập, lưu giữ, sử dụng và phổ biến thông tin về sự riêng tư của người khác nếu không được người đó đồng ý.

2. Việc tiếp cận, kiểm soát, thu giữ thông tin về sự riêng tư của cá nhân chỉ được cơ quan Nhà nước thực hiện trong một số trường hợp nhất định do Luật quy định”.

Việc ghi nhận Quyền riêng tư trong Hiến pháp sửa đổi sẽ là cơ sở để Bộ luật Dân sự (đang được tiến hành sửa đổi) quy định cụ thể hơn nội dung của quyền này, không đơn giản chỉ quy định về quyền bí mật đời tư và quyền cá nhân đối với hình ảnh như hiện nay. Theo đó, để cụ thể hóa Điều trên của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự sửa đổi nên quy định một Điều về Quyền riêng tư (thông tin cá nhân, cơ thể, thông tin liên lạc, nơi cư trú) và tiếp tục giữ lại Điều về Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Tiếp theo đó, có thể ban hành một Luật về Quyền riêng tư với các nội dung chính:

– Sự riêng tư về thông tin cá nhân: bao gồm việc ban hành các quy tắc quản lý trong việc thu thập và xử lý các dữ liệu cá nhân như thông tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ của chính quyền lưu trữ về công dân đó. Nó còn được gọi là “bảo vệ dữ liệu”.

– Sự riêng tư về cơ thể: liên quan đến việc bảo vệ thân thể (vật chất) của người dân đối với hình thức xâm hại như xét nghiệm di truyền, thử nghiệm ma túy và thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể.

– Sự riêng tư về thông tin liên lạc: bao gồm bảo mật và riêng tư về thư từ, bưu phẩm, điện thoại, thư điện tử và các hình thức truyền thông khác.

– Sự riêng tư về nơi cư trú: liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với sự xâm nhập vào môi trường sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc không gian công cộng. Điều này bao gồm tìm kiếm thông tin, theo dõi bằng video và kiểm tra giấy tờ tùy thân.

– Các trường hợp tiếp cận, thu giữ, kiểm soát thông tin về sự riêng tư cá nhân của cơ quan Nhà nước.

 

3. Về một số quyền khác cần được ghi nhận trong Hiến pháp sửa đổi

Dự thảo Hiến pháp hiện nay vẫn chưa đề cập/đề cập chưa đầy đủ một số quyền rất quan trọng đang thực sự là nhu cầu trong đời sống hiện nay.

Thứ nhất, giám sát, phản biện xã hội chưa được quy định thành một quyền cơ bản trong Chương II. Hiện nay Dự thảo chỉ quy định giám sát và phản biện xã hội tại khoản 2, Điều 9: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức”. Như vậy, Dự thảo đang đi theo hướng quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải vận động nhân dân giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước… Chúng tôi cho rằng đây là một điểm mới của Dự thảo. Tuy nhiên, Giám sát và Phản biện xã hội vẫn nên được quy định thành một Quyền riêng trong Chương II bởi đây là những quyền quan trọng của công dân, thể hiện sự tham gia quản lý Nhà nước của công dân. Với đề xuất này, vẫn có thể giữ nguyên Điều 9 như Dự thảo Hiến pháp và bổ sung thêm một Quyền giám sát, phản biện xã hội trong Chương II với nội dung như sau:

“Điều…

1. Công dân có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật và việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức. Nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận và phản hồi các ý kiến, kiến nghị của công dân thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội; tạo điều kiện, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội.

2. Việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội do Luật định.”

Thứ hai, nội dung thực hiện quyền làm chủ ở cơ sở không được ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp. Trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Điều 11 quy định: “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng”. Tuy nhiên đến Dự thảo Hiến pháp lần này đã không được tiếp tục quy định. Chúng tôi cho rằng thực hiện dân chủ ở cơ sở, đặt biệt là Quyền thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở là vấn đề rất quan trọng trong bối cảnh ngày càng hướng về cơ sở để quản lý nhà nước, tham gia quản lý nhà nước. Vì vậy, Chương II của Dự thảo Hiến pháp nên quy định một Điều riêng về Quyền này, có thể thiết kế như sau:

“Điều…

1. Công dân có quyền thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tham gia công việc của Nhà nước ở cơ sở. Nhà nước, xã hội và cộng đồng dân cư có trách nhiệm đảm bảo, tạo điều kiện cho công dân được thực hiện các quyền làm chủ ở cơ sở.

2. Việc thực hiện các quyền làm chủ ở cơ sở của công dân do Luật định.”

Thứ ba, quy định về bãi nhiệm đại biểu chưa được ghi nhận thành quyền trong Chương II. Khoản 2 Điều 7 Dự thảo hiện nay quy định: “Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”. Chúng tôi cho rằng quyền bãi nhiệm đại biểu gắn liền với quyền bầu cử của nhân dân. Đây là một trong những hình thức thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân. Thông qua hình thức này, công dân thể hiện sự bất tín nhiệm của mình đối với những đại biểu được dân bầu không hoàn thành sứ mệnh là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của họ. Quyền bãi nhiệm xuất phát từ nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về dân, quyền lực của dân là tối thượng, là quyền lực gốc. Công dân có thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình hoặc gián tiếp thông qua những đại biểu dân cử. Việc các đại biểu dân cử thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực chất là thực hiện quyền lực do dân giao cho, uỷ thác cho. Nếu đại biểu dân cử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng tức là đại biểu đó không hoàn thành vai trò là người đại diện của dân, không xứng đáng với sự tín nhiệm của dân và do vậy, dân có quyền tước đi tư cách đại biểu của đại biểu đó. Vì vậy, khoản 2 của Điều 7 Dự thảo Hiến pháp nên được chuyển về chương II ghép vào Điều 28 của Dự thảo để tạo sự thống nhất và gắn kết của Hiến pháp. Từ đó, có thể thiết kế lại Điều 28 Dự thảo như sau:

Điều…

1. Công dân đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân trừ những người bị tước quyền này theo quy định của Luật.

2. Công dân có tư cách cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân khi đại biểu đó không còn xứng đáng, không hoàn thành nhiệm vụ đại biểu được giao.

3. Việc bầu cử, ứng cử và bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân do Luật quy định.”

Trên đây là một số đề nghị hoàn thiện quy định Chương II của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Chúng tôi hy vọng rằng Dự thảo Hiến pháp sẽ tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu đổi mới của xã hội hiện nay, hướng đến một hệ thống pháp luật nhân văn và bền vững./.

—————


* Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[1] Chỉ một người có tình cảm, yêu một người cùng giới tính hay khác giới tính với mình. Ví dụ như người dị tính (chiếm đa số trong xã hội) chỉ yêu người có giới tính khác giới tính của mình, người đồng tính chỉ yêu người cùng giới tính, người song tính có tình cảm với cả hai giới.

[2] Chỉ một người tự nhận mình mang giới tính nào, không phụ thuộc vào giới tính sinh học khi sinh ra của người đó là như thế nào, ví dụ như người chuyển giới.

[3] Để hiểu thêm về cộng đồng người đồng tính có thể đọc các tài liệu như: Trương Hồng Quang, Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2012; Trương Hồng Quang, Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 24, tháng 12/2012.

[4] Khoản 10, Điều 8, Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.

[5] Định nghĩa gia đìnhhttp://phunudanang.org.vn/vn/giadinh.aspx?act=detail&id=11&idpa=7.

[6] Nhận định chung thứ 19: Bảo vệ gia đình, quyền hôn nhân và bình đẳng của các phối ngẫu, Uỷ ban Nhân quyền, Văn kiện Liên hợp quốc, HRI/GEN/1/Rev.2 (1990), tại 2.

[7] Báo cáo về Kỳ họp thứ năm, Uỷ ban Quyền trẻ em, Văn kiện Liên hợp quốc, CREC/C/24, Phụ lục V.

[8] Ví dụ như một số đám cưới đồng giới; một số kết quả nghiên cứu của một số cơ quan như: hơn 71,1% người đồng tính mong muốn được có quyền kết hôn (Trung tâm ICS – TP. Hồ Chí Minh khảo sát qua mạng), hơn 90% đồng tính nữ mong muốn có quyền kết hôn (nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường trong năm 2012)…

[9] Điều 15 (sửa đổi, bổ sung Điều 50)

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.

[10] Điều 17 (sửa đổi, bổ sung Điều 52)

1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

[11] Quy định này tương tự như nguyên tắc một vợ, một chồng hiện nay để đảm bảo quan hệ hôn nhân chỉ có giữa hai cá nhân với nhau.

[12] Xem khái niệm này tại: ThS. Thái Thị Tuyết Dung, Quyền riêng tư trong thời đại công nghệ thông tin, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 9/2012, tr.14-21.

[13] Xem thêm nội dung chính của các văn bản này ở tài liệu: ThS. Thái Thị Tuyết Dung, Quyền riêng tư trong thời đại công nghệ thông tin, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 9/2012, tr.14-21.

[14] ThS. Nguyễn Linh Giang, Góp ý kiến Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 1/2013, nguồn: isl.gov.vn ngày 18 tháng 01 năm 2013.

Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học, Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Human Rights, LGBT, Luật hôn nhân gia đình, Luật Hiến pháp, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hành chính Nhà nước

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: