Quyền kết hôn của người đồng tính

Trương Hồng Quang, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tháng 2/2014. Dưới đây trích phần đầu của bài viết:

“Theo Nghị quyết số 23/2012/QH13 của Quốc hội ngày 12/6/2012 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HNVGĐ) năm 2000 dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 6. Trong quá trình soạn thảo Dự án Luật này, nhiều vấn đề đã được đưa ra thảo luận như: độ tuổi kết hôn, chế định ly thân, hôn nhân thực tế… Trong đó, chủ đề về quan hệ sống chung của người đồng tính – NĐT (trong đó có quyền kết hôn – QKH) nhận được sự quan tâm khá nhiều từ dư luận. Liệu kết hôn giữa những người cùng giới tính – NCGT (kết hôn cùng giới) có làm suy thoái đạo đức xã hội, đi ngược lại truyền thống? Đâu là những rào cản của việc ghi nhận QKH của NĐT? Ảnh hưởng của nhận thức xã hội về đồng tính đến việc ghi nhận quyền này ở Việt Nam như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ phân tích một số khía cạnh trong chủ đề kết hôn cùng giới tại Việt Nam hiện nay.

1. Bối cảnh

Trên thế giới, tính đến hết tháng 12/2013 đã có 16 nước hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới (HNCG)[1]. Nếu tính những vùng lãnh thổ ở những quốc gia có hình thức cấu trúc nhà nước liên bang (Hoa Kỳ, Mehico, Brazil) thì số lượng quốc gia và vùng lãnh thổ hợp pháp hóa HNCG hiện tại là 19[2]. Bên cạnh đó, có 17 quốc gia và 13 vùng lãnh thổ thừa nhận hình thức “kết đôi có đăng ký” cho các cặp đôi cùng giới[3]. Đặc biệt có 03 quốc gia thừa nhận hình thức sống chung không đăng ký cho các cặp đôi cùng giới[4]. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia khác đang trong quá trình xem xét hợp thức hóa quan hệ cùng giới hoặc “nâng cấp” từ “kết hợp dân sự” (sống chung có đăng ký) lên “kết hôn” với đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm. Có thể nhận thấy, thời gian gần đây nhất là trong năm 2012-2013 có khá nhiều quốc gia thừa nhận hoặc đang xem xét HNCG. Một số quốc gia khá bảo thủ (ví dụ như Cộng hòa Pháp) cũng đã chấp nhận vấn đề này. Quan điểm của các chính trị gia về vấn đề này được thể hiện mạnh mẽ hơn. Ngày 26/06/2013, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ có quyết định gỡ bỏ lệnh cấm kết hôn đồng giới tại bang California – bang có đông dân nhất[5]. Bên cạnh đó, Tòa cũng bãi bỏ một phần quan trọng của Đạo luật Bảo vệ hôn nhân (DOMA), nhằm đảm bảo các cặp đôi đồng tính đã kết hôn được hưởng các quyền lợi an sinh xã hội như những cặp đôi bình thường khác. Như vậy, với việc thừa nhận QKH đồng tính tại bang California, đã có hơn 1/3 dân số Hoa Kỳ được thừa nhận quyền này. Đây có thể được xem là một thắng lợi lớn của cuộc vận động quyền LGBT (đồng tính, song tính và chuyển giới). Tổng thống Barack Obama đã phát biểu trên đường đến châu Phi như sau: “Phán quyết này là một thắng lợi cho những cặp đã đấu tranh cho việc được đối xử công bằng trước pháp luật; cho những đứa trẻ mà việc kết hôn của cha mẹ chúng từ giờ sẽ được pháp luật thừa nhận; cho những gia đình mà giờ đây cuối cùng họ cũng đã nhận được sự bảo vệ và tôn trọng mà họ đáng được hưởng; và cho những người bạn, người vận động chỉ muốn được thấy những người thân của họ được đối xử bình đẳng và đã cố gắng hết sức để có thể làm quốc gia mình thay đổi theo chiều hướng tốt lên”.

Bên cạnh đó, tháng 6/2011, Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc (LHQ) đã thông qua Nghị quyết khẳng định: “mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào”[6]. Đến ngày 7/3/2012, Tổng thư ký LHQ Ban Ki-Moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với những người LGBT[7]. Như vậy, lần đầu tiên, người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã đưa ra một thông điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với vấn đề LGBT, và đây cũng là quan điểm của cả LHQ khi gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới.

Tại Việt Nam, hiện nay chưa có cuộc điều tra nào ước lượng số người là đồng tính. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng cho các tỉ lệ khác nhau, biến động từ 1% đến 9% người ở độ tuổi sinh hoạt tình dục tự nhận họ là NĐT và song tính[8]. Điều tra quốc gia về phát triển gia đình ở Hoa Kỳ năm 2002 cho kết quả 4,1% nam giới và 4,1% nữ giới tự nhận mình là NĐT và song tính. Ở Canada, theo kết quả điều tra tháng 6 năm 2012 thì có 5% dân số tự nhận mình là NĐT, song tính và chuyển giới[9]. Điều tra quốc gia ở Pháp năm 1991 cho kết quả có 10,7% nam giới và 3,3% phụ nữ có hành vi tình dục đồng giới và 8,5% nam giới và 11,7% phụ nữ thừa nhận có hấp dẫn tình dục đồng giới nhưng không có hành vi quan hệ tình dục đồng giới. Như vậy, nếu lấy tỉ lệ trung bình, “an toàn” mà nhiều nhà khoa học thừa nhận là 3% thì số NĐT tạm tính ở Việt Nam vào khoảng 2,66 triệu người (tính theo dân số Việt Nam năm 2012 có 88,78 triệu người)[10].

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HNVGĐ được thực hiện trong bối cảnh có nhiều diễn biến mới về vấn đề đồng tính tại Việt Nam thời gian qua. Cộng đồng NĐT đã hiện diện một cách công khai hơn, rõ ràng hơn trong xã hội Việt Nam với sự phát triển của các diễn đàn, phương tiện thông tin đại chúng, văn học nghệ thuật hay phim ảnh… Sự ra đời và phát triển của một số tổ chức vận động quyền cho nhóm LGBT như Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE, Hà Nội), Trung tâm ICS (Trung tâm bảo vệ quyền của người LGBT, Thành phố Hồ Chí Minh) đã góp phần thúc đẩy phong trào bảo vệ quyền của NĐT tại Việt Nam. Đặc biệt trong ba năm 2011-2013 đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trên phương diện truyền thông, báo chí về vấn đề đồng tính (nhận thức đúng hơn, chuyển tải những hình ảnh toàn diện hơn về cộng đồng NĐT). Đến thời điểm hiện tại, các khái niệm như xu hướng tính dục, bản dạng giới, HNCG đã không còn quá xa lạ và một số khái niệm chưa đúng như thế giới thứ ba, giới tính thứ ba, bệnh hoạn đã phần nào được hạn chế… Tuy nhiên, nhìn chung, quan niệm của xã hội về đồng tính cũng như HNCG vẫn chưa được thay đổi một cách đáng kể[11]. Ví dụ như theo một nghiên cứu gần đây, có 77% người dân Việt Nam được hỏi đồng ý phải bảo vệ quyền của NĐT nhưng chỉ có 36.6% đồng ý cho NĐT có QKH[12].

Liên quan đến QKH, xét về kỹ thuật lập pháp, pháp luật hiện hành sử dụng quy phạm “cấm” việc kết hôn giữa những NCGT (khoản 5 Điều 10 Luật HNVGĐ năm 2000) dễ tạo ra hiệu ứng định kiến xã hội đối với NĐT. Mặt khác, chung sống giữa những NCGT là một hiện tượng xã hội có thật, từ đó phát sinh các quan hệ về nhân thân, tài sản hoặc về con (ví dụ nhận con nuôi), pháp luật không thừa nhận hôn nhân của họ, nhưng cũng phải có cơ chế pháp lý để điều chỉnh các hậu quả về nhân thân, tài sản và con từ việc chung sống giữa những NCGT. Thực tiễn xét xử của Tòa án trong thời gian qua, đã có một số vụ việc tranh chấp về tài sản giữa những NĐT có quan hệ sống chung, nhưng chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết tranh chấp[13]. Thời gian gần đây đã xuất hiện một số đám cưới giữa những NCGT (tự phát, không được đăng ký kết hôn)[14]. Những thực tế này đã cho thấy kết hôn là nhu cầu rất chính đáng của tất cả mọi người, trong đó có cả NĐT[15].

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 4 của Luật HNVGĐ năm 2000 (về các nguyên tắc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình) quy định cấm cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn. Vấn đề đặt ra là nếu NĐT vì lý do áp lực gia đình, xã hội nên chấp nhận kết hôn với một người khác giới thì liệu có vi phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hay không? Đây là một nguyên tắc rất cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta đồng thời cũng là một điều kiện thiết yếu để đảm bảo hạnh phúc, sự bền vững gia đình[16]. Tuy nhiên việc xác định như thế nào là tự nguyện kết hôn là điều không đơn giản trong thực tế. Tình cảm là yếu tố thiêng liêng nhưng lại vô hình, không thể định lượng được trong quy phạm pháp luật hay thực tế áp dụng. Nếu NĐT kết hôn với người khác giới do quan niệm thường thấy của xã hội hiện nay thì chắc chắn việc kết hôn đó bị cưỡng ép bởi gia đình, xã hội xung quanh hoặc vì yếu tố khác nên hôn nhân không đáp ứng nguyên tắc tự nguyện. Hơn nữa, nếu người bạn đời kết hôn với NĐT không biết sự thật về xu hướng tính dục của chồng/vợ mình thì điều kiện cấm kết hôn giả tạo sẽ bị vi phạm. Với những hạn chế này đã đặt ra đòi hỏi pháp luật phải có những thay đổi nhất định để đảm bảo thực thi tốt trong xã hội.

…………………………………………………………………………..


[1] Bao gồm: Vương quốc Hà Lan, Vương quốc Bỉ, Vương quốc Tây Ban Nha, Liên bang Canada, Cộng hòa Nam Phi, Vương quốc Na Uy, Vương quốc Thụy Điển, Cộng hòa Bồ Đào Nha, Cộng hòa Iceland, Cộng hòa Argentina, Vương quốc Đan Mạch, Cộng hòa Uruguay, New Zealand, Cộng hòa Pháp, Anh và xứ Wales. Thống kê do tác giả tổng hợp từ: Christine Vestal, Stateline.org Staff Writer, June 4, 2009, Gay marriage legal in six states, http://www.stateline.org/live/details/story?contentId=347390 và một số thông tin cập nhật trong các năm gần đây tạihttp://ilga.org/ (Cổng thông tin của Hiệp hội Người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính quốc tế).

[2] Xem: Trương Hồng Quang, “Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về quyền của người đồng tính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 7/2012, tr.32-41; Trương Hồng Quang, Thực tiễn ghi nhận quyền kết hôn bình đẳng của người đồng tính trên thế giới, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6007, Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, ngày 10/02/2014.

[3] Bao gồm: 17 quốc gia (Andorra, Áo, Brazil, Colombia, Séc, Ecuador, Phần Lan, Đức, Greenland, Hungary, Ireland, Isle of Man, Jersey, Liechtensein, Luxembourg, Slovenia, Thụy Sĩ) và 13 vùng lãnh thổ công nhận (một số vùng của Úc, Hoa Kỳ, Venezuela, Mehico).

[4] Một số vùng của Úc, Croatia, Israel.

[6] Phiếu thuận bỏ cho việc thông qua nghị quyết này bao gồm các quốc gia: Argentina, Belgium, Brazil, Chile, Cuba, Ecuador, France, Guatemala, Hungary, Japan, Mauritius, Mehico, Norway, Poland, Republic of Korea, Slovakia, Spain, Switzerland, Ukraine, Thailand, UK, USA, Uruguay; Phiếu chống bỏ cho việc thông qua nghị quyết này bao gồm các quốc gia: Angola, Bahrain, Bangladesh, Cameroon, Djibouti, Gabon, Ghana, Jordan, Malaysia, Maldives, Mauritania, Nigeria, Pakistan, Qatar, Moldova, Russian Federation, Saudi Arabia, Senegal, Uganda; Phiếu trắng gồm: Burkina Faso, China, Zambia.

[7] Sau bài phát biểu, nhiều quốc gia Hồi giáo và châu Phi đã giận dữ rời khỏi phòng họp để phản đối. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia khác đã nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của ông Ban Ki-moon.

[8] Người song tính có cả hai xu hướng tính dục: có cảm xúc với cả nam giới lẫn nữ giới. Do đó, người song tính không mang hai giới tính như quan niệm của nhiều người.

[9] Người chuyển giới là người tự nhận mình có giới tính ngược lại với giới tính sinh học được sinh ra (ví dụ giới tính sinh học khi sinh ra là nam nhưng luôn cho rằng mình là nữ giới). Trong khi đó, người đồng tính vẫn cho rằng mình có giới tính giống với giới tính sinh học khi được sinh ra nhưng lại chỉ có cảm xúc với những người cùng giới tính với mình. Một điều quan trọng là không bắt buộc phải phẫu thuật chuyển đổi giới tính mới được xem là người chuyển giới.

[10] Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), “Báo cáo tình hình kinh tế xã hội Việt Nam năm 2012”, nguồn: http://gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=217, ngày 24/12/2012.

[11] Xem thêm: Trương Hồng Quang, “Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 3/2012, tr.25-34, 44.

[12] TS. Nguyễn Thị Thu Nam, “Quan điểm xã hội về đồng tính và hôn nhân đồng giới”, Báo cáo được trình bày tại Hội thảo do Viện ISEE tổ chức ngày 13/12/2012.

[13] Bộ Tư pháp, “Báo cáo về quan điểm và định hướng lớn trong xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HNVGĐ”, 2012, tr. 9.

[14] Các đám cưới đồng tính như: Đồng tính nữ (tháng 12/2010, Hà Nội); đồng tính nam (6/2011, TP. Hồ Chí Minh); đồng tính nữ (2012, Cà Mau); đồng tính nam (tháng 5/2012, Kiên Giang); đồng tính nữ (tháng 7/2012, Bình Dương).

[15] Xem thêm: Trương Hồng Quang, “Nhu cầu kết hôn của người đồng tính là chính đáng”, Báo Vietnamnet, ngày 4/6/2012.

[16] Văn phòng Chính phủ, “Báo cáo số 9734/PL ngày 28/11/2012 về Kết quả khảo sát của đoàn công tác liên ngành về dự án Bộ luật Dân sự và dự án Luật HNVGĐ”, tr. 11-12.

Explore posts in the same categories: Bài đăng Tạp chí chuyên ngành, Human Rights, LGBT, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: