QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Trương Hồng Quang*

 (Tạp chí Luật học, số tháng 2/2014)

  1. Khái quát thực tiễn pháp luật đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư hiện hành

Phát triển bền vững là đòi hỏi tất yếu của các quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Hơn nữa, phát triển bền vững của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn do nhiều lý do, trong đó có sự yếu kém của công tác quản lý. Quá trình phát triển kinh tế xã hội tạo ra nhiều nguy cơ đối với phát triển bền vững và vì thế đòi hỏi Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp giảm thiểu các nguy cơ này trong nhiều hoạt động khác nhau, đặc biệt là hoạt động đầu tư thông qua các dự án cụ thể. Phát triển bền vững không phải là thuộc tính đương nhiên của các dự án đầu tư. Để có sự phát bền vững cần lồng ghép để đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong từng dự án và biến chúng trở thành thành tố của mọi quá trình đầu tư. Pháp luật có vai trò quan trọng trong thực hiện việc lồng ghép này. Để thực hiện vai trò này, pháp luật cần đáp ứng được các yêu cầu nhất định như: thể hiện đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững xuyên suốt các giai đoạn của dự án đầu tư, phát huy vai trò của tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư và tôn trọng các quy luật thị trường trong quá trình can thiệp vào các dự án đầu tư.

Phát triển bền vững là phát triển dựa trên sự cân bằng: cân bằng về tự nhiên, cân bằng về mặt kinh tế và cân bằng về xã hội. Chỉ có sự phát triển cân bằng mới đảm bảo lợi ích cho tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình phát triển, tức là tạo cho tất cả cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Các dự án đầu tư có thể mang lại thành quả song cũng có thể mang lại rủi ro cho phát triển bền vững do có sự chi phối của ý chí con người, sự xuất hiện của các lợi ích xung đột[1]. Để đảm bảo phát triển bền vững ở cấp độ dự án đầu tư, pháp luật phải đảm bảo được sự cân bằng giữa các lợi ích của chủ thể liên quan dự án đầu tư, bao gồm: lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng dân cư có liên quan đến dự án đầu tư. Để đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, các quy định pháp luật cần bao quát đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế, an sinh và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường[2]. Pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cũng phải đáp ứng được ba khía cạnh này. Pháp luật hiện hành tuy đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững trong các dự án đầu tư song vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:

Một là, pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của các nhà đầu tư, cộng đồng dân cư địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ hiệu lực buộc các chủ thể nêu trên lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư. Cụ thể là:

– Pháp luật hiện hành chưa quy định các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững đối với các dự án đầu tư. Trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, với cộng đồng dân cư địa phương được đặt ra và được thực hiện thông qua các thủ tục hành chính. Tuy nhiên, trách nhiệm đó thực hiện đến đâu, mức độ của các dự án đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đến đâu thì chưa có tiêu chí đánh giá. Không chỉ thiếu tiêu chí, thiếu công cụ để nhà đầu tư có thể tự đánh giá mức độ phát triển bền vững mà tiêu chí cho các cơ quan nhà nước, cho cộng đồng đánh giá cũng chưa được quy định.

– Pháp luật hiện hành chưa quy định trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư dự án đối với nhiều vấn đề hoặc tuy đã quy định nhưng thiếu cơ chế đảm bảo thực thi. Cơ chế khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường, mang lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội cũng chưa đủ để tạo động lực cho chủ thể. Ngoài ra, trong một số trường hợp, pháp luật hạn chế quyền tự chủ của các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh bằng những sự can thiệp không phù hợp. Việc xây dựng các cơ chế pháp lý phù hợp để đảm bảo lợi ích và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng dân cư đối với các dự án đầu tư chưa được chú trọng dẫn đến tình trạng các cơ chế pháp lý hiện hành còn nhiều bất cập.

– Pháp luật chưa làm rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và các cán bộ nhà nước trong đảm bảo thực thi yêu cầu phát triển bền vững đối với các dự án đầu tư (chẳng hạn như khi phê duyệt một báo cáo ĐTM không phù hợp, việc thực hiện nó gây ra các hậu quả xấu về môi trường thì người phê duyệt, người thẩm định không phải chịu trách nhiệm). Bên cạnh đó, các chế tài hình sự, hành chính không đủ tính răn đe dẫn đến tình trạng cơ quan nhà nước không thể thực thi có hiệu quả vai trò quản lý của mình. Sự chồng chéo hoặc thiếu rõ ràng về thẩm quyền giữa các các cơ quan nhà nước khác cũng hạn chế hiệu quả quản lý đối với các dự án đầu tư.

– Các quy định về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững nằm rải rác ở các văn bản pháp luật kinh tế, bảo vệ môi trường, đất đai, xây dựng, khoáng sản, lao động. Tuy nhiên, các quy định này chưa được xây dựng và ban hành trên một nền tảng chung là phát triển bền vững nên chưa tạo ra được sự thống nhất, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau. Hơn nữa, do chưa dựa trên một bộ tiêu chí tổng thể về phát triển bền vững nên các yêu cầu về phát triển bền vững nên các quy định này khó được thực thi trong cuộc sống. Sự trùng lặp giữa các thủ tục đầu tư, gây ra những phiền phức nhất định cho nhà đầu tư trong việc áp dụng yêu cầu phát triển bền vững là khó tránh trong bối cảnh như vậy. Đối với mỗi giai đoạn của dự án đầu tư lại có nhu cầu lớn hơn đối với một tiêu chí (ví dụ như giai đoạn chuẩn bị thì tiêu chí về kinh tế, môi trường được quan tâm hơn nhưng đến giai đoạn cuối vận hành thì các tiêu chí về xã hội, môi trường được đề cao; tiêu chí môi trường là yếu tố xuyên suốt, rõ ràng nhất trong các giai đoạn) song trong hệ thống pháp luật hiện hành chúng ta không tìm thấy những sự phân định như vậy. Trong khi các quy định về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi trường khá đầy đủ, cụ thể (dù còn có một số hạn chế nhất định) thì lĩnh vực pháp luật kinh tế, lao động, an sinh xã hội lại vừa thiếu, vừa mâu thuẫn lẫn nhau, chưa đáp ứng được tính phát triển bền vững toàn diện của một dự án đầu tư. Một vấn đề hiện đang rất nổi cộm là các hoạt động hậu kiểm dự án đầu tư (nhất là các dự án đầu tư có vốn nước ngoài) hoặc vấn đề chủ đầu tư, người sử dụng lao động thực hiện trách nhiệm của mình trong quá trình vận hành, khai thác dự án đầu tư. Thực tế, yêu cầu quan tâm đến các yếu tố lợi ích xã hội, phát triển việc làm, ngành nghề mới xung quanh khu thực hiện dự án, an sinh xã hội của các dự án đầu tư còn ít được pháp luật quan tâm. Chính vì vậy, pháp luật chưa thể tạo ra được trong cán bộ quản lý, trong cộng đồng và trong các nhà đầu tư  ý thực pháp luật và văn hóa pháp lý về phát triển bền vững. Ngoài ra, các quy định về đảm bảo sự tham gia của cộng đồng dân cư trong quá trình triển khai dự án đầu tư chỉ mới tập trung vào hoạt động giám sát đầu tư, bảo vệ môi trường mà chưa quan tâm qui định những cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể cho việc giám sát môi trường lao động, an sinh xã hội của cộng đồng.

Hai là, muốn giải quyết tốt các vấn đề môi trường, chỉ sức mạnh của nhà nước thôi là chưa đủ mà cần phải huy động sức mạnh tổng thể của toàn xã hội với ba trụ cột: Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội dân sự (bao gồm các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng dân cư). Hiển nhiên, để hình thành, vận hành ba trụ cột này thì nhiều vấn đề về xây dựng và thực thi pháp luật cần phải hoàn thiện. Chẳng hạn, cần thay đổi cơ chế để cộng đồng dân cư và các tổ chức dân sự có thể giám sát việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp; thay đổi thông tin về tình hình chấp hành pháp luật theo hướng đảm bảo tính minh bạch tối đa; giám sát để phát hiện những sự cố môi trường, nhất là sự cố môi trường nghiêm trọng có khả năng xảy ra sau khi dự án được triển khai và đưa vào khai thác. Nói cách khác, cơ chế thực thi pháp luật cần hướng tới các hoạt động liên quan đồng thời đến tăng trưởng, bảo vệ môi trường, đảm bảo công bằng và an sinh xã hội trong đó có việc giám sát để tăng cường trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân gây ra sự cố theo nguyên tắc ”người gây ô nhiễm phải trả giá – Poluter Pays Price”. Xét ở mức độ phù hợp với những định hướng này, hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa thực sự tạo được nền tảng cho phát triển bền vững trong các giai đoạn của dự án đầu tư.

Ba là, qua nghiên cứu đã cho thấy những bất cập về chính sách, pháp luật trong quản lý các dự án đầu tư là một trong những nguyên nhân quan hạn chế phát triển bền vững. Cụ thể, đó là những bất cập trong các văn bản pháp lý quy định về quản lý các dự án về quy hoạch, ban hành các tiêu chí, quy trình xem xét để đưa các dự án vào quy hoạch, quy trình thẩm định, quản lý nhà nước đối với các dự án, các chính sách xử lý đối với các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư mà vi phạm pháp luật và các chính sách đối với dân cư khi dự án sử dụng đất nông nghiệp. Vai trò của pháp luật trong việc lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững đã có nhưng còn mờ nhạt do thiếu tính thống nhất trong thể chế hóa, do thiếu tính hiệu quả trong thực thi.

2. Một số quan điểm hoàn thiện pháp luật nhằm lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong dự án đầu tư

2.1.           Một số định hướng

Như đã phân tích, pháp luật là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý các dự án đầu tư. Để pháp luật có thể phát huy vai trò của mình trong đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, xuất phát từ những phân tích về thực trạng pháp luật ở góc độ đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, hệ thống pháp luật này cần được hoàn thiện trên cơ sở những định hướng sau:

Thứ nhất, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững ở ngay trong dự án đầu tư phải được coi là bước quan trọng để đảm bảo phát triển bền vững ở cấp độ quốc gia. Các yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên, bảo vệ đa dạng sinh học, tăng trưởng bền vững và xóa đói giảm nghèo phải được lồng ghép trong việc  quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể đối với các dự án đầu tư.

Thứ hai, pháp luật phải giải quyết một cách toàn diện và hài hòa tất cả các yếu tố bền vững về kinh tế – xã hội – môi trường trong các quy định pháp luật. Để đảm bảo sự bền vững về mặt kinh tế, các nhà đầu tư được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế của dự án trên cơ sở dự liệu được đầy đủ các trách nhiệm đối với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội, các chi phí cần thiết cho việc tôn tạo, bảo vệ môi trường và tính toán được các chi phí cho việc thực hiện các trách nhiệm này. Những can thiệp không cần thiết của nhà nước vào các hoạt động của doanh nghiệp cần được dỡ bỏ. Để đảm bảo sự bền vững về mặt xã hội, cần quy định trách nhiệm của nhà đầu tư đối với xã hội phù hợp với những tác động xã hội mà dự án đầu tư có thể mang lại (trách nhiệm đối với người lao động của doanh nghiệp dự án, trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư bản địa,…). Để đảm bảo sự bền vững về mặt môi trường, cần quy định nghiêm ngặt trách nhiệm phòng ngừa, khắc phục các trường hợp ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường mà dự án có thể hoặc đã gây ra.

Thứ ba, cần có cơ chế đảm bảo thực thi nghĩa vụ của các nhà đầu tư liên quan đến yêu cầu phát triển bền vững; đảm bảo quyền và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng dân cư cũng như tăng cường vai trò quản lý của nhà nước thông qua các công cụ quản lý hữu hiệu, trách nhiệm của từng cơ quan quản lý trong đảm bảo thực thi các yêu cầu phát triển bền vững.

Thứ tư, đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống các quy định liên quan đến phát triển bền vững. Các yêu cầu về phát triển bền vững, mặc dù có thể được quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau và từ các góc độ khác nhau nhưng đòi hỏi phải phối kết hợp được với nhau khi đặt vào quy trình đầu tư của một dự án và bổ sung cho nhau, không có sự trùng lặp, chồng chéo giữa các quy định về quy trình, thủ tục. Các loại giấy tờ trùng lặp, gây phiền phức cho nhà đầu tư cần loại bỏ.

Thứ năm, để lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, pháp luật không thể không tính tới các vấn đề thích nghi và ứng phó với biến đổi khí hậu đang trở thành mối quan ngại trực tiếp của toàn thế giới trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt với Việt Nam là một trong những quốc gia được dự báo là bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu.

Thứ sáu, pháp luật phải giải quyết một cách toàn diện và hài hòa tất cả các yếu tố bền vững về kinh tế – xã hội – môi trường trong các quy định pháp luật. Để đảm bảo sự bền vững về mặt kinh tế, các nhà đầu tư được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế của dự án trên cơ sở dự liệu được đầy đủ các trách nhiệm đối với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội, các chi phí cần thiết cho việc tôn tạo, bảo vệ môi trường và tính toán được các chi phí cho việc thực hiện các trách nhiệm này. Những can thiệp không cần thiết của nhà nước vào các hoạt động của doanh nghiệp cần được dỡ bỏ. Để đảm bảo sự bền vững về mặt xã hội: cần quy định một cách hợp lý trách nhiệm đối với xã hội của nhà đầu tư trên tương ứng với những tác động xã hội mà dự án đầu tư có thể mang lại (trách nhiệm đối với người lao động của doanh nghiệp dự án, trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư bản địa,…) và để đảm bảo sự bền vững về mặt môi trường, cần quy định nghiêm ngặt các trách nhiệm phòng ngừa, khắc phục các trường hợp ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường mà dự án có thể hoặc đã gây ra.

Thứ bảy, có thể xem xét để ban hành các quy định về những hình thức phản ứng của cộng đồng như tuyên truyền vận động không sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, tuyên truyền, phản đối trong hoà bình những hành vi vi phạm nghiêm trọng với mục đích làm suy giảm hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp trước công chúng và đối tác…. Cần xem những hành vi này là biện pháp cuối cùng (sau khi đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo) của cộng đồng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu xảy ra tình trạng doanh nghiệp thì cố tình vi phạm. Bên cạnh đó cần hình thành được khung pháp luật điều chỉnh những mối liên hệ phát sinh trong quá trình cộng đồng tham gia vào các vấn đề trong việc triển khai dự án đầu tư, trong đó cần chú trọng đến tính chất đặc thù của chủ thể “cộng đồng dân cư” so với các chủ thể khác, như tính đoàn kết, gắn bó hỗ trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung; tính truyền thống và xu hướng bảo tồn các giá trị kiến thức bản địa…; lòng tự hào về truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dân tộc, đó cũng chính là cội nguồn lớn nhất của sức mạnh cộng đồng[3].

2.2.           Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá tính phát triển bền vững của một dự án đầu tư

Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng nhưng cũng rất khó khăn. Muốn cho các dự án đầu tư phát triển hiệu quả và bền vững cần phải có đánh giá và dự báo đáng tin cậy ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Xây dựng kế hoạch vốn có hiệu quả chính là dự báo đáng tin cậy về cơ hội thị trường, công nghệ có tính cạnh tranh, hành động có thể của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Chính vì vậy, để thực hiệu có hiệu quả các dự án đầu tư thì cần phải xây dựng và thực hiện các biện pháp kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo các dự báo mang tính thực tiễn khi ra quyết định. Để phát triển lâu dài, phù hợp với quy hoạch phát triển, các dự án cần phải chú ý những vấn đề như độ dài của dự án, tuổi thọ công nghệ, rủi ro và tính toán quản lý hành chính[4]. Có thể xác định các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững đối với một dự án đầu tư như sau:

Tiêu chí 1. Dự án đầu tư cần phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Vị trí của dự án cần thuận lợi cho giao thông và khả năng gần nguồn cung cấp nguyên liệu và địa bàn phân phối sản phẩm hàng hóa tiêu thụ. Mỗi dự án đầu tư được phê duyệt phải được cơ quan chức năng thẩm định và phê duyệt dự án. Dự án cần phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng, miền. Dự án đầu tư có thể phát triển bền vững nếu phù hợp với quy hoạch 10 năm[5] của vùng, miền. Tính ổn định của dự án làm cho chủ dự án yên tâm đầu tư bằng cách bỏ số tiền vốn lớn đầu tư và kỳ vọng nguồn lợi nhuận trong tương lai. Đây cũng chính là tiêu chí để đánh giá yếu tố kinh tế trong việc thực hiện một dự án đầu tư.

Tiêu chí 2: Dự án đầu tư phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tiêu chí này sẽ xem xét dự án đầu tư tại địa phương có thu hút lao động tập trung và kéo theo phát sinh nhiều nhu cầu thực tế về văn hóa, chợ, trung tâm thương mại, vui chơi, giải trí, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, du lịch… hay không. Dự án công nghiệp, thương mại đều phải đồng thời tính đến các yếu tố phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực. Những yêu cầu này được tính đến trong một số dự án đầu tư và đã mang lại những tác động tích cực về kinh tế, xã hội và môi trường. Chẳng hạn như: Dự án Khu đô thị mới Đặng Xá (Gia Lâm, Hà Nội) có diện tích 33.6 ha về phía Bắc Thủ đô Hà Nội là khu đô thị đầu tiên trên địa bàn huyện Gia Lâm. Khu đô thị này có vị trí gần với các tuyến đường giao thông quan trọng như quốc lộ 5 đi Hải Phòng, quốc lộ 1 đi Lạng sơn; gần cầu Vĩnh Tuy, cầu Thanh Trì đã tạo mạng lưới giao thông liên hoàn từ khu đô thị Đặng Xá đến trung tâm Thủ đô Hà Nội.

Tiêu chí 3: Dự án đầu tư sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, năng lượng tái tạo.

Trong thực tiễn hiện nay, một số loại dự án đầu tư, ví dụ như dự án đầu tư xây dựng các chung cư cao tầng trong các đô thị ngày càng gia tăng về số lượng. Tuy nhiên không phải chủ đầu tư nào cũng đảm bảo được chất lượng dịch vụ và độ an toàn cho người dân sống trong các khu chung cư. Hiện tượng sự cố thang máy, cháy trên tầng cao không được tính đến đầy đủ ở khía cạnh cứu hỏa. Khi thang cứu hỏa chỉ lên được tầng 15, còn tòa nhà xây cao 21-31 tầng. Việc đầu tư cho các thiết bị phòng chống cháy nổ được còn hạn chế. Trong xã hội xuất hiện nhiều nhà kinh doanh chạy theo lợi nhuận, sang chiết ga không đúng quy định gây hậu quả cho khách hàng trong quá trình sử dụng. Nhà hàng, khách sạn, bệnh viện, trường học cũng chưa được bảo đảm an toàn khi sử dụng ga bình. Chính vì vậy, sử dụng hệ thống gas trung tâm, hệ thống khí đốt có kỹ thuật cao, sử dụng công nghệ tái tạo, công nghệ sạch từ năng lượng, mặt trời, gió, thủy triều… có thể hạn chế rủi ro nổ bình gas như hiện nay[6]. Hệ thống điện độc lập từ nguồn năng lượng tái tạo bổ sung nguồn điện cho lưới điện quốc gia, đáp ứng nhu cầu sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân tại khu vực. Nếu như trong quá trình triển khai các dự án đầu tư, ví dụ như dự án đầu tư xây dựng khu chung cư, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, chủ đầu tư quan tâm đến việc sử dụng, lắp đặt các loại thiết bị sử dụng năng lượng sạch, xanh thì sẽ góp phần mang lại tính bền vững cho dự án. Việc sử dụng công nghệ xanh, công nghệ sạch cũng chính là một tiêu chí để dự án được ưu đãi đầu tư, miễn giảm phí bảo vệ môi trường.

Tiêu chí 4. Ứng dụng khoa học công nghệ, bảo đảm cho quy chuẩn môi trường trong quá trình thực hiện dự án đầu tư.

 Khi triển khai dự án, việc ứng dụng khoa học công nghệ phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và yêu cầu hội nhập với khu vực, quốc tế. Tiêu chí này được xây dựng nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án. Quy chuẩn môi trường cần phải phản ánh đúng yêu cầu xã hội về chất lượng môi trường sống. Tiêu chuẩn quá cao hoặc quá thấp đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc đối với sức khỏe của con người hoặc môi trường sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư. Điều đó có nghĩa quy chuẩn phải đảm bảo sự tương xứng giữa khả năng kinh doanh, lợi ích kinh tế của nhà đầu tư với lợi ích môi trường của đất nước. Từ thực tiễn triển khai các dự án đầu tư có thể thấy rằng cùng với tăng trưởng kinh tế, mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, nhu cầu khai thác và sử dụng các thành phần môi trường ngày càng tăng. Cần giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Đây là yếu tố quan trọng để các dự án được triển khai vì mục đích tăng trưởng nhưng vẫn bảo đảm việc bảo vệ môi trường theo quan điểm bền vững. Quy chuẩn môi trường trở thành công cụ để nhà nước kiểm soát môi trường. Các báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Tiêu chí 5. Trong quá trình triển khai dự án đầu tư quan tâm đến bảo đảm an sinh xã hội – trách nhiệm của doanh nghiệp.

Đây là một tiêu chí rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn vận hành dự án. Thực hiện an sinh xã hội là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của dự án đầu tư và vì thế cần được coi là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Những vấn đề về an sinh xã hội, về công bằng xã hội cần được giải quyết trong khuôn khổ của dựa án đầu tư như là một thành tố của dự án, vượt lên trên những giải pháp mang tính hỗ trợ, từ thiện. Những giải pháp như vậy cần được pháp luật qui định như là nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp thực hiện và thực hiện tốt trách nhiệm an sinh xã hội của mình có ý nghĩa sau:

(i) Góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động. Bất kể người lao động nào khi thiết lập quan hệ lao động với doanh nghiệp cũng mong muốn có điều kiện và môi trường làm việc tốt; tiền lương và phúc lợi đảm bảo được cuộc sống trước mắt và lâu dài; được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; được quan tâm, hỗ trợ khi gặp khó khăn; được tôn trọng; được nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ… Tất cả những vấn đề này đạt được đến đâu đều phụ thuộc vào việc thực hiện trách nhiệm an sinh xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động. Doanh nghiệp quan tâm đến thực hiện an sinh xã hội tức là họ sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi, nhân phẩm, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập, giúp người lao động nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ…

(ii) Góp phần đảm bảo lợi ích chung cho cộng đồng xã hội. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt an sinh xã hội sẽ góp phần tăng năng suất lao động, hiệu quả và lợi nhuận, nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện ngày càng cao các tiêu chuẩn quốc gia cũng như quốc tế về điều kiện lao động, hỗ trợ cộng đồng và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

(iii) Làm thay đổi cách thức thực hiện và cấu trúc an sinh xã hội trong một quốc gia. Trong lịch sử xã hội loài người, các hình thức an sinh xã hội phi chính thức ra đời từ rất sớm, từ khi loài người xuất hiện (bố mẹ nuôi dưỡng con cái, ông bà nuôi dưỡng các cháu, con nuôi dưỡng bố mẹ, cháu nuôi dưỡng ông bà; tương thân tương ái giữa hàng xóm, láng giềng…). Hạn chế lớn nhất của các hình thức an sinh xã hội phi chính thức là ở tính thiếu bền vững. Cụ thể là dễ xảy ra tình trạng khi người lao động chính trong gia đình bị mất sức lao động, bị chết hoặc khi khả năng tương trợ cộng đồng theo kiểu “lá lành đùm lá rách” bị giảm sút thì các đối tượng của an sinh xã hội phí chính thức sẽ gặp khó khăn và như thế mục tiêu của an sinh xã hội cũng khó hoặc không thể thực hiện được. Hình thức an sinh xã hội chính thức, mà chủ thể thực hiện là Nhà nước và các doanh nghiệp là giúp khắc phục đáng kể những hạn chế nêu trên của hình thức an sinh xã hội phi chính thức.

(iv) Chia sẻ gánh nặng với Nhà nước trong bối cảnh hiện nay. Ở Việt Nam, chủ thể có trách nhiệm cao nhất trong việc đảm bảo an sinh xã hội là Nhà nước. Nhà nước với vai trò và trách nhiệm của mình có khả năng tạo ra cơ chế đảm bảo những điều kiện tối thiểu về an sinh xã hội cho những thành viên trong xã hội bằng các biện pháp cụ thể hoặc các công cụ chính sách về nguồn lực, bộ máy thực hiện. Nhà nước cũng có thể trực tiếp phân phối lại thu nhập hoặc gián tiếp thông qua việc hình thành những thể chế và thiết chế phù hợp. Tuy nhiên, không thể không đề cao vai trò của doanh nghiệp trong công tác này trong bối cảnh kinh tế. Việc doanh nghiệp đảm bảo chế độ tiền lương, không ngừng nâng cao phúc lợi cho người lao động; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động không chỉ vì lợi ích của bản thân người lao động hay vì lợi ích của bản thân doanh nghiệp, là sự chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước đối với xã hội. Doanh nghiệp thực hiện tốt điều này còn là sự góp sức của các doanh nghiệp trong việc thực hiện ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo, thể hiện vai trò quan trọng của lực lượng này trong việc tạo dựng môi trường xã hội ổn định, cuộc sống của con người được đảm bảo.

Tiêu chí 6. Xử lý tốt các yếu tố gây ô nhiễm từ hoạt động của dự án như chất thải, tiếng ồn… trong các hoạt động của dự án.

Các dự án đầu tư ngày càng nhiều trong đó có nhiều dự án có nguy cơ lớn gây ô nhiễm môi trường. Nhà nước cần ban hành các tiêu chí kiểm soát nồng độ ô nhiễm, các chế tài vi phạm thu thuế môi trường. Khuyến khích các cơ sở, doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giảm thiểu chất thải, tăng năng suất trong các khu công nghệ cao, khu công nghiệp, khu chế xuất. Muốn cho dự án đầu tư phát triển bền vững thì vấn đề bảo vệ môi trường và xử lý chất thải phải được quan tâm thích đáng.

Tiêu chí 7: Bảo vệ môi trường nước, không khí, âm thanh, ánh sáng trong các dự án đầu tư.

Đối với nhóm tiêu chuẩn chất lượng nước thải, cần bảo đảm việc phân loại nước thải cho chuẩn hóa quy chuẩn về cung cấp nước sạch và xử lý nước thải. Trong các dự án đầu tư cần bảo đảm không khí sạch, tiếng ồn cần bảo đảm điều kiện sống không làm ảnh hưởng tới môi trường. Tiêu chuẩn ánh sáng phải đáp ứng điều kiện sống, sinh hoạt. Quy chuẩn môi trường phải tạo ra sự mềm dẻo, hiệu quả, chi phí thấp, khuyến khích đối tượng gây ô nhiễm lựa chọn biện pháp kiểm soát ô nhiễm, điều chỉnh chất gây ô nhiễm thải vào môi trường. Ví dụ như tại Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 1.000 nhà máy công nghiệp có quy mô lớn và hơn 25.000 đơn vị sản xuất vừa và nhỏ, nếu tất cả phải tiến hành thực hiện đánh giá tác động môi trường thì sẽ tốn kém nhiều thời gian, tiền của…[7]

Tiêu chí 8. Triển khai dự án đầu tư có thể kết hợp khai thác, du lịch cảnh quan và du lịch sinh thái.

 Muốn cho dự án đầu tư phát triển bền vững, chúng ta cần nguồn kinh phí và nhân lực phục vụ cho dự án đó. Nhà máy, khu đô thị mới, vườn hoa, các vườn sinh thái sẽ là điểm đến du lịch hứa hẹn cho nhiều du khách nước ngoài muốn tìm hiểu về con người và đất nước Việt Nam. Vì vậy, đây cũng là một tiêu chí quan trọng, thúc đẩy sự tác động của các dự án đầu tư đối với sự phát triển kinh tế và xã hội.

2.3.           Cách thức thể hiện của quy định về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư

Trong thời gian sắp đến, việc lồng ghép các yếu tố phát triển bền vững trong các dự án đầu tư có thể được thiết kế theo hướng xây dựng quy trình luật định về lồng ghép các yếu tố phát triển bền vững trong hoạt động ban hành chính sách, xây dựng pháp luật của Nhà nước với hai phương án cụ thể sau:

(i) Qui trình này được đưa thành một chương trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hợp nhất của Trung ương và địa phương) với những nguyên tắc và qui định chung. Các chi tiết cụ thể sẽ được quy định trong các Luật chuyên ngành. Đối các dự án đầu tư trong từng lĩnh vực cụ thể sẽ có các quy định chi tiết liên quan đến yêu cầu phát triển bền vững, các yếu tố cần lồng ghép để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.

(ii) Có thể xây dựng một văn bản về lồng ghép yếu tố phát triển bền vững trong ban hành chính sách, xây dựng pháp luật. Luật này sẽ quy định cụ thể các yếu tố phát triển bền vững cần có khi thực hiện các chiến lược, quy hoạch và các dự án phát triển kinh tế xã hội. Sẽ là lý tưởng nếu văn bản này được ban hành dưới hình thức văn bản luật.

————–

 


* Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

[1] Lợi ích xung đột giữa: quá chú trọng đến lợi ích của con người mà xem nhẹ hoặc không đủ khả năng tiến hành các biện pháp cần thiết để duy trì hoặc tái lập lại sự cân bằng tự nhiên; quá chú trọng đến việc thu lợi nhuận bằng cách thu hẹp lợi ích của các chủ thể liên quan (người lao động, cộng đồng dân cư địa phương, của người tiêu dùng…); quá chú trọng đến lợi ích kinh tế trước mắt hoặc không tính toán đầy đủ các yếu tố chi phí khiến cho sự phát triển trở nên thiếu bền vững ở khía cạnh kinh tế.

[2] Xem thêm: Trương Hồng Quang (2011), Sự cần thiết lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các giai đoạn của dự án đầu tư và vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Chuyên đề đề tài của Bộ Tư pháp năm 2010.

[3] Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên, nguồn:

tnmtvinhphuc.gov.vn/index.php?in=viewst&nre_vp=News&sid… – 87k

[4] Xem thêm: TS. Doãn Hồng Nhung (2011), Tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững đối với dự án đầu tư với các yêu cầu phát triển bền vững cần lồng ghép nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững đối với các dự án đầu tư, Chuyên đề đề tài cấp Bộ năm 2010 của Bộ Tư pháp.

[5] Xem: Điều 24 của Luật đất đai năm 2003.

[6] Xem: Ngọc Lâm, “Nổ bình ga ở nhà hàng, 2 người bị thương”, Báo Tiền Phong số 319, thứ Ba, ngày 15/11/2011, tr. 11.

[7] TS. Trương Thị Minh Sâm (2004), Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 174.

Explore posts in the same categories: Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Luật Thương mại - Doanh nghiệp, Pháp luật hành chính Nhà nước, Pháp luật Kinh tế

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: