Archive for Tháng Ba 2014

Người chuyển giới trong đời sống xã hội và pháp luật Việt Nam

Tháng Ba 31, 2014

1. Pháp luật dân sự cấm việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính

Văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền của người chuyển giới rất ít. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định quyền xác định lại giới tính là một quyền nhân thân tại Điều 36, không quy định quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân. Theo đó, việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Để cụ thể hóa quy định này, ngày 05-08-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính cho người liên giới tính (mà Nghị định gọi là “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”). Như vậy, việc phẫu thuật của người liên giới tính đã có quy định, quy trình, thủ tục rõ ràng; những người đã hoàn thiện về mặt giới tính không được phẫu thuật chuyển giới (khoản 4, Điều 1). Mặc dù Nghị định nói trên không trực tiếp đề cập tới những người chuyển giới, nhưng vô hình trung đây là văn bản duy nhất tới thời điểm hiện tại có quy định một vấn đề của người chuyển giới. Quan điểm ngầm trong Nghị định này là “nếu có khuyết tật bẩm sinh thì mới được phẫu thuật, còn nếu chỉ là mong muốn thì cấm”. Điều đó có nghĩa là, khác với người đồng tính/song tính (pháp luật không có quy định cấm), người chuyển giới bị cấm phẫu thuật chuyển giới để có thể sống thật với bản thân mình.

Cũng cần chú ý rằng, thực ra cách dùng từ “xác định lại giới tính” trong Bộ luật dân sự và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP là không chính xác. Không có sự “lại” nào ở đây. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Việc nghĩ rằng họ cần phải “xác định lại giới tính” thể hiện sự đóng khung của xã hội trong khuôn khổ “trắng – đen” mà không thừa nhận tồn tại của sự đa dạng. Một cách gián tiếp, điều này đặt ra một quan điểm áp đặt những gì không điển hình sẽ nên phải “xác định lại” để trở nên giống như số đông. Trong phần Nguyên tắc xác định lại giới tính (Điều 3, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP), có khoản 1 quy định rằng: “Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình”. “Đúng” ở đây nên được hiểu như thế nào? Một đứa trẻ liên giới tính không hoặc chưa có nhu cầu nhưng được cha mẹ cho đi phẫu thuật từ bé, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Còn một người chuyển giới mong muốn được chuyển đổi giới tính nhưng bị ngăn cấm, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Như vậy, đã có một sự mâu thuẫn ở đây, xã hội đã nói với người liên giới tính rằng “tôi thấy anh không ổn, anh cần thay đổi” và nói với người chuyển giới rằng “tôi thấy anh ổn rồi, anh không cần thay đổi” mà không cần biết liệu những người này có ổn thật hay là không và mong muốn thật sự của họ là gì. Đây là những bất cập mà pháp luật cần hoàn thiện trong thời gian tới. (more…)

Advertisements

Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới

Tháng Ba 21, 2014

1. Một số vấn đề chung về người chuyển giới

Khác với người đồng tính hay song tính, việc hiểu về người chuyển giới phải đề cập đến khái niệm bản dạng giới (gender identity). Người đồng tính, song tính liên quan đến khái niệm xu hướng tính dục, chỉ một người có tình cảm, nhu cầu yêu đương với một người cùng giới tính hay khác giới tính với mình. Trong khi đó, khái niệm bản dạng giới được hiểu là việc một người tự nhận mình mang một giới tính nào (có thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra)[1]. Có thể hiểu khái quát, nếu một người sinh ra và tự nhận mình mang giới tính giống với giới tính sinh học khi được sinh ra, có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính với mình thì người đó là người đồng tính. Nếu người này có tình cảm với người khác giới tính với mình thì đó là người dị tính.

Tuy nhiên nếu người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyển giới (transgender)[2]. Một điều rất quan trọng là không nhất thiết phải trải qua phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới. Có hai dạng người chuyển giới là: người chuyển giới nam sang nữ (male to female) và người chuyển giới nữ sang nam (female to male). Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới)[3], người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và nữ giới)[4] và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ giới)[5].

Nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm từ 0.1% đến 0.5% dân số[6]. Một điều tra về giám sát một số hành vi thiểu số trong xã hội ở Massachusetts (Mỹ) cho thấy có khoảng 0.5% người trong độ tuổi từ 18-64 tự nhận mình là người chuyển giới[7]. Gần đây, trong các cuộc điều tra dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu hướng tính dục. Số liệu ước tính mới nhất cho thấy có khoảng 0.3% dân số Mỹ là người chuyển giới[8]. Việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển giới gặp nhiều khó khăn do sự kỳ thị xã hội khiến người chuyển giới không thể hiện hoặc công khai giới tính mong muốn của mình. Số liệu tại nhiều nước châu Âu ghi nhận tỷ lệ người phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ cao gấp từ 2.5 lần đến 6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam[9]. Điều này có nguyên nhân là do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyển đổi giới tính hơn. Các yếu tố văn hóa, xã hội, quan niệm về vai trò giới và tình dục cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển giới tính khiến những số liệu tại các cơ sở y tế không phản ánh đúng thực tế[10].

Trong xã hội, không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất của người chuyển giới. Dưới đây xin tóm tắt một số nhận thức sai lầm về người chuyển giới đang tồn tại trong xã hội hiện nay: (more…)

Sống giữa bầu trời bất công thì người nông dân phải làm sao?

Tháng Ba 20, 2014

Một số kết quả nghiên cứu gần đây

Tháng Ba 19, 2014
  1. Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số tháng 4 năm 2013.
  2. Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, tháng 6/2013.
  3. Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả), Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 5/2013.
  4. Một số vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 6/2013.
  5. Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2013 (tác giả)
  6. Thực trạng áp dụng các quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 về vấn đề công khai cho nhân dân biết, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 12/2013 (tác giả)
  7. Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: quan niệm quốc tế và chính sách pháp luật của một số quốc gia, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số tháng 1/2014 (tác giả)
  8. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6007, ngày 10-02-2014
  9. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6008, ngày 12-02-2014
  10. Quyền kết hôn của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4, tháng 2/2014 (tác giả)
  11. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 2/2014.
  12. Đề tài: “Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”, Nghiệm thu đạt loại xuất sắc năm 2014.

Bảo vệ thành công đề tài Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay

Tháng Ba 19, 2014

1. Tên đề tài: “NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”

2. Chủ nhiệm đề tài: CN. Trương Hồng Quang, Nghiên cứu viên, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

3. Thời gian thực hiện theo hợp đồng nghiên cứu: 1 năm (tháng 6/2013-6/2014).

4. Thời gian hoàn thành thực tế: Tháng 11/2013; Thời gian nghiệm thu chính thức: Tháng 3/2014.

5. Kết quả bảo vệ: Xuất sắc (5/5 phiếu).

Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của Đề tài NCKH cấp cơ sở

NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Giới thiệu chung về Đề tài

Có thể nhận thấy trong bất kỳ thời đại nào, đời sống xã hội luôn có sự đa dạng, phong phú nhất định. Sự thể hiện cảm xúc, tình cảm hay xu hướng giới tính không nằm ngoài quy luật đó. Trước đây, chúng ta hầu như chỉ nhắc đến một xã hội với những gia đình là sự kết hợp giữa một nam và một nữ với mục đích duy trì nòi giống. Khi đó, việc một người yêu người cùng giới tính hay mong muốn có giới tính khác là những điều rất kỳ lạ, thậm chí bị xem là bệnh hoạn. Thực tế, đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh: LGBT[1]) là hiện tượng đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội và được khắc họa rõ nét trong xã hội hiện đại ngày nay. (more…)

Quyền kết hôn của người đồng tính

Tháng Ba 19, 2014

Trương Hồng Quang, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tháng 2/2014. Dưới đây trích phần đầu của bài viết:

“Theo Nghị quyết số 23/2012/QH13 của Quốc hội ngày 12/6/2012 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HNVGĐ) năm 2000 dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 6. Trong quá trình soạn thảo Dự án Luật này, nhiều vấn đề đã được đưa ra thảo luận như: độ tuổi kết hôn, chế định ly thân, hôn nhân thực tế… Trong đó, chủ đề về quan hệ sống chung của người đồng tính – NĐT (trong đó có quyền kết hôn – QKH) nhận được sự quan tâm khá nhiều từ dư luận. Liệu kết hôn giữa những người cùng giới tính – NCGT (kết hôn cùng giới) có làm suy thoái đạo đức xã hội, đi ngược lại truyền thống? Đâu là những rào cản của việc ghi nhận QKH của NĐT? Ảnh hưởng của nhận thức xã hội về đồng tính đến việc ghi nhận quyền này ở Việt Nam như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ phân tích một số khía cạnh trong chủ đề kết hôn cùng giới tại Việt Nam hiện nay. (more…)

QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Tháng Ba 19, 2014

Trương Hồng Quang*

 (Tạp chí Luật học, số tháng 2/2014)

  1. Khái quát thực tiễn pháp luật đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư hiện hành

Phát triển bền vững là đòi hỏi tất yếu của các quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Hơn nữa, phát triển bền vững của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn do nhiều lý do, trong đó có sự yếu kém của công tác quản lý. Quá trình phát triển kinh tế xã hội tạo ra nhiều nguy cơ đối với phát triển bền vững và vì thế đòi hỏi Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp giảm thiểu các nguy cơ này trong nhiều hoạt động khác nhau, đặc biệt là hoạt động đầu tư thông qua các dự án cụ thể. Phát triển bền vững không phải là thuộc tính đương nhiên của các dự án đầu tư. Để có sự phát bền vững cần lồng ghép để đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong từng dự án và biến chúng trở thành thành tố của mọi quá trình đầu tư. Pháp luật có vai trò quan trọng trong thực hiện việc lồng ghép này. Để thực hiện vai trò này, pháp luật cần đáp ứng được các yêu cầu nhất định như: thể hiện đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững xuyên suốt các giai đoạn của dự án đầu tư, phát huy vai trò của tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư và tôn trọng các quy luật thị trường trong quá trình can thiệp vào các dự án đầu tư.

Phát triển bền vững là phát triển dựa trên sự cân bằng: cân bằng về tự nhiên, cân bằng về mặt kinh tế và cân bằng về xã hội. Chỉ có sự phát triển cân bằng mới đảm bảo lợi ích cho tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình phát triển, tức là tạo cho tất cả cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Các dự án đầu tư có thể mang lại thành quả song cũng có thể mang lại rủi ro cho phát triển bền vững do có sự chi phối của ý chí con người, sự xuất hiện của các lợi ích xung đột[1]. Để đảm bảo phát triển bền vững ở cấp độ dự án đầu tư, pháp luật phải đảm bảo được sự cân bằng giữa các lợi ích của chủ thể liên quan dự án đầu tư, bao gồm: lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng dân cư có liên quan đến dự án đầu tư. Để đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, các quy định pháp luật cần bao quát đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế, an sinh và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường[2]. Pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cũng phải đáp ứng được ba khía cạnh này. Pháp luật hiện hành tuy đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững trong các dự án đầu tư song vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: (more…)