QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG DÂN THEO QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ HIẾN PHÁP MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Trương Hồng Quang*

 1. Quy định quốc tế về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân

Quyền tham gia quản lý Nhà nước là một trong những quyền chính trị quan trọng được ghi nhận từ lâu trên thế giới. Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về quyền chính trị và hiện nay cũng chưa có định nghĩa hay giải thích chính thức trong một văn kiện quốc tế về khái niệm quyền chính trị. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ bản của con người trên cả hai lĩnh vực là dân sự và chính trị. Mặc dù vậy, các quyền chính trị có thể được hiểu một cách đơn giản là các quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp và gián tiếp vào công việc của nhà n­ước và xã hội, bao gồm cả việc thành lập và quản lý nhà nước (Chính phủ). Với cách hiểu này, nội hàm khái niệm quyền chính trị của công dân chỉ chủ yếu đề cập tới quyền về bầu cử để lựa chọn ra người thay mặt mình nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước; quyền ứng cử, tham gia vào cuộc đua để được cử tri/người dân lựa chọn vào bộ máy công quyền thực thi quyền lực nhà nước; và do sự phát triển của dân chủ, khái niệm quyền chính trị ngày càng được mở rộng bao gồm cả việc tham gia vào cùng với nhà nước quyết định các vấn đề chính trị, trọng đại của đất nước, như ban hành các chính sách có liên quan/ảnh hưởng tới quyền của người dân; quyết định về thể chế chính trị, hình thức chính phủ, sửa đổi hiến pháp… Ngoài ra, quyền chính trị còn có thể được mở rộng và có liên quan tới một loạt các quyền về tự do dân chủ của cá nhân, công dân; vì các quyền này, liên quan tới bản chất, chính sách và mức độ dân chủ của nhà nước. Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp, tự do biểu tình, tự do tín ngưỡng và tôn giáo… So với việc thực hiện các quyền dân sự, mức độ thực hiện các quyền chính trị bao giờ cũng kèm theo những giới hạn nhất định như vì lý do an ninh quốc gia; trật tự công cộng, đạo đức chung, quyền và tự do của người khác… trong một xã hội dân chủ[1]. Tuy nhiên, nếu xem quyền dân sự là những quyền cá nhân, gắn chặt với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao cho người khác (quyền sống, quyền tự do đi lại, cư trú…); thì ngược lại các quyền chính trị, để thực hiện nó, cá nhân phải tham gia cùng với những người khác, như quyền hội họp hòa bình, quyền bầu cử… Quyền tham gia quản lý công việc nhà nước và xã hội đã được quy định tại Điều 25 của ICCPR.

Theo bình luận của Uỷ ban Nhân quyền[2], Điều 25 của Công ước công nhận và bảo vệ quyền của mọi công dân được tham gia công việc quản lý nhà nước, quyền bầu cử và ứng cử; quyền tham gia các cơ quan công quyền. Uỷ ban lưu ý, các quyền được quy định trong Điều 25 chỉ dành cho những cá nhân có tư cách công dân. Vì vậy, các quốc gia cần chỉ ra các quy định pháp lý xác định tư cách công dân, và không được có sự phân biệt nào giữa các công dân trong việc hưởng thụ những quyền này vì lý do chủng tộc, sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, thành phần xuất thân hay địa vị khác. Kể cả sự phân biệt giữa những người được hưởng tư cách công dân một cách đương nhiên ngay khi sinh ra và những người có được tư cách công dân bằng việc nhập quốc tịch cũng là trái với Điều 25. Các quyền nêu ở Điều 25 có thể bị hạn chế nhưng mọi hạn chế phải hợp lý và khách quan. Ví dụ, một trong những hạn chế được cho là hợp lý là quy định cần phải đạt đến một độ tuổi nhất định mới được quyền bầu cử, ứng cử hay được bổ nhiệm vào những chức vụ cụ thể trong hệ thống chính quyền; hoặc quy định những người bị hạn chế năng lực hành vi có thể không được quyền bầu cử hay ứng cử. Uỷ ban cũng lưu ý các quốc gia, cần giải thích rõ các quy định của pháp luật, về tước quyền bầu cử của công dân. Căn cứ tước bỏ đó phải dựa trên cơ sở khách quan và hợp lý. Đối với cá nhân bị tước quyền tự do, nhưng chưa bị kết án không nên bị loại trừ việc thực hiện quyền bầu cử. Mọi hạn chế đối với quyền ứng cử, như quy định độ tuổi tối thiểu cũng phải dựa trên tiêu chí khách quan và hợp lý. Các cá nhân có khả năng tham gia ứng cử không bị loại trừ bởi những đòi hỏi bất hợp lý và có tính chất phân biệt như về giáo dục, cư trú, dòng dõi hoặc bởi lý do tư cách chính trị…

Liên quan đến Điều 25, Ủy ban Nhân quyền (HRC) đã giải thích thêm một số khía cạnh của Điều này trong Bình luận chung số 25 thông qua tại phiên họp thứ 57 năm 1996 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau[3]:

Thứ nhất, Điều 25 ICCPR ghi nhận và bảo vệ quyền của mọi công dân được tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử và quyền được tham gia các cơ quan công quyền. Nó khẳng định nền tảng của việc quản lý nhà nước là phải trên cơ sở đồng thuận của nhân dân. Cho dù theo thể chế chính trị nào thì các quốc gia thành viên cũng phải thông qua những biện pháp pháp lý và các biện pháp cần thiết khác để đảm bảo cho mọi công dân đều có cơ hội được hưởng các quyền này (đoạn 1).

Thứ hai, các quyền nêu trong Điều 25 có liên quan nhưng không đồng nhất với quyền tự quyết dân tộc. Quyền tự quyết dân tộc quy định trong Khoản 1 Điều 1 ICCPR là quyền của cả một dân tộc được tự do quyết định thể chế chính trị của nước mình, trong khi đó, Điều 25 đề cập đến quyền của các cá nhân được tham gia vào quá trình quản lý các lĩnh vực công (đoạn 2).

Thứ ba, không giống như các quyền và tự do khác được ghi nhận trong ICCPR mà có chủ thể của quyền là mọi cá nhân trong phạm vi lãnh thổ và thuộc quyền tài phán của một quốc gia, các quyền nêu ở Điều 25 chỉ dành riêng cho những người có vị thế “công dân” của quốc gia. Tuy nhiên, không  được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì bất kỳ lý do gì giữa các công dân trong việc thực hiện những quyền này. Kể cả sự phân biệt giữa những người được hưởng tư cách công dân một cách đương nhiên ngay khi sinh ra và những người có được tư cách công dân bằng việc nhập quốc tịch cũng là trái với Điều 25 (đoạn 3).

Thứ tư, các quyền nêu ở Điều 25 có thể bị hạn chế nhưng mọi hạn chế phải hợp lý và khách quan. Ví dụ, một trong những hạn chế được cho là hợp lý là quy định cần phải đạt đến một độ tuổi nhất định mới được quyền bầu cử, ứng cử hay được bổ nhiệm vào những chức vụ cụ thể trong hệ thống chính quyền; hoặc quy định những người bị hạn chế năng lực hành vi có thể không được quyền bầu cử hay ứng cử (đoạn 4).

Thứ năm, quyền tham gia điều hành các công việc xã hội là một khái niệm rộng liên quan đến việc thực hiện quyền lực chính trị, cụ thể là thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nó bao gồm tất cả các khía cạnh của quản lý hành chính và việc xây dựng, thực hiện chính sách ở cấp độ quốc tế, quốc gia, khu vực và địa phương (đoạn 5). Công dân có thể trực tiếp tham gia điều hành các công việc xã hội khi thực hiện quyền lực với tư cách là thành viên của các cơ quan lập pháp hay nắm giữ các chức vụ hành pháp; thông qua việc trưng cầu dân ý hay quá trình bầu cử khác; thông qua việc tham gia vào các hội đồng dân cử có thẩm quyền quyết định các vấn đề của địa phương hoặc các vấn đề của một cộng đồng cụ thể; hoặc tham gia vào các cơ quan được thành lập để đại diện cho công dân trong việc tham vấn với chính phủ (đoạn 6). Công dân cũng có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc tự do lựa chọn các đại diện của mình trong các cơ quan dân cử (đoạn 7), và tranh luận, đối thoại công khai với các đại diện do mình bầu ra hoặc thông qua các cơ chế khác do công dân tự tổ chức (đoạn 8).

Thứ sáu, quyền bỏ phiếu tại các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý phải được quy định bởi pháp luật và chỉ phải chịu những hạn chế hợp lý, ví dụ như quy định về độ tuổi tối thiểu được quyền bầu cử. Những hạn chế về quyền bầu cử được coi là không hợp lý nếu như chúng được đặt ra dựa trên tình trạng khuyết tật về thể chất hay những đòi hỏi về tài sản, giáo dục, khả năng biết đọc, biết viết, vị thế thành viên của các đảng phái…(đoạn 10). Nếu có những đòi hỏi về cư trú đặt ra trong việc đăng ký cử tri khi bầu cử thì những đòi hỏi đó phải hợp lý và không được nhằm loại trừ quyền bầu cử của những người không có chỗ ở. Pháp luật cần cấm mọi sự can thiệp có tính lạm dụng vào việc đăng ký hay vào quá trình bầu cử cũng như mọi sự đe doạ hay ép buộc các cử tri, và các quy định cấm đó cần phải được thực thi nghiêm chỉnh (đoạn 11).

Thứ bảy, quyền tự do biểu đạt, hội họp và lập hội là những điều kiện quan trọng cho việc thực hiện có hiệu quả quyền bầu cử, do đó, cần được các quốc gia thành viên bảo đảm đầy đủ. Các quốc gia thành viên cần thực thi các biện pháp tích cực để khắc phục những trở ngại trong việc bảo đảm quyền này, cụ thể như tình trạng thất học, đói nghèo, những rào cản ngôn ngữ, những khó khăn trong việc đi lại mà cản trở những người có quyền bầu cử thực hiện có hiệu quả các quyền của mình. Thông tin và các tài liệu về việc bầu cử phải được chuẩn bị cả bằng những ngôn ngữ thiểu số. Các biện pháp cụ thể như là tranh ảnh hay biểu tượng cần được đáp ứng để đảm bảo rằng các cử tri mù chữ đều có được thông tin đầy đủ làm cơ sở cho sự lựa chọn của mình (đoạn 12).

Thứ tám, các điều kiện liên quan đến việc bổ nhiệm, lệ phí hay đặt cọc trong ứng cử cần phải hợp lý và không có tính phân biệt. Những căn cứ thay đổi những người nắm giữ chức vụ bầu cử cần được quy định bởi pháp luật dựa trên những tiêu chí khách quan và hợp lý và theo những trình tự, thủ tục công bằng (đoạn 16). Không được hạn chế quyền ứng cử một cách vô lý bằng cách đòi hỏi các ứng cử viên phải là thành viên của một đảng phái cụ thể nào. Nếu đòi hỏi một ứng cử viên phải có một số người ủng hộ tối thiểu để được chỉ định thì mức đòi hỏi này cần hợp lý và không được đặt ra để làm rào cản đối với việc ứng cử. Không được coi quan điểm chính trị là căn cứ để tước bỏ quyền tham gia ứng cử của cá nhân (đoạn 18). Cần xác định những giới hạn hợp lý về chi phí tranh cử để đảm bảo rằng không cản trở sự lựa chọn tự do của cử tri, hoặc quá trình dân chủ không bị bóp méo bởi chi phí không tương xứng giữa các ứng cử viên hay các đảng phái (đoạn 19).

Thứ chín, cần thành lập một cơ quan độc lập để giám sát quá trình bầu cử và đảm bảo rằng việc bầu cử được tiến hành một cách bình đẳng, không thiên vị, phù hợp với pháp luật quốc gia và với Công ước. Cần có những biện pháp bảo đảm yêu cầu bí mật của việc bỏ phiếu, bảo vệ các cử tri trước mọi sự ép buộc hay cưỡng bức khi bỏ phiếu. An ninh cho các hòm phiếu cũng phải được bảo đảm và việc kiểm phiếu phải có sự chứng kiến của các ứng cử viên hay các đại diện của họ. Cần đảm bảo sự bí mật cả quá trình kiểm phiếu và việc xem xét lại về mặt tư pháp hoặc bằng các thủ tục liên quan khác để các ứng cử viên tin tưởng vào sự an toàn của các hòm phiếu và việc kiểm phiếu. Sự trợ giúp cho những người tàn tật, người mù, hay mù chữ cũng phải mang tính độc lập. Các ứng cử viên cần được thông tin đầy đủ về những đảm bảo này (đoạn 20).

Thứ mười, mặc dù Công ước không quy định về một cơ chế bầu cử cụ thể nào nhưng mọi cơ chế bầu cử ở các quốc gia thành viên phải phù hợp với các quyền được ghi nhận tại Điều 25 và phải đảm bảo cho cử tri được tự do thể hiện ý chí (đoạn 21).

Thứ mười một, tiểu mục (c) Điều 25 liên quan đến quyền và cơ hội của công dân được tiếp cận một cách bình đẳng với các chức vụ quản lý nhà nước. Để đảm bảo quyền này thì tiêu chí và quá trình bổ nhiệm, thăng tiến, đình chỉ và sa thải công chức nhà nước phải khách quan và hợp lý và việc tham gia các chức vụ trong các cơ quan nhà nước phải dựa trên sự bình đẳng  về cơ hội, những nguyên tắc chung về công trạng và quy định nhiệm kỳ có đảm bảo, để đảm bảo rằng những cá nhân nắm giữ chức vụ công không phải chịu những sức ép hay sự can thiệp về chính trị (đoạn 23).

2. Quy định của Hiến pháp một số nước về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân

2.1. Hiến pháp của một số nước châu Mỹ và châu Phi

Hiến pháp Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ (được chuẩn y năm 1788) có tổng cộng 7 điều luật (với khoảng 4.500 từ viết trên 5 trang) và 27 tu chính án (amendment). Toàn bộ Hiến pháp nguyên thủy lẫn 27 tu chính án chỉ gồm hơn 7.600 từ. Có thể nhận thấy Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 không có những điều khoản quy định về quyền của công dân mà tập trung vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trước khi bản Hiến pháp này được ban hành, Hiến pháp các bang cũng đã có những quy định liên quan đến quyền công dân, quyền con người của mỗi bang nhưng khi thảo luận ở các Hội nghị lập hiến, các quyền công dân, quyền con người đã không có được sự đồng thuận của các bang tham gia. Sau khi Hiến pháp liên bang ra đời, 27 tu chính án Hiến pháp đã tiếp tục được ban hành trong đó có một số tu chính án đề cập đến quyền con người, quyền công dân:

– Tu chính án số 9 về các quyền không được liệt kê (thảo luận ngày 25/9/1789, thông qua ngày 15/12/1791)[4]. Tu chính án này khẳng định việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.

– Tu chính án số 12 (thông qua ngày 27/7/1804) quy định về sửa đổi tiến trình bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống.

– Tu chính án số 14 (thông qua ngày 9/7/1868) quy định về quyền công dân. Tu chính án này có 3 khoản, trong đó có một số nội dung quyền liên quan đến sự tham gia quản lý Nhà nước của công dân như: không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ (khoản 1); một số vấn đề liên quan đến quyền bầu cử (khoản 2).

– Tu chính án số 15 (thông qua ngày 3/2/1870) quy định một vấn đề có tính chính trị sâu sắc, đó là quyền bầu cử của người Mỹ gốc Phi. Theo đó, tu chính án này khẳng định quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế, dựa vào lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây.

– Tu chính án số 19 (có hiệu lực từ ngày 18/8/1920) quy định về quyền bầu cử của phụ nữ, theo đó quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Liên bang hoặc bất cứ bang nào với lý do giới tính.

– Một số dự thảo tu chính án thời gian gần đây gồm: Thượng viện khóa 109 (2005-2006) cho phép công dân không sinh tại Mỹ được tranh cử và trở thành tổng thống nếu họ nhập tịch Mỹ 20 năm trở lên; Thượng viện khóa 108 hạ thấp tuổi tối thiểu của ứng cử viên dân biểu (từ 30) và thượng nghị sĩ (từ 25) xuống còn 21 và cho phép công dân tại các lãnh thổ thuộc Mỹ được bầu tổng thống Mỹ;… Điều này được thể hiện thông qua Tu chính án số 26 được thông qua ngày 1/7/1971 về quyền bầu cử cho những người đủ 18 tuổi, theo đó quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên sẽ không bị tước bỏ hoặc hạn chế bởi Liên bang hay bất cứ bang nào với lý do tuổi tác.

Có thể nhận thấy, các tu chính án nêu trên đã đề cập đến một số quyền của công dân, trong đó có các quyền mang tính chất công dân tham gia quản lý Nhà nước và có sự tập trung vào quyền bầu cử, ứng cử. Điều này xuất phát từ chủ thuyết lập hiến của Hoa Kỳ có sự khác biệt nhất định. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ chỉ quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, yêu cầu các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo quyền lợi của người dân (Hiến pháp không quy định quyền, nghĩa vụ của công dân). Đây chính là một điểm đặc sắc được đánh giá cao bởi các nhà nghiên cứu Hiến pháp. Có thể nhận thấy bản Hiến pháp năm 1787 đã mang đến cho thế giới một ví dụ đầu tiên về một thể chế cộng hòa liên bang rộng lớn được thành lập trên nguyên tắc đại diện.

Ở khu vực châu Phi, nhóm nghiên cứu đã tiến hành xem xét Hiến pháp của Cộng hòa Nam Phi. Hiến pháp của nước này được soạn thảo theo Chương 5 của Hiến pháp tạm thời (Luật số 200 năm 1993) và được thông qua lần đầu tiên bởi Quốc hội lập hiến (the Constitutional Assembly) vào ngày 8/5/1996[5]. Theo một phán quyết của Tòa án Hiến pháp đưa ra ngày 6/9/1996, dự thảo được đưa ra Quốc hội lập hiến để xem xét lại. Sau đó, dự thảo được sửa đổi cho phù hợp với các nguyên tắc hiến định ghi trong Mục 4 của Hiến pháp tạm thời. Nó được thông qua và có hiệu lực từ ngày 10/12/1996. Khác với Hoa Kỳ, Hiến pháp của Nam Phi có quy định về Bộ luật về quyền ở Chương II. Chương II này cũng quy định một số quyền liên quan đến chính trị, tham gia quản lý Nhà nước (tại điều 19), ví dụ như quyền tự do lựa chọn về chính trị; mọi công dân đều có quyền tham gia các cuộc tuyển cử tự do, công bằng và định kỳ để bầu ra bất kỳ cơ quan lập pháp nào được quy định trong Hiến pháp; mọi công dân thành niên đều có quyền bầu cử, được giữ bí mật người mình bầu, ứng cử vào cơ quan công quyền. Bên cạnh đó, điều 32 của Hiến pháp Nam Phi cũng quy định cụ thể về quyền được tiếp cận thông tin, theo đó mọi người có quyền tiếp cận với bất kỳ thông tin do Nhà nước nắm giữ và do bất kỳ người nào khác nắm giữ mà cần thiết cho việc thực hiện và bảo vệ bất kỳ quyền nào. Hiến pháp cũng quy định Nhà nước phải ban hành pháp luật để hiện thực hóa quyền này và có thể quy định những biện pháp thích hợp để làm giảm những gánh nặng về tài chính và hành chính cho Nhà nước (khoản 2, điều 32).

2.2. Hiến pháp của một số nước châu Âu

– Cộng hòa Pháp:

Hiến pháp của Cộng hoà Pháp ban hành ngày 4/10/1958 đã có những quy định liên quan đến quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân. Điều 3 của Hiến pháp nước này đã ghi nhận: “Chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện chủ quyền của mình thông qua đại diện và thông qua con đường trưng cầu ý kiến nhân dân. Không một cá nhân hay nhóm người nào được giành quyền thực hiện chủ quyền quốc gia. Việc bầu cử có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp theo những điều kiện do Hiến pháp quy định. Bầu cử luôn thực hiện theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng và phiếu kín. Mọi công dân Pháp đã thành niên, không phân biệt giới tính, được hưởng đầy đủ các quyền dân sự và chính trị đều là cử tri theo các điều kiện do pháp luật quy định. Pháp luật giành cho phụ nữ và nam giới các điều kiện ngang nhau trong việc ứng cử vào các chức vụ và nhiệm kỳ dân cử”. Về chế độ bầu cử, Điều 4 Hiến pháp quy định: “Các đảng phái và các tổ chức chính trị tranh giành quyền lực qua kết quả bầu cử. Các đảng phái và các tổ chức chính trị được tự do thành lập và hoạt động trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về chủ quyền quốc gia và dân chủ. Các đảng phái và các tổ chức chính trị góp phần vào việc thực hiện nguyên tắc quy định tại khoản cuối, điều 3 theo các điều kiện do pháp luật quy định”. Bên cạnh đó, Hiến pháp của Pháp cũng ghi nhận quyền phúc quyết Hiến pháp và trưng cầu ý dân tại điều 89, theo đó Tổng thống, theo đề nghị của Thủ tướng, và các thành viên của Nghị viện có quyền đưa ra sáng kiến sửa đổi Hiến pháp. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phải được cả hai Viện thống nhất thông qua. Nội dung sửa đổi Hiến pháp chỉ chính thức có hiệu lực sau khi được nhân dân thông qua trong khuôn khổ một cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân. Tuy nhiên, sẽ không phải đưa dự thảo sửa đổi Hiến pháp ra trưng cầu ý kiến nhân dân khi Tổng thống có quyết định đưa dự thảo ra Nghị viện được triệu tập cả hai Viện họp chung một phiên để xem xét, thông qua; trong trường hợp này, dự thảo sửa đổi Hiến pháp chỉ được thông qua khi đạt được 3/5 số phiếu ủng hộ trong tổng số phiếu biểu quyết (đây là quy định có sự khác biệt so với các nước khác trên thế giới).

– Cộng hoà Liêng bang Nga:

Hiến pháp của Nga được thông qua bởi phúc quyết toàn dân ngày 12/12/1993 tại Điều 32 đã ghi nhận công dân Liên bang Nga có quyền tham gia quản lý nhà nước một cách trực tiếp cũng như thông qua các đại biểu dân cử, có quyền bầu và được bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tự quản địa phương, cũng như tham gia trưng cầu ý dân; các công dân mà toà án tuyên bố không có năng lực hành vi, những người đang bị giam giữ theo bản án của toà thì không được bầu cử và ứng cử; có quyền tiếp cận bình đẳng đối với nền công vụ; có quyền tham gia xét xử. Bên cạnh đó, công dân Nga có quyền kiến nghị trực tiếp, hoặc gửi kiến nghị cá nhân và tập thể đến các cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan tự quản địa phương. Hiến pháp Nga cũng ghi nhận quyền phúc quyết Hiến pháp và trưng cầu dân ý. Hiến pháp Liên bang Nga sẽ có hiệu lực từ ngày đăng tải chính thức sau khi có kết quả phúc quyết toàn dân (Điều 133). Quyền kiến nghị bổ sung, sửa đổi Hiến pháp Liên bang Nga thuộc về Tổng thống Liên bang Nga, Hội đồng Liên bang, Đuma Quốc gia, Chính phủ Liên bang Nga, các cơ quan lập pháp (đại diện) của các chủ thể Liên bang Nga, cũng như ít nhất một phần năm tổng số thành viên Hội đồng Liên bang hoặc một phần năm tổng số đại biểu Đuma Quốc gia (Điều 134). Các quy định tại các Chương 1, 2 và 9[6] của Hiến pháp Liên bang Nga không thể sửa đổi bởi Quốc hội Liên bang; nếu kiến nghị về việc sửa đổi các quy định tại các Chương 1, 2 và 9 của Hiến pháp Liên bang Nga được ba phần năm tổng số thành viên Hội đồng Liên bang và tổng số đại biểu Đuma quốc gia ủng hộ, Hội nghị Lập hiến được triệu tập theo quy định của đạo luật hiến pháp liên bang; Hội nghị Lập hiến hoặc quyết định không sửa đổi Hiến pháp Liên bang Nga, hoặc soạn thảo bản Hiến pháp mới của Liên bang Nga. Hội nghị Lập hiến thông qua dự thảo bởi hai phần ba tổng số phiếu hoặc quyết định trưng cầu phúc quyết toàn dân. Trong trường hợp phúc quyết toàn dân, Hiến pháp Liên bang Nga được thông qua khi có hơn một nửa tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu tán thành, với điều kiện phải có hơn một nửa tổng số cử tri tham gia phúc quyết (Điều 135). Các tu chính án đối với các chương từ 3-8[7] của Hiến pháp Liên bang Nga được thông qua theo trình tự thông qua một đạo luật hiến pháp liên bang, và có hiệu lực sau khi nhận được sự tán thành của các cơ quan lập pháp của ít nhất hai phần ba tổng số các chủ thể Liên bang Nga (Điều 136).

– Cộng hòa Ba Lan:

Hiến pháp của Cộng hòa Ba Lan (thông qua ngày 2/4/1997) được xem là một trong những bản Hiến pháp dân chủ nhất trên thế giới với nhiều quy định rất tiến bộ. Chương II của bản Hiến pháp này đã dành 57 điều quy định về Quyền tự do, các quyền và nghĩa vụ của con người và công dân. Trong đó, các quyền liên quan đến tham gia quản lý Nhà nước của công dân được quy định tại mục Tự do và các quyền trong lĩnh vực chính trị. Đầu tiên có thể kể đến là quyền bầu cử: công dân Ba Lan đủ 18 tuổi tính đến ngày bỏ phiếu có quyền tham gia cuộc trưng cầu ý dân và quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử (khoản 1, Điều 62). Một công dân chỉ không được tham gia trưng cầu ý dân và bầu cử bằng phán quyết cuối cùng của Tòa án (khoản 2, Điều 62). Bên cạnh đó, Điều 63 Hiến pháp Ba Lan cũng quy định quyền khiếu nại, kiến nghị và khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi ích của bản thân hoặc vì lợi ích của người khác (với sự đồng ý của người đó) tới các cơ quan nhà nước, các tổ chức và đoàn thể xã hội về việc thực hiện các nhiệm vụ này được quy định của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trong phạm vi lĩnh vực quản lý.

Hiến pháp Ba Lan cũng ghi nhận quyền trưng cầu ý dân của công dân đối với các vấn đề đặc biệt quan trọng đối với Quốc gia (điều 125). Việc quyết định tổ chức cuộc trưng cầu ý dân cấp quốc gia thuộc thẩm quyền của Hạ nghị viện, kết quả sẽ có tính bắt buộc nếu có hơn ½ số người có quyền bầu cử tham gia cuộc trưng cầu ý dân. Ngoài ra, nếu sửa đổi Hiến pháp liên quan đến các quy định tại các Chương I (Nền cộng hòa), Chương II (Quyền tự do, các quyền và nghĩa vụ của con người và công dân) hoặc Chương XII  (sửa đổi Hiến pháp) thì các chủ thể trình dự thảo sửa đổi Hiến pháp trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày dự thảo được Thượng nghị viện thông qua, có thể đề nghị tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân để chứng thực. Việc sửa đổi Hiến pháp sẽ được xem là chấp thuận nếu đa số người dân bỏ phiếu ủng hộ việc sửa đổi này (khoản 6, Điều 235). Như vậy, tại Ba Lan, việc sửa đổi Hiến pháp chỉ được đưa ra trưng cầu ý dân trong một số nội dung nhất định của Hiến pháp, trong đó có các vấn đề về quyền con người, quyền công dân.

Một điểm nữa có thể quan tâm là Hiến pháp Ba Lan đã quy định khá nhiều về quyền tiếp cận thông tin của công dân. Mọi người được bảo đảm quyền tự do biểu đạt ý kiến, thu thập thông tin hoặc phổ biến thông tin; việc kiểm duyệt mang tính phòng ngừa đối với các phương tiện thông tin xã hội và cấp phép hoạt động báo chí bị nghiêm cấm (Điều 54). Công dân cũng có quyền được biết thông tin về hoạt động của các cơ quan Nhà nước cũng như của những người thực hiện công vụ. Quyền này bao gồm cả việc nhận được thông tin về hoạt động của các tổ chức kinh tế hoặc nghề nghiệp tự quản và những cá nhân hoặc đơn vị trực thuộc tổ chức liên quan đến lĩnh vực mà họ thực thi nhiệm vụ của cơ quan nhà nước… (khoản 1, Điều 61). Có thể thấy những quy định này khá chi tiết đã tạo điều kiện để công dân Ba Lan có cơ sở thực hiện việc tham gia quản lý Nhà nước.

2.3. Hiến pháp của một số nước châu Á

Tại Nhật Bản, Hiến pháp được công bố ngày 3/11/1946 và có hiệu lực từ ngày 3/5/1947 và đến nay vẫn có hiệu lực.

Hiến pháp năm 1946 tại Điều 15 quy định công dân có quyền bất khả xâm phạm trong việc lựa chọn hay bãi nhiệm các viên chức; nguyên tắc phổ thông đầu phiếu được công nhận cho công dân đến tuổi đi bầu cử để lựa chọn các vị đại biểu nhân dân và mọi cuộc bầu cử đều theo nguyên tắc bỏ phiếu kín, cử tri không cần tường trình sự bỏ phiếu của mình với bất kỳ ai. Về điều kiện bầu cử và ứng cử được ghi trong pháp luật, không có sự phân biệt về chủng tộc, tín ngưỡng, nam nữ, điều kiện xã hội, lý lịch gia đình, học vấn, tài sản và thu nhập (Điều 44).

Bên cạnh đó, Hiến pháp cũng quy định về quyền khiếu nại: “mọi công dân đều có quyền khiếu nại để đòi bồi thường thiệt hại, cắt chức các công chức, kiến nghị áp dụng, huỷ bỏ, sửa chữa đạo luật, quy tắc hành chính hay khiếu nại trong các lĩnh vực khác; không người nào bị phân biệt đối xử vì ủng hộ các kiến nghị này” (Điều 16). Để làm cơ sở cho việc thực hiện các quyền tham gia quản lý nhà nước, Hiến pháp Nhật Bản cũng quy định về quyền tiếp cận thông tin. Điều 21 quy định không có sự kiểm duyệt và sự tối mật trong các cách thức truyền đạt thông tin được bảo đảm.

Việc sửa đổi Hiến pháp phải do Quốc hội đề xướng sau khi được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu ­của mỗi Viện thông qua. Sau đó tu chính án phải được đa số nhân dân phê chuẩn trong một cuộc trưng cầu ý dân hay qua một cuộc tổng tuyển cử đặc biệt do Quốc hội ấn định; tu chính án sau khi được nhân dân chuẩn y sẽ lập tức được Hoàng đế với tư cách đại diện cho nhân dân phê chuẩn như một phần thống nhất của Hiến pháp này (Điều 96). Như vậy, Hiến pháp Nhật Bản cũng đã ghi nhận quyền trưng cầu ý dân của công dân.

Tại Hàn Quốc, Hiến pháp được công bố ngày 29/10/1987. Nội dung các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tại Chương II của Hiến pháp. Về cơ bản, các quyền và tự do của công dân Hàn Quốc không thể bị bỏ qua với lý do chúng không được liệt kê trong Hiến pháp (Điều 37). Điều 24 ghi nhận mọi công dân có quyền bỏ phiếu theo các điều kiện được pháp luật quy định. Hiến pháp cũng ghi nhận mọi công dân có quyền kiến nghị bằng văn bản đến bất kỳ cơ quan chính quyền nào theo các điều kiện theo quy định của pháp luật và Nhà nước có nghĩa vụ xem xét tất cả các kiến nghị đó (Điều 26). Bên cạnh đó, các đề xuất sửa đổi Hiến pháp phải được đưa ra trưng cầu ý dân không muộn hơn 30 ngày sau khi được Quốc hội thông qua, và phải được chấp thuận bởi tối thiểu một nửa số phiếu hợp lệ trong số cử tri đủ điều kiện bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội (khoản 2, Điều 130). Nhu vậy, có thể thấy các quyền liên quan đến tham gia quản lý Nhà nước trong Hiến pháp Hàn Quốc khá đơn giản, đề cập đến quyền bầu cử, kiến nghị với cơ quan Nhà nước và trưng cầu dân ý về sửa Hiến pháp.

Tại Trung Quốc, Hiến pháp được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc thông qua ngày 4/2/1982 và sửa đổi 4 lần vào các năm 1988, 1993, 1999, 2004.

Ngay trong phần Lời mở đầu, Hiến pháp Trung Quốc đã khẳng định sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào công nhân, nông dân và các tầng lớp trí thức, đoàn kết tất cả các lực lượng có thể đoàn kết. Dưới hình thức luật pháp, bản Hiến pháp này xác nhận những thành quả phấn đấu của nhân dân các dân tộc Trung Quốc, quy định những chế độ cơ bản và những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước, là văn bản luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lí cao nhất. Tại Điều 2, Hiến pháp ghi nhận mọi quyền lực của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và đại hội đại biểu nhân dân các cấp ở địa phương. Nhân dân dựa vào những quy định của luật pháp, bằng các hình thức và bằng nhiều con đường khác nhau thực hiện quản lí các công việc nhà nước, quản lí sự nghiệp kinh tế và văn hoá, quản lí các công việc xã hội.

Về quyền bầu cử, ứng cử, Hiến pháp quy định công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đủ 18 tuổi, không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, tôn giáo tín ngưỡng, trình độ học vấn, tình hình kinh tế, thời hạn cư trú đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người bị pháp luật tước đoạt quyền lợi chính trị theo quy định của pháp luật (Điều 34).

Bên cạnh đó, điều 41 cũng quy định công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền phê bình và kiến nghị đối với mọi cơ quan nhà nước hoặc bất kì nhân viên nhà nước nào; có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc tố giác với các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước về các hành vi vi phạm trách nhiệm, vi phạm pháp luật của bất kì cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước nào nhưng không được bịa đặt hoặc xuyên tạc sự thật để vu cáo, hãm hại. Đối với khiếu nại, tố cáo hoặc tố giác của công dân, các cơ quan có trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải điều tra sự thật, chịu trách nhiệm xử lí. Không cá nhân nào có quyền được gây áp lực và trả thù.

Tại khu vực Đông Nam Á (ASEAN), các bản Hiến pháp của các quốc gia ASEAN được ban hành ở những thời điểm lịch sử khác nhau trong thế kỷ XX và XXI. Có những bản Hiến pháp ra đời cách đây đã hơn nửa thế kỷ, ví dụ Hiến pháp Indonesia (1945), Malaysia (1957), Brunei (1959); có những bản Hiến pháp mới vài năm tuổi, ví dụ Hiến pháp Thái Lan (2007), Hiến pháp Myanmar (2008). Nền tảng văn hóa pháp lý của các quốc gia ASEAN cũng khá phong phú. Đa số các quốc gia ASEAN đã từng có thời gian dài nằm dưới ách cai trị của thực dân Anh hay đế quốc Hoa Kỳ, đã khá quen thuộc với án lệ và hiến pháp bất thành văn, ví dụ Singapore, Malaysia, Myanmar, Brunei, Philippines. Mặc dù vậy, cho đến nay tất cả các Hiến pháp hiện hành của các quốc gia ASEAN đều là những bản Hiến pháp thành văn. Ngoại trừ Brunei, các quốc gia ASEAN còn lại đều có quy định về quyền cơ bản của công dân. Sự thiếu vắng chế định về quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp Brunei là một bằng chứng nữa cho thấy bản Hiến pháp này giống như một công cụ để phục vụ sự cai trị của Quốc vương Brunei trong một chính thể quân chủ chuyên chế[8]. Các bản Hiến pháp của các nước còn lại đều thể hiện các quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị là những điều mà Nhà nước phải bảo đảm cho người dân được làm hoặc được hưởng trong lĩnh vực chính trị. Đây cũng là nhóm quyền cơ bản hết sức quan trọng bởi vì chúng là những tiêu chí căn bản để đánh giá một nền dân chủ. Nhìn tổng thể, có những quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị sau được đề cập tới trong Hiến pháp các quốc gia ASEAN: quyền bầu cử; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tham gia một cách chủ động vào chính trị; quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền; quyền trưng cầu dân ý. Trong số năm quyền này thì chỉ có ba quyền đầu tiên là được đề cập nhiều nhất, ba quyền còn lại được ít Hiến pháp quy định. Mặc dù vậy, không có bản Hiến pháp nào trong số tám Hiến pháp ASEAN[9] được nghiên cứu ở đây có quy định đầy đủ tất cả năm quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị nêu trên. Cũng có thể nhận thấy, đây cũng chính là các quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội của công dân. Có thể khái quát các quyền liên quan đến tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của công dân trong các bản Hiến pháp nói trên như sau[10]:

– Quyền bầu cử là quyền được quy định phổ biến nhất trong các bản Hiến pháp của các quốc gia ASEAN. Quyền này được hiến pháp của năm quốc gia ASEAN quy định, đó là hiến pháp Campuchia, Lào, Myanmar, Philippines và Thái Lan. Hiến pháp của Malaysia, Singapore và Indonesia không quy định một cách rõ ràng quyền này với tư cách là một quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị. Mức độ quy định chi tiết về quyền này ở năm bản hiến pháp rất khác nhau. Tuy nhiên các bản hiến pháp đó đều quy định quyền bầu cử chỉ dành cho công dân nước mình chứ không phải các đối tượng không có quốc tịch, đồng thời độ tuổi được xác định đủ điều kiện thực hiện quyền bầu cử đều là từ 18 tuổi trở lên. Bốn trong số năm bản hiến pháp nói trên quy định cả về quyền bầu cử và quyền ứng cử, hiến pháp Philippines là trường hợp duy nhất chỉ quy định quyền bầu cử mà không có quyền ứng cử. Trong một số hiến pháp có quy định cả độ tuổi để thực hiện quyền ứng cử và lúc này có sự khác nhau khá lớn giữa các quốc gia. Hiến pháp Lào quy định độ tuổi được hưởng quyền ứng cử là 21 tuổi trở lên, hiến pháp Thái quy định 25 tuổi; trong khi đó hiến pháp Campuchia phân biệt độ tuổi tối thiểu được thực hiện quyền ứng cử vào viện dân biểu là 25 tuổi và vào thượng nghị viện là 40 tuổi. Một số bản hiến pháp còn quy định khá chi tiết về điều kiện được thực hiện quyền bầu cử và ứng cử hoặc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền bầu cử. Hiến pháp Lào quy định những người mất trí, tâm thần hay bị tòa án tước quyền bầu cử không có quyền bầu cử.[11] Hiến pháp Philippines quy định công dân không những phải đủ tuổi mà còn phải cư trú ở Philippines ít nhất là một năm hoặc ở nơi họ sẽ thực hiện quyền bầu cử ít nhất là sáu tháng trước khi diễn ra bầu cử.[12] Hiến pháp Myanmar quy định một số đối tượng không có quyền bầu cử, bao gồm: chức sắc tôn giáo, người đang chấp hành án phạt tù, người do tòa án tuyên bố là không minh mẫn, người đang bị phá sản, và người bị tước quyền theo quy định của pháp luật bầu cử[13]. Hiến pháp Thái Lan có quy định giống với hiến pháp Myanmar về điều kiện không có quyền bầu cử.

– Quyền khiếu nại, tố cáo được quy định trong hiến pháp của Campuchia, Lào và Thái Lan. Về tinh thần chung, quyền này cho phép công dân đưa các vụ việc vi phạm lên cơ quan nhà nước để yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Tuy nhiên, nội dung quy định quyền này trong ba bản hiến pháp trên cũng có nhiều điểm khác nhau. Quyền khiếu nại, tố cáo được ghi nhận một cách khá chung chung trong hiến pháp Lào: “công dân Lào có quyền khiếu nại, quyền tố cáo, đề đạt ý kiến với các cơ quan của nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chung hoặc quyền và lợi ích riêng của mình”[14]. Có thể nói quyền này được hiến pháp Lào quy định mang tính chất ghi nhận chứ chưa đủ cụ thể để thực thi, bởi vì đối tượng có thể bị khiếu nại tố cáo có thể là bất kỳ đối tượng nào và thủ tục khiếu nại tố cáo cũng chưa được xác định, cho dù là về mặt nguyên tắc. Hiến pháp Campuchia quy định về quyền này tuy cũng rất ngắn gọn song khá cụ thể: “công dân Khmer có quyền khiếu nại, tố cáo hay nộp đơn kiện đối với bất kỳ vi phạm pháp luật nào của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội hoặc thành viên của những cơ quan, tổ chức đó… Tòa án là người có thẩm quyền xét xử những khiếu nại và đơn kiện đó”[15]. Trong hiến pháp Thái Lan, quyền khiếu nại tố cáo được đặt trong mối quan hệ biện chứng với quyền được thông tin. Từ quyền được thông tin, người dân Thái Lan có các quyền khiếu nại tố cáo tương ứng. Vì vậy đối tượng có thể bị khiếu nại tố cáo theo hiến pháp Thái Lan cũng là các cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, chính quyền địa phương hoặc các cơ quan nhà nước khác[16].

– Quyền tham gia chủ động vào chính trị được quy định trong Hiến pháp Campuchia và Thái Lan. Hiến pháp Campuchia quy định về quyền này một cách khá chung chung và mang tính ghi nhận về mặt nguyên tắc rằng công dân Campuchia không phân biệt giới tính có quyền tham gia một cách chủ động vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của quốc gia. Bất kỳ đề xuất nào từ phía người dân đều phải được nhà nước quan tâm xem xét đầy đủ. Khác với hiến pháp Campuchia, hiến pháp Thái Lan tuy không quy định một cách rõ ràng về quyền tham gia chủ động vào chính trị của người dân song lại quy định một cách khá chi tiết một số quyền cụ thể nhằm tới mục đích cho phép người dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp Thái Lan cũng đặt các quyền này trong mối quan hệ nhân quả với quyền được thông tin. Hiến pháp Thái Lan quy định: “cá nhân có quyền tham gia vào quá trình ra quyết định của các quan chức nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lí hành chính mà ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng tới các quyền và quyền tự do của cá nhân. Cá nhân có quyền gửi khiếu nại và được phúc đáp về kết quả xem xét kiến nghị một cách không chậm trễ.Cá nhân có quyền nộp đơn kiện cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có tư cách pháp nhân để buộc trách nhiệm đối với hành vi (hành động hoặc không hành động) do công chức chính phủ, nhân viên hoặc người làm công của các cơ quan đó thực hiện”.[17] Rõ ràng tuy không đề cập trực tiếp tới quyền tham gia chủ động vào chính trị của người dân Thái nhưng với một số quyền cụ thể trên đây, khả năng người dân Thái Lan được tham gia một cách chủ động vào hoạt động của các cơ quan nhà nước được bảo đảm về mặt hiến định một cách khá hiệu quả và toàn diện.

– Quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền là một quyền cơ bản khá mới trong lĩnh vực chính trị. Nó cũng ít được nhắc tới trong các bản hiến pháp khác ở trên thế giới. Cũng có thể có những quan điểm cho rằng quyền này thực ra nằm trong ngoại diên của quyền và cũng là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Quan điểm này cũng không hẳn là sai. Tuy nhiên, trong duy nhất một bản hiến pháp của một quốc gia ASEAN, Indonesia, quyền này được quy định một cách rõ ràng “mỗi công dân có quyền nắm được các cơ hội bình đẳng trong chính quyền”([18]). Trong tất cả các bản hiến pháp còn lại đều không quy định quyền này. Rất tiếc hiến pháp Indonesia cũng không có quy định chi tiết hơn về quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền chính vì vậy vẫn chưa rõ nội hàm của quyền này là như thế nào và việc qui định về quyền này trong hiến pháp Indonesia vẫn chỉ mang tính nguyên tắc.

– Quyền trưng cầu dân ý. Đây là quyền chỉ được quy định trong Hiến pháp năm 2007 của Thái Lan. Ngay bản Hiến pháp này cũng được thông qua bằng việc thực hiện trưng cầu dân ý[19]. Tại Điều 138 ghi nhận Luật trưng cầu dân ý là một trong các Luật cơ bản cần phải được ban hành. Tiếp đó, Điều 165 cũng quy định trình tự, thủ tục, yêu cầu của việc thực hiện trưng cầu dân ý. Theo đó, một cuộc trưng cầu dân ý phải được thực hiện theo hướng ủng hộ hay không ủng hộ một vấn đề nào đó và không được thực hiện về một vấn đề trái hay không phù hợp với Hiến pháp hoặc liên quan tới bất kì cá nhân hay nhóm người nào. Trước một cuộc trưng cầu dân ý, Nhà nước phải có những bước chuẩn bị để cung cấp đầy đủ thông tin và phải cho người ủng hộ cũng như không ủng hộ vấn đề có liên quan những cơ hội bình đẳng để bày tỏ ý kiến của mình. Các quy định về trình tự thủ tục bỏ phiếu trưng cầu dân ý phải được thực hiện theo Luật cơ bản về trưng cầu dân ý. Luật này ít nhất phải quy định chi tiết về cách thức tiến hành trưng cầu dân ý, khung thời gian và số phiếu cần thiết để đi đến quyết định cuối cùng. Bên cạnh đó, có thể nhận thấy Hiến pháp Thái Lan đã thể hiện sự tiến bộ khi ghi nhận quyền phúc quyết Hiến pháp tại chương XV về sửa đổi Hiến pháp: dự thảo phải được xem xét qua ba phiên điều trần, trong đó phiên thứ hai phải lấy ý kiến của công chúng (chỉ những người có quyền bầu cử mới được tham gia trưng cầu dân ý sửa đổi Hiến pháp).

Bên cạnh đó, để tạo cơ cở cho việc thực thi các quyền công dân nói chung, quyền chính trị nói riêng, Hiến pháp một số nước ASEAN đã quy định quyền được thông tin. Quyền được thông tin liên quan tới hoạt động của nhà nước hoặc do nhà nước nắm giữ là một quyền cơ bản rất ưu việt trong lĩnh vực chính trị. Quyền này thường được xem là đóng vai trò nền tảng cho việc xây dựng một chế độ dân chủ bởi vì một khi quyền này được bảo đảm thực hiện thì bộ máy nhà nước sẽ trở nên minh bạch đối với người dân. Mặc dù vậy chỉ có hai trong số tám bản hiến pháp của các nước ASEAN được nghiên cứu có quy định về quyền cơ bản này, đó là hiến pháp Philippines và Thái Lan:

– Hiến pháp Philippines quy định: “quyền của người dân được thông tin về các vấn đề liên quan đến các mối quan tâm của cộng đồng được thừa nhận”. Bên cạnh việc ghi nhận quyền, hiến pháp Philippines cũng quy định cách thức mà nhà nước và pháp luật phải bảo đảm cho việc thực hiện quyền này của người dân: “Trừ những hạn chế do luật định, việc tiếp cận của người dân đối với các hồ sơ, tài liệu, giấy tờ liên quan đến các hành vi, giao dịch, quyết định chính thức cũng như các cơ sở dữ liệu nghiên cứu của Nhà nước được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách được đảm bảo”[20].

– Hiến pháp Thái Lan quy định về quyền được thông tin một cách toàn diện và chi tiết hơn nhiều so với Hiến pháp Philippines[21]. Về phạm vi thông tin được tiếp cận, hiến pháp Thái Lan quy định rõ: “Cá nhân có quyền được biết và tiếp cận dữ liệu hay thông tin công do cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp hay tổ chức chính quyền địa phương đang chiếm hữu”. Các căn cứ có thể được áp dụng để hạn chế quyền được thông tin bao gồm an ninh quốc gia, an toàn công cộng, lợi ích của các cá nhân nằm trong diện bảo vệ hoặc thông tin riêng tư. Công dân Thái Lan cũng có quyền “nhận được số liệu, giải thích từ phía cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hoặc tổ chức chính quyền địa phương trước khi phê chuẩn hoặc tiến hành bất kì dự án hay hoạt động nào mà có thể ảnh hưởng tới chất lượng môi trường, điều kiện vệ sinh và y tế, chất lượng cuộc sống hoặc bất cứ lợi ích vật chất nào khác liên quan tới cá nhân đó hoặc cộng đồng dân cư địa phương và có quyền bày tỏ ý kiến của mình tới các cơ quan có liên quan để phục vụ việc xem xét kĩ lưỡng hơn các vấn đề đó”. Quyền được thông tin của người Thái cũng được liên kết một cách biện chứng với một số quyền khác liên quan tới việc người dân tham gia vào đời sống chính trị nhằm làm tăng thêm ý nghĩa và hiệu quả của nó. Từ việc thực hiện quyền được thông tin, người dân Thái Lan có thể thực hiện quyền tham gia vào quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước, có quyền gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiện cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, hoặc quyền theo dõi và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Qua tìm hiểu các quy định quốc tế cũng như Hiến pháp một số quốc gia về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân có thể nhận thấy, hầu hết Hiến pháp các nước không có khái niệm công dân tham gia quản lý Nhà nước mà chỉ có khái niệm công dân tham gia các hoạt động chính trị hoặc quyền dân chủ cao nhất thuộc về nhân dân. Thông qua đặc điểm, bản chất của mỗi quyền có thể phân định quyền đó có phải là quyền để công dân tham gia quản lý nhà nước hay không. Một điều cần phải lưu ý thêm, quyền bầu cử, quyền ứng cử được xem là quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân phổ biến nhất trong Hiến pháp của các nước (quyền này cũng được ghi nhận đầu tiên trong hệ thống các quyền chính trị của các Công ước quốc tế về quyền con người). Các quyền khác không đề cập nhiều trong Hiến pháp các nước mà được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Bên cạnh đó, có thể nhận thấy quyền trưng cầu dân ý được quan tâm ghi nhận, thường được áp dụng đối với trường hợp sửa đổi Hiến pháp. Đối với khu vực ASEAN, hệ thống các quyền liên quan đến tham gia quản lý nhà nước được quy định trong hiến pháp các quốc gia này khá đầy đủ, bao gồm cả những quyền mang tính chất truyền thống như quyền bầu cử, ứng cử, cho tới những quyền ưu việt mới xuất hiện trong thời gian gần đây như quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được thông tin, quyền tham gia tích cực vào đời sống chính trị, quyền trưng cầu dân ý. Trong số các quốc gia ASEAN, có thể thấy Vương quốc Thái Lan là quốc gia có những quy định ưu việt nhất về các quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị, tham gia quản lý nhà nước của công dân. Về mặt kỹ thuật lập hiến, cách thức quy định các quyền trong Hiến pháp các nước khá ngắn gọn, rõ ràng, súc tích và đạt hiệu quả cao trong thi hành.

Hiện nay, Chính phủ của nhiều quốc gia đã và đang nỗ lực thực hiện những cam kết phục vụ dân, đồng thời mở rộng và kêu gọi sự tham gia tích cực của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước. Hoạt động quản lý của chính quyền không phải là một hoạt động “đóng” và “một chiều” mà cần phải có sự tương tác, đóng góp của cộng đồng theo xu hướng “mở”. Mô hình quản lý hành chính “cai trị” theo kiểu “mệnh lệnh hành chính đơn phương” của chủ thể hành chính và “phục tùng” hay “chấp hành vô điều kiện” của khách thể quản lý đã đến lúc phải thay đổi[22]. Xu hướng nền hành chính công “phục vụ” đang dần thay thế nền hành chính công “cai trị”./.


* Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp.

[1] Ví dụ: Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định:

(1) Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp;

(2) Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ.

(3) Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.

[2] Bình luận chung số 25, Phiên họp thứ 57 (1996).

[3] Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 242 – 247.

[5] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, 2012, tr. 553.

[6] Chương 1: Nền tảng của chế độ Hiến pháp, Chương 2: Các quyền và tự do của con người và công dân, Chương 9: Các tu chính án và việc sửa đổi Hiến pháp.

[7] Chương 3: Chế độ liên bang, Chương 4: Tổng thống Liên bang Nga, Chương 5: Quốc hội Liên bang Nga, Chương 6: Chính phủ Liên bang Nga, Chương 7: Quyền lực tư pháp, Chương 8: Tự quản địa phương.

[8] Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2011), Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia Asean, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Chủ nhiệm: TS. Tô Văn Hòa, Hà Nội, trang 92.

[9] Bao gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan.

[10] Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2011), Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia Asean, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Chủ nhiệm: TS. Tô Văn Hòa, Hà Nội, trang 107-115.

[11] Điều 36 Hiến pháp Lào hiện hành.

[12] Khoản 1, Điều 5 Hiến pháp Philippines hiện hành.

[13] Điều 392, Hiến pháp Myanmar hiện hành

[14] Điều 41, Hiến pháp Lào hiện hành.

[15] Điều 39, Hiến pháp Campuchia hiện hành.

[16] Điều 60, Hiến pháp Thái Lan hiện hành.

[17] Điều 58-60, Hiến pháp Thái Lan hiện hành.

[18] Khoản 3, Điều 28D, Hiến pháp Indonesia hiện hành.

[19] Điều này được thể hiện trong Lời mở đầu của Hiến pháp 2007: “… Sau khi đã hoàn tất việc dự thảo Hiến pháp, Hội đồng lập hiến đã công bố bản thảo và tiến hành trưng cầu dân ý để phê chuẩn dự thảo toàn văn hiến pháp. Cuộc trưng cầu dân ý đã cho thấy rõ ràng rằng đa số nhân dân có quyền bỏ phiếu, những người đã tham gia vào trưng cầu dân ý đều đồng ý với Dự thảo Hiến pháp mới này. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hội đồng lập pháp quốc gia đã trình Dự thảo Hiến pháp lên Nhà vua để ngài kí ban hành Dự thảo đó làm Hiến pháp của Vương quốc Thái Lan. Nhà vua đã thấy cần sớm kí ban hành theo nguyện ước của nhân dân”.

[20] Khoản 7, Điều 3, Hiến pháp Philippines hiện hành.

[21] Điều 56, 57 – 62, Hiến pháp Thái Lan hiện hành.

[22] Diệp Văn Sơn,  “Xây dựng cam kết phục vụ cộng đồng và đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công”, nguồn: www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Hoithao/phattrienbenvung/

Advertisements
Explore posts in the same categories: Bài nghiên cứu nhỏ, Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học, Human Rights, Luật Hiến pháp, Pháp luật hành chính Nhà nước

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: