Archive for the ‘Bài đăng Tạp chí chuyên ngành’ category

NHU CẦU GIẢI THÍCH QUY ĐỊNH VỀ HẠN CHẾ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013

Tháng Tư 17, 2020
Trương Hồng Quang*, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 03/2018, tr. 03-13
Tóm tắt: Hạn chế quyền con người, quyền công dân là một quy định tiến bộ của Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Theo đó, “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Bài viết phân tích một số vấn đề khi cụ thể hóa quy định này trong thực tế. Theo tác giả bài viết, quy định về hạn chế quyền con người, quyền công dân cần được giải thích cụ thể. Tác giả cũng đề xuất một số khuyến nghị cụ thể cho vấn đề này.
Từ khóa: hạn chế quyền; hiến pháp; quyền con người; quyền công dân.
1. Vấn đề hạn chế quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013
Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, trước Hiến pháp năm 2013 thì chưa có một bản hiến pháp nào quy định về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân (sau đây gọi tắt là hạn chế quyền). Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1980 cũng có một quy định khá thú vị tại Điều 54: “Quyền và nghĩa vụ của công dân thể hiện chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, kết hợp hài hoà những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân, bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhân theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người.” Với quy định này, việc thực hiện quyền phải kết hợp hài hòa với yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân. Có thể hiểu đây chính là tính cân bằng trong việc thực hiện quyền (và nếu không đáp ứng nguyên tắc này thì có thể bị hạn chế thực hiện quyền).
Với Hiến pháp năm 2013, đây là lần đầu tiên vấn đề hạn chế quyền được hiến định thành nguyên tắc. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 15 của Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác“. Những quy định này được đánh giá là một điểm sáng của Hiến pháp năm 2013. Theo đó, từ nay không được ai tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền, ngoại trừ các trường hợp cần thiết nhưng phải được luật quy định.
Có thể nhận thấy, Hiến pháp năm 2013 đã xác lập một nguyên tắc chung về hạn chế quyền. Việc hạn chế việc thực hiện quyền chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của các quyền con người, quyền công dân. Nó bảo đảm sự cân bằng giữa các lợi ích trong mối quan hệ Nhà nước – Con người, Công dân, Cá nhân; bảo đảm sự minh bạch và lành mạnh của các mối quan hệ này. Nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực công có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Xét ở những khía cạnh cơ bản, quy định ở khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã tương thích với quy định của pháp luật quốc tế và các bản hiến pháp tiến bộ trên thế giới về nguyên tắc hạn chế quyền. Quy định này nhằm bảo đảm rằng việc hạn chế quyền chỉ được đặt ra khi có lý do khách quan, hợp pháp và hợp lý, trên cơ sở có sự nghiên cứu, cân nhắc cẩn thận của chủ thể có thẩm quyền. Như vậy, quy định về nguyên tắc hạn chế quyền đã góp phần bổ sung cho hệ thống cơ chế bảo vệ quyền con người tại Việt Nam.

(more…)

Một số kết quả nghiên cứu gần đây

Tháng Ba 19, 2014
  1. Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số tháng 4 năm 2013.
  2. Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, tháng 6/2013.
  3. Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả), Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 5/2013.
  4. Một số vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 6/2013.
  5. Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2013 (tác giả)
  6. Thực trạng áp dụng các quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 về vấn đề công khai cho nhân dân biết, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 12/2013 (tác giả)
  7. Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: quan niệm quốc tế và chính sách pháp luật của một số quốc gia, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số tháng 1/2014 (tác giả)
  8. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6007, ngày 10-02-2014
  9. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6008, ngày 12-02-2014
  10. Quyền kết hôn của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4, tháng 2/2014 (tác giả)
  11. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 2/2014.
  12. Đề tài: “Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”, Nghiệm thu đạt loại xuất sắc năm 2014.

Quyền kết hôn của người đồng tính

Tháng Ba 19, 2014

Trương Hồng Quang, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tháng 2/2014. Dưới đây trích phần đầu của bài viết:

“Theo Nghị quyết số 23/2012/QH13 của Quốc hội ngày 12/6/2012 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HNVGĐ) năm 2000 dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 6. Trong quá trình soạn thảo Dự án Luật này, nhiều vấn đề đã được đưa ra thảo luận như: độ tuổi kết hôn, chế định ly thân, hôn nhân thực tế… Trong đó, chủ đề về quan hệ sống chung của người đồng tính – NĐT (trong đó có quyền kết hôn – QKH) nhận được sự quan tâm khá nhiều từ dư luận. Liệu kết hôn giữa những người cùng giới tính – NCGT (kết hôn cùng giới) có làm suy thoái đạo đức xã hội, đi ngược lại truyền thống? Đâu là những rào cản của việc ghi nhận QKH của NĐT? Ảnh hưởng của nhận thức xã hội về đồng tính đến việc ghi nhận quyền này ở Việt Nam như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ phân tích một số khía cạnh trong chủ đề kết hôn cùng giới tại Việt Nam hiện nay. (more…)

QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Tháng Ba 19, 2014

Trương Hồng Quang*

 (Tạp chí Luật học, số tháng 2/2014)

  1. Khái quát thực tiễn pháp luật đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư hiện hành

Phát triển bền vững là đòi hỏi tất yếu của các quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Hơn nữa, phát triển bền vững của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn do nhiều lý do, trong đó có sự yếu kém của công tác quản lý. Quá trình phát triển kinh tế xã hội tạo ra nhiều nguy cơ đối với phát triển bền vững và vì thế đòi hỏi Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp giảm thiểu các nguy cơ này trong nhiều hoạt động khác nhau, đặc biệt là hoạt động đầu tư thông qua các dự án cụ thể. Phát triển bền vững không phải là thuộc tính đương nhiên của các dự án đầu tư. Để có sự phát bền vững cần lồng ghép để đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong từng dự án và biến chúng trở thành thành tố của mọi quá trình đầu tư. Pháp luật có vai trò quan trọng trong thực hiện việc lồng ghép này. Để thực hiện vai trò này, pháp luật cần đáp ứng được các yêu cầu nhất định như: thể hiện đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững xuyên suốt các giai đoạn của dự án đầu tư, phát huy vai trò của tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư và tôn trọng các quy luật thị trường trong quá trình can thiệp vào các dự án đầu tư.

Phát triển bền vững là phát triển dựa trên sự cân bằng: cân bằng về tự nhiên, cân bằng về mặt kinh tế và cân bằng về xã hội. Chỉ có sự phát triển cân bằng mới đảm bảo lợi ích cho tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình phát triển, tức là tạo cho tất cả cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Các dự án đầu tư có thể mang lại thành quả song cũng có thể mang lại rủi ro cho phát triển bền vững do có sự chi phối của ý chí con người, sự xuất hiện của các lợi ích xung đột[1]. Để đảm bảo phát triển bền vững ở cấp độ dự án đầu tư, pháp luật phải đảm bảo được sự cân bằng giữa các lợi ích của chủ thể liên quan dự án đầu tư, bao gồm: lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng dân cư có liên quan đến dự án đầu tư. Để đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, các quy định pháp luật cần bao quát đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế, an sinh và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường[2]. Pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cũng phải đáp ứng được ba khía cạnh này. Pháp luật hiện hành tuy đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững trong các dự án đầu tư song vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: (more…)

Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam

Tháng Mười Một 9, 2013

Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2013.

Image

Hôn ước trên thế giới

Tháng Mười Một 9, 2013

Chế định hôn ước trong pháp luật của một số nước trên thế giới, Tạp chí Kiểm sát, số 21, tháng 11/2013.

Người chuyển giới tại Việt Nam dưới góc nhìn pháp lý

Tháng Mười Một 4, 2013

Bài viết về Người chuyển giới cách đây gần một năm bây giờ mới được in trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 21/2013 (tháng 11/2013). Nói chung là phải kiên nhẫn chờ đợi và bất cứ vấn đề gì cũng nên có cái nhìn hệ thống, toàn diện.

Image

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

Tháng Sáu 7, 2013

Trương Hồng Quang*

 1. Dẫn nhập

Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ, sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN). Tuy nhiên, nhiều quốc gia ASEAN chỉ mới chú ý đến chế định trách nhiệm sản phẩm trong thời gian gần đây. Chẳng hạn như Thái Lan mới ban hành Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm không an toàn vào năm 2008. Ngay cả ở quốc gia khai sinh ra pháp luật về trách nhiệm sản phẩm là Hoa Kỳ thì cuộc tranh cãi về chế định pháp luật này vẫn chưa bao giờ kém sôi động. Những quan niệm khác nhau về phạm vi trách nhiệm, về căn cứ xác định trách nhiệm có những điểm khác nhau nhất định tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và hệ thống pháp luật của từng nước mặc dù bản thân chế định này được coi như là một hiện tượng pháp lý phổ biến. Có thể nói, những tranh luận về vấn đề trách nhiệm sản phẩm chính là sự thể hiện một cách rõ rệt nhất mối quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế với lợi ích của công chúng, lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên, dù có bất kỳ cuộc tranh luận nào xung quanh chế định pháp luật này thì vẫn có được một sự thừa nhận chung: trách nhiệm sản phẩm là một công cụ pháp lý không thể thiếu để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa thương mại. Đầu năm 2010, Toyota mở đợt thu hồi kỷ lục 8,5 triệu chiếc trên toàn cầu, Nissaan thu hồi 500.000 chiếc, Huyndai thu hồi 500.000 chiếc, GM thu hồi 1,3 triệu chiếc và Honda cũng thu hồi 500.000 chiếc. Cơn địa chấn này của thị trường ô tô còn chưa lắng xuống thì nhà sản xuất ô tô Nhật Bản lại đứng trước nguy cơ phải thông báo thu hồi 218.000 xe Tundra. Theo Cơ quan an toàn giao thông quốc gia Mỹ (NHTSA), các xe Toyota Tundra sản xuất trong hai năm 2000 và 2001 có thể bị ảnh hưởng bởi hiện tượng ăn mòn khung xe. Tiếp đó, Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải Hàn Quốc đã yêu cầu Toyota tiến hành thu hồi 13.000 xe tại nước này do nguy cơ thảm sàn chẹt vào chân ga khiến xe tăng tốc ngoài kiểm soát. Những đợt thu hồi xe như này cho thấy sự cần thiết và tác động to lớn của vấn đề trách nhiệm sản phẩm. Bài viết sau đây sẽ tìm hiểu những vấn đề cơ bản của chế định này. (more…)

Pháp luật Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu

Tháng Tư 26, 2013
 Bài viết đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 4/2013. Dưới đây là phần mở đầu.

 

(Xem bản đầy đủ trong Tạp chí Luật học)

“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) không còn là vấn đề mới ở các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia… Bảo vệ quyền lợi NTD cũng đã được Liên hợp quốc ghi nhận trong Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD năm 1999; theo đó, NTD có các quyền cơ bản như quyền được thông tin, quyền được sử dụng sản phẩm an toàn, quyền được bồi thường khi bị thiệt hại do sản phẩm không an toàn gây ra([i])… Đa số các quốc gia đều ban hành quy định để bảo vệ NTD; trong đó, quy định chi tiết các quyền lợi được bảo vệ của NTD đồng thời quy định trách nhiệm của nhà sản xuất đối với NTD sản phẩm của mình. Khi NTD bị tổn hại về sức khoẻ, tính mạng hoặc thiệt hại về tài sản do khuyết tật của sản phẩm gây ra thì họ có quyền được yêu cầu nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc người bán hàng bồi thường thiệt hại. Quyền được bồi thường cho thiệt hại là quyền cơ bản của NTD và được ghi nhận trong pháp luật bảo vệ NTD của các quốc gia trên thế giới. Tương ứng với quyền của NTD thì nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà NTD phải gánh chịu do sản phẩm của mình có khuyết tật gây ra. Hầu hết các nước phát triển đều quy định vấn đề trách nhiệm sản phẩm (TNSP) để bảo vệ quyền lợi NTD. Bài viết này sẽ tập trung tìm hiểu nội dung pháp luật của EU về vấn đề này”.


([i]). Tham khảo: Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD, Bản dịch tài liệu “The United Nations Guidelines on Consumer Protection (as expanded in 1999) của Cục quản lí cạnh tranh, Bộ công thương.

Hoàn thiện quy định chương II dự thảo Hiến pháp nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới

Tháng Ba 16, 2013

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP SỬA ĐỔI NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CỦA XÃ HỘI

Trương Hồng Quang*

 (Hội thảo của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp ngày 22/2/2013 và đăng trên Tạp chí NGhiên cứu Lập pháp số 5, tháng 3/2013)

Có thể nhận thấy việc đưa chương Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên ở vị trí Chương II là một trong những bước tiến của dự thảo Hiến pháp sửa đổi về vấn đề này. Tuy nhiên, các quy định của Chương II vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới, thực tiễn khá sôi động của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Bài viết xin bàn luận và góp ý một số vấn đề cụ thể để góp phần làm cho Hiến pháp có sức sống hơn, phù hợp với yêu cầu đặt ra hiện nay.

1. Cần xem xét ghi nhận những vấn đề mới liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới

Tại Việt Nam, các khái niệm như xu hướng tính dục[1] và bản dạng giới[2] còn khá xa lạ trong đời sống và chưa xuất hiện trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Hai khái niệm này sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề như: quan niệm về gia đình, về kết hôn, quan niệm về bình đẳng giới, tác động đến việc phân biệt đối xử, ngang bằng trong xã hội. Hiện nay, Dự thảo Hiến pháp có quy định hai Điều:

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.

Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Quy định như trên thực sự vẫn còn một số điểm cần quan tâm như sau:

Thứ nhất, Điều 27 dự thảo chỉ ghi nhận bình đẳng giới giữa hai giới nam và nữ, chống phân biệt đối xử giữa nam và nữ.

Như vậy, dự thảo đã bỏ quên một số nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội là người đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT)[3]. Cộng đồng LGBT đang ngày càng hiện hữu rõ nét trong xã hội Việt Nam và trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc đặt ra yêu cầu phải có những hành động cần thiết để đảm bảo quyền công dân cho nhóm công dân này. Với quy định của dự thảo có thể đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử giữa một nam và một nữ nhưng không đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử trong cùng một giới tính (ví dụ như nam đồng tính và nam dị tính). Thực ra, quan niệm về bình đẳng giới ở Việt Nam như hiện nay là còn khá hạn hẹp. Hiện nay trên thế giới đã và đang có xu hướng quan niệm bình đẳng giới dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới chứ không chỉ giữa hai giới tính khác nhau. Thiết nghĩ, quan niệm này sẽ đầy đủ và có tính nhân văn hơn quan niệm truyền thống. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012), xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại (Ngoại trưởng Hoa Kỳ),… Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới. Để góp phần khẳng định tính đúng đắn về xu hướng tính dục thì nên lồng ghép quan điểm chống sự phân biệt về xu hướng tính dục vào trong quan niệm bình đẳng giới. Nhiệm vụ này, nên được Hiến pháp ghi nhận trước tiên, sau đó mới đến các đạo Luật cụ thể hóa.

Đối với vấn đề chống phân biệt đối xử, nhóm người LGBT thường bị phân biệt đối xử, kỳ thị rất nhiều trong xã hội hiện nay. Vì vậy, quy định như dự thảo hiện hành không đảm bảo cơ sở để cụ thể hóa các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ cộng đồng LGBT. (more…)