Bảo vệ thành công đề tài Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay

1. Tên đề tài: “NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”

2. Chủ nhiệm đề tài: CN. Trương Hồng Quang, Nghiên cứu viên, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

3. Thời gian thực hiện theo hợp đồng nghiên cứu: 1 năm (tháng 6/2013-6/2014).

4. Thời gian hoàn thành thực tế: Tháng 11/2013; Thời gian nghiệm thu chính thức: Tháng 3/2014.

5. Kết quả bảo vệ: Xuất sắc (5/5 phiếu).

Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của Đề tài NCKH cấp cơ sở

NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Giới thiệu chung về Đề tài

Có thể nhận thấy trong bất kỳ thời đại nào, đời sống xã hội luôn có sự đa dạng, phong phú nhất định. Sự thể hiện cảm xúc, tình cảm hay xu hướng giới tính không nằm ngoài quy luật đó. Trước đây, chúng ta hầu như chỉ nhắc đến một xã hội với những gia đình là sự kết hợp giữa một nam và một nữ với mục đích duy trì nòi giống. Khi đó, việc một người yêu người cùng giới tính hay mong muốn có giới tính khác là những điều rất kỳ lạ, thậm chí bị xem là bệnh hoạn. Thực tế, đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh: LGBT[1]) là hiện tượng đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội và được khắc họa rõ nét trong xã hội hiện đại ngày nay.

Trên thế giới, cộng đồng LGBT rất được quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau (xã hội, pháp lý, y tế, lao động, kinh tế,…). Mặc dù vẫn còn hiện tượng kỳ thị, phân biệt đối xử đối với cộng đồng LGBT (ví dụ một số nước xem đồng tính là tội phạm hình sự cần phải bị xử tử; hiện tượng công khai xúc phạm, đánh đập, hành hạ thể chất và tinh thần người đồng tính một cách dã man và cấm tuyên truyền về đồng tính) nhưng nhìn chung phong trào bảo vệ nhóm đối tượng này đã có những thay đổi lớn theo chiều hướng tích cực trong thời gian qua. Ví dụ, về quyền kết hôn của người đồng tính, từ năm 2005 trở về trước chỉ có 04 quốc gia công nhận nhưng đến tháng 2-2014 đã có 17 quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới và 03 quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới tại một số vùng; 17 quốc gia và 13 vùng lãnh thổ thừa nhận hình thức kết hợp dân sự cho cặp đôi đồng tính… Bên cạnh đó, người chuyển giới cũng ngày càng được công nhận và bảo vệ nhiều hơn ở các nước trên thế giới. Vào năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization–WHO)[2] đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Tháng 6-2011, Hội đồng nhân quyền của Liên Hợp Quốc (United Nations, viết tắt là LHQ) đã thông qua Nghị quyết khẳng định: “mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào”[3]. Đến ngày 7-3-2012, Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với cộng đồng LGBT[4]. Như vậy, lần đầu tiên, người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã đưa ra một thông điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với cộng đồng LGBT, và đây cũng là quan điểm của cả LHQ khi gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới. Những động thái này đã cho thấy vấn đề cộng đồng LGBT ngày được quan tâm, trở thành một vấn đề nóng trong bối cảnh xã hội hiện đại. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang trong quá trình thảo luận việc ghi nhận các quyền và lợi ích của cộng đồng LGBT. Dường như quá trình này diễn ra rất phức tạp và khó khăn, có sự đối đầu giữa các tổ chức, đảng phái có liên quan…

Tại Việt Nam, vấn đề LGBT trong thời gian gần đây đang dần nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội và cơ quan hoạch định chính sách. Tuy nhiên, nhận thức về cộng đồng người LGBT của xã hội Việt Nam còn khá lạc hậu và đang tồn tại nhiều định kiến, kỳ thị rất rõ nét. Thực tế ở Việt Nam thời gian qua vẫn còn nhiều cách hiểu không đúng về bản chất của cộng đồng LGBT, thể hiện qua các phương tiện truyền thông, quan niệm của xã hội hoặc ngay cả trong các nghiên cứu chuyên ngành (xã hội học hay y học). Chính vì vậy, cộng đồng LGBT thường xuyên xuất hiện trong các bài báo trên các báo mạng, báo in với những cách gọi, từ ngữ sử dụng khá lệch lạc, với những hình ảnh khá tiêu cực… ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng xã hội.

Cộng đồng LGBT Việt Nam ngày càng xuất hiện rõ nét hơn trong xã hội với những động thái tích cực trong việc công khai xu hướng tính dục, bản dạng giới, tuyên truyền, tham gia vận động bảo vệ quyền cho cộng đồng, thể hiện nhu cầu và mong muốn đối với Nhà nước nhiều hơn. Mặc dù chưa có thống kê chính thức nhưng xã hội cũng nhận thấy được những vấn đề mà cộng đồng LGBT đang phải đối mặt (kỳ thị, bị bạo hành, xâm hại tình dục…), những mong muốn, nhu cầu rất chính đáng (sống chung, quan hệ tài sản, con cái, nhân thân; phẫu thuật chuyển giới…). Bên cạnh đó, một số vấn đề liên quan đến người LGBT (mại dâm đồng tính, mại dâm chuyển giới, cướp tài sản, nhiễm HIV,…) cũng gây nhiều bất ổn trong xã hội. Tất cả những vấn đề đó đã đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người LGBT cũng như đảm bảo an ninh trật tự của xã hội.

Đáp ứng nhu cầu nói trên, Việt Nam đang trong quá trình tiến hành sửa đổi, hoàn thiện một số đạo luật cơ bản liên quan đến cộng đồng LGBT. Trong đó, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ giúp Chính phủ xây dựng các dự án luật sửa đổi/bổ sung hoặc ban hành mới: Bộ luật Dân sự năm 2005; Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi 2009); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Luật Hộ tịch, Luật Trợ giúp pháp lý 2006… Đây là những văn bản pháp luật rất quan trọng đối với cộng đồng LGBT. Tuy nhiên quá trình soạn thảo đã cho thấy sự lúng túng của cơ quan soạn thảo đối với các vấn đề liên quan đến người LGBT Việt Nam. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu “Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay” thực sự rất cần thiết trong lĩnh vực khoa học pháp lý của Việt Nam hiện nay.

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài, Ban Chủ nhiệm đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa và các phương pháp bổ trợ khác như phương pháp sử dụng chuyên gia; tổ chức Tọa đàm,… Ban Chủ nhiệm đã có những buổi trao đổi (trực tiếp hoặc qua mạng) với một số thành viên của cộng đồng LGBT của Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hải Phòng, tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng,… ; trao đổi sâu với một số chuyên gia về xã hội học, tâm lý học, luật học và một số đơn vị, tổ chức hoạt động liên quan đến cộng đồng LGBT; trao đổi thông tin với cán bộ của Trung tâm dịch vụ thông tin và nghiên cứu thuộc Quốc hội Canada… Bên cạnh đó, Ban Chủ nhiệm đề tài cũng tổ chức một buổi sinh hoạt khoa học chuyên đề “Người đồng tính, song tính và chuyển giới: một số vấn đề pháp lý đặt ra tại Việt Nam hiện nay” tại Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) vào ngày 4-10-2013. Nội dung buổi Sinh hoạt khoa học đã nhận được rất nhiều sự hưởng ứng từ các nghiên cứu viên của Viện Khoa học Pháp lý và có khá nhiều phản hồi tích cực.

2. Một số kết quả nghiên cứu chính

2.1. Tổng quan về đồng tính, song tính và chuyển giới

Chương 1 tập trung làm rõ các quan niệm về LGBT, các vấn đề mà người LGBT phải đối mặt, cơ sở lý luận về quyền của người LGBT và một số yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về người LGBT.

Qua nghiên cứu chương 1, có thể khẳng định LGBT là những điều tự nhiên của xã hội loài người, không phải là khiếm khuyết của xã hội, không phải là bệnh và do đó cũng không thể lây lan từ người này sang người khác. Nhóm người LGBT chiếm số ít trong xã hội. Trong khi đó, nhóm người dị tính chiếm đa số trong xã hội. Khi tìm hiểu về người LGBT cũng nên phân biệt họ với người liên giới tính và làm rõ các vấn đề về đồng tính giả, xu hướng, phong trào trong giới trẻ. Những nhận dạng được nêu trong chương 1 về người LGBT chỉ mang tính chất nêu rõ bản chất của họ. Trong thực tế có nhiều người đồng tính hoặc dị tính do sở thích hoặc yêu cầu công việc cũng có thể cải trang thành nữ, dùng son phấn. Và ngược lại, không phải một cô gái nào đó thích cắt tóc ngắn, ăn mặc như con trai cũng là người chuyển giới từ nữ sang nam. Chính vì vậy, để hiểu đúng về người LGBT hãy tìm hiểu tình cảm, cảm xúc bên trong của họ mà đừng chỉ nhìn vẻ bề ngoài. Người LGBT là nhóm người dễ bị tổn thương, thiểu số về tình dục nên đang đối mặt với rất nhiều vấn đề: kỳ thị, bạo lực gia đình, bạo hành, khó tiếp cận việc làm, khó tiếp cận dịch vụ y tế, chưa được công nhận một số quyền đầy đủ như người dị tính.

Quan niệm về người LGBT và quyền của người LGBT chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: truyền thống, chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng, báo chí, truyền thông… Trong đó yếu tố truyền thống chi phối khá mạnh mẽ vấn đề này. Như nhiều người vẫn hay nói, xã hội mà chúng ta đang sống là một “xã hội dị tính”. Và sống trong xã hội dị tính đó, các quan điểm về tính dục khác giới chiếm ưu thế. Đôi khi, những quan điểm đó được dùng để biện minh cho sự bất bình đẳng đối với người LGBT hay các xu hướng, bản dạng khác. Điều cần nhấn mạnh, chủ nghĩa độc tôn dị tính không chỉ là sản phẩm của những người dị tính. Nhiều người LGBT cũng thừa nhận và tuân theo hệ thống quan điểm này. Hệ quả là họ trở nên mặc cảm, chối bỏ bản thân, chối bỏ bản dạng giới, hạ thấp lòng tự tôn, tự kỳ thị cùng nhiều vấn đề khác.

2.2. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về người đồng tính, song tính và chuyển giới

Qua nghiên cứu chương 2 đã cho thấy những vấn đề sau:

– Vấn đề quyền của cộng đồng LGBT là một trong những thách thức còn lại về nhân quyền còn lại của thời đại. Vấn đề này đã được quan tâm ở phạm vi toàn cầu trong suốt nhiều thế kỷ qua, đơn cử như những Tuyên bố và hoạt động của tổ chức LHQ.

– Pháp luật các quốc gia trên thế giới có quan điểm khác nhau về người LGBT, có thể chia thành các nhóm như sau:

(1) Nhóm các quốc gia theo quan niệm truyền thống, một số quyền chỉ được áp dụng cho người dị tính và không áp dụng cho người LGBT: chiếm đa số trên thế giới.

(2) Nhóm các quốc gia theo quan niệm truyền thống, ban hành những đạo luật chống người LGBT, phân biệt đối xử, bỏ tù, tử hình người đồng tính, cấm người chuyển giới phẫu thuật chuyển đổi giới tính, cấm tuyên truyền về người LGBT: chiếm số lượng ít, thường tập trung ở các quốc gia châu Phi, theo Đạo hồi… Theo báo cáo của tổ chức ILGA (International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and Intersex Association) cho đến tháng 5-2010, có 32 quốc gia trên thế giới chấp nhận đồng tính nữ nhưng không chấp nhận đồng tính nam. Cũng theo báo cáo này, quan hệ đồng tính bị cấm tại 44 quốc gia trên thế giới, trong đó có một số quốc gia như Iran, Mauritania, Saudi Arabia, Sudan, Yemen và một phần của Nigeria + Somalia có thể xử phạt đến chết nếu phát hiện quan hệ đồng tính. Có thể thấy, dù đã có những tiến bộ trong việc giảm kỳ thị và từng bước tôn trọng quyền của người đồng tính nhưng những nỗ lực đó còn quá ít ỏi. Nhìn chung, trên phạm vi toàn thế giới hiện nay, người đồng tính vẫn chưa thực sự được bảo vệ bởi hệ thống chính sách pháp luật và thêm vào nữa một số quyền tự do cơ bản của họ vẫn bị vi phạm.

(3) Nhóm các quốc gia có quan điểm hài hòa hóa các quan hệ xã hội nhưng chưa công nhận đầy đủ các quyền bình đẳng cho người LGBT, ví dụ như chỉ cho phép người đồng tính đăng ký sống chung (kết hợp dân sự) – không phải là quyền kết hôn bình đẳng…: chiếm số ít.

(4) Nhóm các quốc gia thừa nhận quyền bình đẳng hoàn toàn cho người LGBT: chiếm số ít và đang có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây, nhất là ba năm 2011-2013.

– Một điểm rất đáng chú ý là sự chấp nhận của cộng đồng đối với hành vi tình dục đồng giới tăng theo mức độ phát triển của xã hội. Hành vi tình dục đồng giới cần có cách nhìn rộng trên phạm vi toàn cầu cũng như xuyên suốt chiều dài lịch sử của nhân loại để hiểu thái độ của cộng đồng với các xu hướng tình dục khác nhau, cụ thể là đối với xu hướng tính dục đồng giới – một xu hướng gây rất nhiều bàn cãi từ xưa đến nay. Có thể thấy các cộng đồng ở các châu lục có sự nhìn nhận rất khác nhau về tình dục đồng giới.

– Việc ghi nhận quan hệ sống chung của người đồng tính là vấn đề nóng nhất của người đồng tính, bị chi phối bởi nhiều yếu tố chính trị, văn hóa, xã hội, truyền thống… Hiện nay trên thế giới có 3 hình thức sống chung của người đồng tính được ghi nhận: Quyền kết hôn bình đẳng; Kết hợp dân sự (sống chung có đăng ký); Sống chung không có đăng ký.

Thời gian qua, LHQ cũng đã ghi nhận quan niệm về một phạm vi rộng rãi trong việc xác thực những tiến triển (thay vì cố định) của định nghĩa về gia đình. Ủy ban Nhân quyền LHQ đã lưu ý rằng “khái niệm gia đình có thể khác biệt trong vài khía cạnh, giữa các quốc gia, và ngay cả giữa các tôn giáo, và vì thế không thể đưa ra một định nghĩa chuẩn mực chung”. Uỷ ban Quyền trẻ em LHQ đã tuyên bố điều này trong “Nhận định về môi trường gia đình”, rằng cần phản ánh “những cấu trúc gia đình khác nhau, phát sinh từ các mẫu hình văn hóa và các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng đang nổi lên”. Một trong các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng ở đây có thể được hiểu là sự đa dạng về xu hướng tính dục, là một cơ sở quan trọng cho một gia đình của các cặp đôi đồng tính. Việc thừa nhận hôn nhân cùng giới cũng không thể làm suy thoái nòi giống như ý kiến của nhiều người bởi thực ra người đồng tính chỉ chiếm khoảng 3% trong tổng dân số của xã hội[5].

– Hiện nay đã có nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận người chuyển giới, cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính.

Phẫu thuật chuyển giới không phải chuyện lạ với nhiều nước trên thế giới, từ Mỹ, Canada, Serbia… ở phương Tây cho đến Thái Lan, Singapore, Philippines, Ấn Độ… ở phương Đông. Hiện nay, xu hướng liên quan đến người chuyển giới là không cần phẫu thuật chuyển đổi giới tính vẫn có thể được làm lại giấy tờ tùy thân theo giới tính mong muốn (ví dụ như ở Argentina, Hàn Quốc hay Canada…).

2.3. Cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới trong đời sống xã hội, pháp luật Việt Nam và một số khuyến nghị

Trước hết, chương 3 tập trung nghiên cứu các nội dung: khái quát các quy định tác động trực tiếp đến người LGBT tại Việt Nam; thực trạng cộng đồng LGBT Việt Nam và các vấn đề pháp lý phát sinh (số lượng và đặc điểm tính dục; tình trạng việc làm; vấn đề lộ diện, công khai; định kiến và sự kỳ thị xã hội; bạo lực gia đình; nhu cầu sống chung và các quan hệ của người đồng tính; nhu cầu của người chuyển giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; hoạt động mại dâm; lĩnh vực tư pháp hình sự; bí mật đời tư; bảo vệ trẻ em là LGBT; trợ giúp pháp lý; tiếp cận pháp luật); các tổ chức bảo vệ quyền của người LGBT VN và các sự kiện nổi bật của cộng đồng LGBT VN. Qua nghiên cứu những nội dung này, đề tài rút ra một số nhận định như sau:

Thứ nhất, mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu, điều tra tổng thể nhưng nhìn chung, qua tìm hiểu thực tế đã cho thấy cộng đồng LGBT Việt Nam cũng là những người bình thường trong xã hội. Họ có mặt ở các lứa tuổi, loại hình công việc và các môi trường khác nhau và cũng cống hiến cho xã hội như những người dị tính.

Có nhiều quan niệm về người LGBT trong xã hội Việt Nam. Có quan niệm tích cực, có quan niệm chưa đúng đắn. Từ đó dẫn đến thái độ của xã hội đối với người LGBT là khác nhau. Tuy nhiên có thể nhận thấy trong những năm vừa qua đã có những chuyển biến tích cực đối với quan niệm, nhận thức về người LGBT Việt Nam. Bản thân báo chí, truyền thông cũng góp phần không nhỏ trong sự thay đổi này.

Từ thực tiễn Việt Nam, xét một cách khách quan, nguyên nhân của sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người LGBT cũng xuất phát từ chính bản thân họ. Nhiều người LGBT còn chưa có lối sống đẹp, thể hiện cách ứng xử thái quá trong đời sống xã hội hoặc cũng có những hành vi vi phạm pháp luật (trộm cắp, giết người, hiếp dâm, cưỡng dâm…) làm cho nhiều người trong xã hội không có thiện cảm. Chính bản thân nội bộ cộng đồng LGBT cũng còn nhiều mâu thuẫn với nhau: người đồng tính kỳ thị người chuyển giới, người chuyển giới tự kỳ thị bản thân…

Thứ hai, qua nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy, cộng đồng LGBT Việt Nam hiện diện rõ ràng hơn trong xã hội và cũng cho thấy có khá nhiều vấn đề cần được quan tâm. Ví dụ như: mối quan hệ sống chung, phát sinh quan hệ tài sản, nhân thân, cần có quyền được giám hộ, đại diện cho nhau, nhu cầu sinh con, nhận con nuôi; mong muốn được phẫu thuật chuyển đổi giới tính của người chuyển giới; quyền của người LGBT trong lĩnh vực tư pháp hình sự chưa được bảo đảm…

Thứ ba, cần phải khẳng định những cá nhân trong cộng đồng LGBT Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền nhân thân và quyền tài sản do pháp luật dân sự quy định chung cho mọi cá nhân. Do vậy, họ đều có năng lực pháp luật dân sự bình đẳng với năng lực pháp luật dân sự của các cá nhân khác. Các cá nhân trong cộng đồng LGBT vẫn là chủ thể trong quan hệ tài sản như sở hữu tài sản, thừa kế tài sản, là chủ thể trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các quyền, nghĩa vụ về tài sản trong các quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, do những đặc điểm xu hướng tính dục và bản dạng giới riêng của những người trong cộng đồng LGBT, các quy định của pháp luật được quy định chung cho tất cả mọi người lại vô tình hoặc hữu ý không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu, nguyện vọng cũng như chưa đảm bảo cho cộng đồng LGBT thực hiện được các quyền, lợi ích chính đáng.

Qua thực tiễn thi hành cũng cho thấy pháp luật Việt Nam chưa thực sự tiệm cận với các giá trị chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quan hệ sống chung của người đồng tính đặt ra yêu cầu xem xét thừa nhận quan hệ này (từ đó phát sinh các quan hệ về tài sản, nhân thân, con cái…); người chuyển giới bị kỳ thị rất nhiều trong xã hội, cần được thừa nhận quyền phẫu thuật để tránh khỏi một số trường hợp không được bảo vệ quyền đầy đủ (ví dụ như bị hiếp dâm, thi hành án phạt tù không biết giam phòng nam hay phòng nữ…); một số tệ nạn/tội phạm như mại dâm đồng tính, tội môi giới mại dâm, hiếp dâm trẻ em cùng giới… còn chưa được xử lý triệt để. Một số vấn đề khác đã quy định nhưng đến nay không còn phù hợp, một số vấn đề còn nhiều khoảng trống chưa điều chỉnh và đặc biệt là hoạt động thi hành pháp luật còn nhiều hạn chế (bí mật đời tư, bảo vệ trẻ em LGBT, bạo lực gia đình, tiếp cận pháp luật, trợ giúp pháp lý…).

Quan điểm của xã hội cũng như các nhà lập pháp về những vấn đề trên còn khác nhau, thậm chí mâu thuẫn và ở nhiều mức độ chấp nhận khác nhau. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

– Quan niệm của Việt Nam xuất phát từ nhiều quan điểm truyền thống, còn khá lạc hậu, ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều người nên không chấp nhận người LGBT, coi đó là hiện tượng bất bình thường, sự khiếm khuyết của xã hội. Chủ nghĩa độc tôn dị tính đã ăn sâu vào tâm trí của nhiều người dân Việt Nam. Từ đó, sự bó hẹp trong khuôn khổ của một “xã hội dị tính” là điều phổ biến.

– Một số nhóm trong xã hội hiện nay có cái nhìn tích cực về người LGBT nhưng vẫn chưa ủng hộ họ có quyền đầy đủ như người dị tính. Điều đó cho thấy, việc chấp nhận, công nhận các quyền bình đẳng của người LGBT cần có một thời gian nhất định, không thể ngay lập tức thay đổi toàn bộ quan niệm thông thường của xã hội.

– Bản thân những nhà lập pháp trước đây khi xây dựng các văn bản pháp luật có liên quan đến cộng đồng LGBT (ví dụ như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP,…) cũng chưa thực sự hiểu đầy đủ, đúng đắn về người LGBT[6], chưa tiếp cận được với sự đa dạng tính dục, đa dạng bản dạng giới khác nhau của xã hội. Một trong những biểu hiện của việc chưa tiếp cận này được thể hiện ở quan niệm về bình đẳng giới của Việt Nam được hình thành theo xu hướng cổ điển. 

Trên cơ sở của Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001), Luật Bình đẳng giới năm 2006 đã cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp, ghi nhận mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình (Điều 4); bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (khoản 3 Điều 5)… Từ những quy định này cho thấy, hoạt động bình đẳng giới hướng đến mục tiêu tạo sự ngang bằng giữa nam và nữ về mọi mặt, trong đó tạo một số điều kiện để nữ giới được phát huy khả năng của bản thân. Theo nhóm nghiên cứu, quan niệm này đúng nhưng dường như chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được xu hướng phát triển về giới hiện nay. Mặc dù thuật ngữ gender (giới tính) là khái niệm rộng, nhưng hiện tại chỉ mới được hiểu ở mức độ biological sex/gender (giới tính sinh học) mà chưa có sự ghi nhận bình đẳng giữa những xu hướng tính dục, bản dạng giới khác nhau.

Không thể phủ nhận quan niệm bình đẳng giới là bình đẳng giữa nam và nữ rất phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, ngay trong chính giới nam hoặc nữ lại có những bất bình đẳng nhất định mà pháp luật Việt Nam còn đang bỏ ngỏ. Ví dụ, với một người đàn ông dị tính và một người đàn ông đồng tính thực sự còn khác nhau rất nhiều ở sự kỳ thị, phân biệt đối xử. Hiến pháp và pháp luật không tỏ rõ thái độ thừa nhận hay cấm hiện tượng đồng tính và cũng không ghi nhận nguyên tắc cấm sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với các vấn đề về xu hướng tính dục. Như vậy, chưa tính đến các quyền khác như quyền kết hôn, quyền thừa kế, cho nhận con nuôi,… thì chỉ ở riêng khía cạnh không phân biệt đối xử ngay trong cùng một giới đã có sự khác nhau rõ rệt. Nếu không đề cập đến việc cấm phân biệt đối xử đối với trong cùng một giới liệu có công bằng? Liệu có cơ sở để bảo vệ những đối tượng thiểu số trong xã hội vốn rất cần sự bảo hộ của Nhà nước? Cũng chính vì quan niệm bình đẳng giới bị bó hẹp như vậy nên trong thực tiễn hiện nay, người LGBT còn bị kỳ thị, phân biệt đối xử trong nhiều lĩnh vực (đời sống, việc làm,…). Có lẽ, nếu không ghi nhận việc cấm phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục, bản dạng giới thì pháp luật sẽ ít nhiều mất đi giá trị xã hội vốn có của nó. Vì vậy, bình đẳng giới cần đề cập đến sự bình đẳng ngay trong một giới (giữa các bản dạng giới, xu hướng tính dục).

Hiện nay, ở các nước tiến bộ thường có sự ghi nhận về bình đẳng giữa các xu hướng tính dục, bản dạng giới (ví dụ như cấm sự kỳ thị đồng tính), nghĩa là hướng đến sự bình đẳng ngay trong cùng một giới. Như vậy, quan niệm về bình đẳng giới phải rộng hơn, không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ. Các nước cũng thể hiện thái độ khác nhau đối với bình đẳng về xu hướng tính dục, ví dụ như có nước cấm sự kỳ thị nhưng có nước lại cấm hiện tượng đồng tính (44 quốc gia trên thế giới), cấm tuyên truyền về đồng tính (ví dụ như Thành phố Xanhpetecbua của Nga), xem đồng tính là tội phạm hình sự (ví dụ như ở Sudan, Yemen,…). Việc ghi nhận nguyên tắc cấm sự kỳ thị về xu hướng tính dục, bản dạng giới là điều hoàn toàn phù hợp với xu hướng nhân quyền hiện nay. Chính điều đó sẽ làm cho quan niệm về bình đẳng giới được toàn diện hơn nữa.

Từ những thực trạng nêu trên, Đề tài xác định một số định hướng chung đối với vấn đề LGBT tại VN như sau:

Thứ nhất, việc thừa nhận, hợp pháp hóa các quyền cho người LGBT tại Việt Nam cần theo một lộ trình nhất định. Nghiên cứu cho thấy các vấn đề về người LGBT không đơn giản chỉ là quyền con người mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…). Trong bối cảnh văn hóa truyền thống còn gặp nhiều rào cản, nhận thức của xã hội còn chưa đầy đủ và còn nhiều kỳ thị thì vấn đề hợp pháp hóa một số quyền cho người LGBT Việt Nam cần đi theo một lộ trình hợp lý. Pháp luật được sử dụng như một công cụ vừa phải để dần định hướng xã hội theo những giá trị chung của thế giới.

Thứ hai, bản chất của yếu tố văn hóa, truyền thống mang tính bối cảnh, mang tính chính trị và vì vậy luôn biến đổi không ngừng. Chúng ta có thể tạo truyền thống mới và điều này diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi[7]. Chính vì vậy, không thể dùng truyền thống, văn hóa để biện minh cho sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người LGBT. Xã hội Việt Nam đang ngày càng tiếp cận với nền văn hóa hiện đại của thế giới nên nhóm nghiên cứu cho rằng, thái độ của xã hội đối với cộng đồng LGBT sẽ dần tích cực hơn. Từ đó, những giá trị mới sẽ dần được định hình rõ nét trong xã hội cũng như đời sống pháp luật nước ta. Các nhà lập pháp cũng cần nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc độ toàn diện và nhân văn hơn; tích cực hơn trong việc thừa nhận những yếu tố mới trong quá trình phát triển của quyền con người.

Thứ ba, cần mở rộng quan niệm về bình đẳng giới tại Việt Nam.

Như đã nêu ở trên, quan niệm về bình đẳng giới có tác động rất lớn đến việc chống phân biệt đối xử, kỳ thị đối với người LGBT. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức LHQ liên tục ghi nhận nguyên tắc: mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6-2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3-2012), xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại (Mỹ),… Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới. Để góp phần khẳng định tính đúng đắn về xu hướng tính dục, bản dạng giới cần lồng ghép quan điểm chống sự phân biệt về xu hướng tính dục, bản dạng giới vào quan niệm bình đẳng giới.

Trên thế giới có hai cách thức quy định về việc chống phân biệt đối xử, kỳ thị trong bình đẳng giới về xu hướng tính dục và bản dạng giới. Ở cách thứ nhất, Hiến pháp quy định cấm phân biệt đối xử các vấn đề liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới (ví dụ như Hiến pháp Nam Phi) và các đạo luật chuyên ngành lồng ghép quan điểm này vào các quy định cụ thể. Trong cách thức thứ hai (cũng được nhiều nước áp dụng), Hiến pháp không có quy định về chống phân biệt đối xử, kỳ thị các vấn đề về xu hướng tính dục, bản dạng giới mà chỉ nói chung về giới, ban hành đạo luật chống phân biệt đối xử về xu hướng tính dục và bản dạng giới trong những lĩnh vực cụ thể[8] hoặc lồng ghép vào các đạo luật chuyên ngành.

Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu cho rằng trong thời gian tới, Luật Bình đẳng giới nên được sửa đổi theo hướng mở rộng quan niệm bình đẳng giới đối với vấn đề xu hướng tính dục, bản dạng giới. Các đạo luật chuyên ngành trong các lĩnh vực (dân sự, lao động, việc làm…) có thể lồng ghép yếu tố này để góp phần chống phân biệt đối xử, kỳ thị đối với người LGBT trong xã hội.

Thứ tư, bản thân cộng đồng LGBT cũng nên có những động thái tích cực hơn, xây dựng hình ảnh tốt đẹp hơn trong cộng đồng xã hội. Việc làm cho xã hội thấy được LGBT là những điều bình thường, tự nhiên của loài người là hết sức quan trọng. Từ đó, quan niệm về một xã hội chỉ có dị tính, chủ nghĩa độc tôn dị tính sẽ nhường chỗ cho một xã hội đa dạng tính dục hơn. Hành động tích cực của cộng đồng LGBT sẽ tác động rất nhiều đến quá trình lập pháp của Việt Nam, giúp cho các nhà lập pháp có cái nhìn đúng đắn và đầy đủ hơn[9].

Thứ năm, các tổ chức báo chí, truyền thông và các tổ chức xã hội cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của mình trong vấn đề bảo vệ quyền LGBT. Đây là những thiết chế có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của xã hội về cộng đồng LGBT. Không thể phủ nhận thời gian qua đã có những sự thay đổi tích cực trong việc phản ánh các tin tức liên quan đến cộng đồng LGBT trên các phương tiện báo chí, truyền thông. Nhiều tổ chức xã hội cũng có những hoạt động rất thiết thực trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền của người LGBT Việt Nam. Thời gian đến, những hoạt động này cần tiếp tục được phát huy; việc đưa tin, bài của báo chí, truyền thông cần hướng đến những giá trị xã hội chung hơn, khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều hình thức rộng rãi hơn (phổ biến đến những vùng nông thôn, miền núi…). Nhóm nghiên cứu cho rằng sức mạnh truyền thông và của các tổ chức xã hội dân sự sẽ đóng góp một phần không nhỏ vào tiến trình xây dựng, thực thi quyền của người LGBT Việt Nam.

Từ những định hướng trên, đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị cụ thể theo các lĩnh vực được nghiên cứu ở phần thực trạng.

3. Một số chia sẻ của Ban Chủ nhiệm

– Đây là một chủ đề nghiên cứu khá rộng và khó gồm nhiều lĩnh vực khác nhau nên Báo cáo đề tài có thể có đôi chỗ chưa sâu sắc, chưa toàn diện, ví dụ như các vấn đề về trợ giúp pháp lý, bạo lực gia đình, tiếp cận pháp luật, bảo vệ và chăm sóc trẻ em… Chính vì vậy, đề tài có sự tập trung một số lĩnh vực đang nóng hơn trong xã hội, ví dụ như hôn nhân gia đình, dân sự, tư pháp hình sự.

– Người LGBT và quyền của người LGBT là những vấn đề phức tạp, là thách thức trong xã hội hiện nay. Tùy mỗi quốc gia, khu vực với những đặc thù kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khác nhau sẽ có những quan niệm với những mức độ khác nhau về vấn đề này. Tại Việt Nam, trong thời gian tới, những vấn đề liên quan đến quan hệ sống chung của người LGBT, các vấn đề về chống kỳ thị, phân biệt đối xử… sẽ còn tiếp tục được thảo luận và xem xét ghi nhận. Ở một mức độ nào đó, nghiên cứu này muốn hướng đến mục đích cung cấp những kiến thức chung về cộng đồng LGBT, nhu cầu của cộng đồng LGBT và gợi mở cho những thảo luận dưới góc độ pháp lý sâu hơn thời gian tới.

– Chúng tôi cho rằng, đã đến lúc xã hội Việt Nam cần có cái nhìn đầy đủ và đúng đắn hơn cho những thành viên mang xu hướng tính dục, bản dạng giới khác nhau, và cho họ được quyền sống bình thường như bao nhiêu cá thể khác của cộng đồng loài người. Thực chất, khi chúng ta tìm hiểu, đánh giá về quyền của người LGBT không hề có ý nghĩa muốn cổ vũ cho một trào lưu mới, lệch lạc nào đó mà nên được hiểu đây chính là thay tiếng nói cho những người LGBT, góp phần làm cho xã hội nhân văn hơn. Tạo ra một xã hội bình đẳng giữa các công dân chính là một giá trị nhân văn của pháp luật. Xã hội văn minh nhất là xã hội có một nền pháp luật chan chứa tình người, có cái gốc nhân bản bền vững.

– Xin trân trọng cảm ơn./.


[1] Viết tắt của các từ: Lesbian (đồng tính nữ), Gay (đồng tính nam), Bisexual (song tính), Transgender (chuyển giới).

[2] Cơ quan của Liên Hợp Quốc cố vấn chuyên môn cho các quốc gia về y tế.

[3] Phiếu thuận bỏ cho việc thông qua nghị quyết này bao gồm các quốc gia: Argentina, Belgium, Brazil, Chile, Cuba, Ecuador, France, Guatemala, Hungary, Japan, Mauritius, Mexico, Norway, Poland, Republic of Korea, Slovakia, Spain, Switzerland, Ukraine, Thailand, UK, USA, Uruguay; Phiếu chống bỏ cho việc thông qua nghị quyết này bao gồm các quốc gia: Angola, Bahrain, Bangladesh, Cameroon, Djibouti, Gabon, Ghana, Jordan, Malaysia, Maldives, Mauritania, Nigeria, Pakistan, Qatar, Moldova, Russian Federation, Saudi Arabia, Senegal, Uganda; Phiếu trắng gồm: Burkina Faso, China, Zambia.

[4] Sau bài phát biểu, nhiều quốc gia Hồi giáo và Châu Phi đã giận dữ rời khỏi phòng họp để phản đối. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia khác đã nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của ông Ban Ki-moon.

[5] Theo Báo cáo khoa học của tổ chức WHO, http://baophapluat.vn/toi-18/nguoi-dong-tinh-ngong-tin-quoc-hoi-168740.html, ngày 5-11-2013.

[6] Tại một Hội thảo do Bộ Tư pháp tổ chức năm 2012 về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, một thành viên của Ban soạn thảo Nghị định số 88/2008/NĐ-CP trước đây không biệt được sự khác nhau giữa người liên giới tính và người chuyển giới, cho rằng người có bộ phận sinh dục, giới tính hoàn chỉnh thì đương nhiên không nên được phẫu thuật chuyển đổi giới tính.

[7] Xem: Eric Hobsbawm (Birkbeck College), Terence Ranger (University of Oxford), The Invention of Tradition, CambridgeUniversity Press, 1992.

[8] Ví dụ như sau gần 20 năm, Dự luật chống phân biệt đối xử trong lao động, việc làm đối với người lao động LGBT (ENDA) đã chính thức được Thượng viện Mỹ thông qua vào ngày 7-11-2013. Nguồn: http://taoxanh.net/forum.

[9] Điều phối viên thường trú của LHQ tại Việt Nam, bà Pratibha Mehta cho biết, “Liên Hợp Quốc rất vui được thấy cộng đồng những người LGBT ở Việt Nam đang tham gia ngày càng mạnh mẽ hơn vào những đối thoại tích cực với Chính phủ và công chúng. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp xã hội hiểu rõ hơn về người LGBT, giảm thành kiến và kỳ thị dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới, đóng góp cho việc xây dựng khung pháp lý liên quan nhằm bảo vệ quyền con người của cộng đồng LGBT”, nguồn: Bàn về một số khía cạnh của tình dục đồng giới, http://tiengchuong.vn/Nghien-cuu-Chuyen-de/Ban-ve-mot-so-khia-canh-cua-tinh-duc-dong-gioi/9238.vgp, ngày 10-10-2013.

Advertisements
Explore posts in the same categories: Human Rights, LGBT, Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hành chính Nhà nước, Pháp luật hình sự

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: