Archive for the ‘Bài đăng Tạp chí chuyên ngành’ category

Pháp luật Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu

Tháng Tư 26, 2013
 Bài viết đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 4/2013. Dưới đây là phần mở đầu.

 

(Xem bản đầy đủ trong Tạp chí Luật học)

“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) không còn là vấn đề mới ở các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia… Bảo vệ quyền lợi NTD cũng đã được Liên hợp quốc ghi nhận trong Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD năm 1999; theo đó, NTD có các quyền cơ bản như quyền được thông tin, quyền được sử dụng sản phẩm an toàn, quyền được bồi thường khi bị thiệt hại do sản phẩm không an toàn gây ra([i])… Đa số các quốc gia đều ban hành quy định để bảo vệ NTD; trong đó, quy định chi tiết các quyền lợi được bảo vệ của NTD đồng thời quy định trách nhiệm của nhà sản xuất đối với NTD sản phẩm của mình. Khi NTD bị tổn hại về sức khoẻ, tính mạng hoặc thiệt hại về tài sản do khuyết tật của sản phẩm gây ra thì họ có quyền được yêu cầu nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc người bán hàng bồi thường thiệt hại. Quyền được bồi thường cho thiệt hại là quyền cơ bản của NTD và được ghi nhận trong pháp luật bảo vệ NTD của các quốc gia trên thế giới. Tương ứng với quyền của NTD thì nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà NTD phải gánh chịu do sản phẩm của mình có khuyết tật gây ra. Hầu hết các nước phát triển đều quy định vấn đề trách nhiệm sản phẩm (TNSP) để bảo vệ quyền lợi NTD. Bài viết này sẽ tập trung tìm hiểu nội dung pháp luật của EU về vấn đề này”.


([i]). Tham khảo: Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD, Bản dịch tài liệu “The United Nations Guidelines on Consumer Protection (as expanded in 1999) của Cục quản lí cạnh tranh, Bộ công thương.

Advertisements

Hoàn thiện quy định chương II dự thảo Hiến pháp nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới

Tháng Ba 16, 2013

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP SỬA ĐỔI NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CỦA XÃ HỘI

Trương Hồng Quang*

 (Hội thảo của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp ngày 22/2/2013 và đăng trên Tạp chí NGhiên cứu Lập pháp số 5, tháng 3/2013)

Có thể nhận thấy việc đưa chương Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên ở vị trí Chương II là một trong những bước tiến của dự thảo Hiến pháp sửa đổi về vấn đề này. Tuy nhiên, các quy định của Chương II vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới, thực tiễn khá sôi động của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Bài viết xin bàn luận và góp ý một số vấn đề cụ thể để góp phần làm cho Hiến pháp có sức sống hơn, phù hợp với yêu cầu đặt ra hiện nay.

1. Cần xem xét ghi nhận những vấn đề mới liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới

Tại Việt Nam, các khái niệm như xu hướng tính dục[1] và bản dạng giới[2] còn khá xa lạ trong đời sống và chưa xuất hiện trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Hai khái niệm này sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề như: quan niệm về gia đình, về kết hôn, quan niệm về bình đẳng giới, tác động đến việc phân biệt đối xử, ngang bằng trong xã hội. Hiện nay, Dự thảo Hiến pháp có quy định hai Điều:

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.

Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Quy định như trên thực sự vẫn còn một số điểm cần quan tâm như sau:

Thứ nhất, Điều 27 dự thảo chỉ ghi nhận bình đẳng giới giữa hai giới nam và nữ, chống phân biệt đối xử giữa nam và nữ.

Như vậy, dự thảo đã bỏ quên một số nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội là người đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT)[3]. Cộng đồng LGBT đang ngày càng hiện hữu rõ nét trong xã hội Việt Nam và trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc đặt ra yêu cầu phải có những hành động cần thiết để đảm bảo quyền công dân cho nhóm công dân này. Với quy định của dự thảo có thể đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử giữa một nam và một nữ nhưng không đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử trong cùng một giới tính (ví dụ như nam đồng tính và nam dị tính). Thực ra, quan niệm về bình đẳng giới ở Việt Nam như hiện nay là còn khá hạn hẹp. Hiện nay trên thế giới đã và đang có xu hướng quan niệm bình đẳng giới dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới chứ không chỉ giữa hai giới tính khác nhau. Thiết nghĩ, quan niệm này sẽ đầy đủ và có tính nhân văn hơn quan niệm truyền thống. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012), xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại (Ngoại trưởng Hoa Kỳ),… Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới. Để góp phần khẳng định tính đúng đắn về xu hướng tính dục thì nên lồng ghép quan điểm chống sự phân biệt về xu hướng tính dục vào trong quan niệm bình đẳng giới. Nhiệm vụ này, nên được Hiến pháp ghi nhận trước tiên, sau đó mới đến các đạo Luật cụ thể hóa.

Đối với vấn đề chống phân biệt đối xử, nhóm người LGBT thường bị phân biệt đối xử, kỳ thị rất nhiều trong xã hội hiện nay. Vì vậy, quy định như dự thảo hiện hành không đảm bảo cơ sở để cụ thể hóa các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ cộng đồng LGBT. (more…)

Quyền tham gia trưng cầu ý dân trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi

Tháng Ba 1, 2013

Trương Hồng Quang*

(Bài đăng Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 2/2013)

 Tổ chức trưng cầu ý dân là một nhu cầu đang ngày càng thực sự rõ nét ở Việt Nam. Điều này được thể hiện bằng việc dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã tách Điều 53 của Hiến pháp hiện hành thành một Điều riêng về trưng cầu ý dân (Điều 30 (sửa đổi, bổ sung Điều 53): “Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”). Có thể nhận thấy quyền tham gia trưng cầu ý dân cùng với các quyền chính trị cơ bản khác là biểu hiện trực tiếp cao nhất nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Việc Nhà nước bảo đảm quyền tự do ý chí của công dân trong các cuộc trưng cầu ý dân là sự bổ sung cho các hình thức dân chủ đại diện, từ đó tạo điều kiện cho công dân tham gia một cách tích cực và hiệu quả nhất vào quá trình quyết định những công việc hệ trọng của đất nước. Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa quyền tham gia trưng cầu ý dân của nhân dân hiện nay vẫn còn những rào cản nhất định về mặt thể chế cũng như nhận thức của các chủ thể có liên quan[1]. (more…)

Hiện thực hóa trưng cầu ý dân tại Việt Nam

Tháng Hai 1, 2013

HIỆN THỰC HÓA TRƯNG CẦU Ý DÂN TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

Có thể nhận thấy nhu cầu tổ chức trưng cầu ý dân ở Việt Nam đang ngày càng rõ nét. Điều này đã được thể hiện bằng việc dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã tách Điều 53 của Hiến pháp hiện hành thành một Điều riêng về trưng cầu ý dân (Điều 30 (sửa đổi, bổ sung Điều 53): “Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”). Bên cạnh đó, việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân đã tiếp tục được đưa vào chương trình chuẩn bị của Quốc hội Việt Nam khóa XIII. Luật này nếu được ban hành sẽ cụ thể hóa một trong những quyền chính trị cơ bản, quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân đã được hiến định từ Hiến pháp năm 1946. Có thể nhận thấy quyền trưng cầu ý dân cùng với các quyền chính trị cơ bản khác là biểu hiện trực tiếp cao nhất nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Việc nhà nước bảo đảm quyền tự do ý chí của công dân trong các cuộc trưng cầu ý dân là sự bổ sung cho các hình thức dân chủ đại diện, cùng với dân chủ đại diện tạo điều kiện cho công dân tham gia một cách tích cực và hiệu quả nhất vào quá trình quyết định những công việc hệ trọng của đất nước. (more…)

Thông báo về việc sử dụng bài viết

Tháng Một 23, 2013

Thân chào tác giả TRƯƠNG HỒNG QUANG!

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật vui mừng và trân trọng thông báo bài viết: “MỘT SỐ KIẾN NGHỊ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TẠI VIỆT NAM” của tác giả đã được duyệt đưa vào ngân hàng bài có thể sử dụng để đăng trên Tạp chí trong thời gian tới. Vì vậy, chúng tôi đề nghị tác giả không gửi bài viết đến một Tạp chí khác và cho phép chúng tôi được quyền chủ động đăng tải bài viết vào thời gian thích hợp sớm nhất có thể. Trong trường hợp bài viết này đã được đăng tải trên một Tạp chí khác, đề nghị tác giả thông báo lại để chúng tôi đưa bài viết ra khỏi ngân hàng bài có thể sử dụng.

Trân trọng cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự cộng tác thường xuyên của tác giả.

Kính chúc tác giả và gia đình sức khoẻ và thành công!

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT

Tháng Một 22, 2013


Trương Hồng Quang*

Phạm Mai Diệp**

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2012)

1. Khái quát chung về quyền phúc quyết

1.1. Quan niệm về quyền phúc quyết   

Khi nghiên cứu ngôn ngữ thế giới, chúng tôi nhận thấy khái niệm phúc quyết dường như không phổ biến như khái niệm trưng cầu dân ý. Trong tiếng Latin, thuật ngữ plebiscitum (nghĩa là “cái mà dân đã nói”, thường được dịch là “phúc quyết”) được xem là gần đồng nghĩa với thuật ngữ referendum (nghĩa là “điều cần phải được thông báo”, ngôn ngữ hiện đại dịch là “trưng cầu dân ý”). Plebiscitum cũng là ý kiến của cử tri nhưng thường là các cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân về các vấn đề quan trọng hơn cả đối với đất nước như vấn đề lãnh thổ, các vấn đề quốc tế, các vấn đề liên quan tới cá nhân (trưng cầu dân ý về ứng viên duy nhất chức vụ Chủ tịch nước)[1]. Trường hợp này người Ai Cập gọi là referendum, còn người Pakistan lại gọi là plebiscitum. Thực ra trong ngôn ngữ của nhiều nước, hai thuật ngữ này không được phân biệt rõ, nhất là các ngôn ngữ ngoài châu Âu. Ngay cả trong Hiến pháp các nước cũng không sử dụng thuật ngữ “phúc quyết” mà chỉ đề cập đến “trưng cầu dân ý”. Tuy nhiên, trong Hiến pháp một số nước, trưng cầu dân ý là phương thức để thực hiện quyền biểu quyết, quyết định của nhân dân đối với một vấn đề quan trọng nào đó sau khi đã được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua. Và như vậy, Hiến pháp các nước đã công nhận quyền phúc quyết – khái niệm mà các nhà khoa học Việt Nam hay sử dụng.

Phân tích theo khía cạnh thuật ngữ, vào năm 1957 và 2000, các tác giả Đào Duy Anh và Phạm Văn Các trong hai cuốn Từ điển Hán – Việt của mình đã giải thích nghĩa của từ này. Theo đó, thuật ngữ phúc quyết là từ Hán – Việt, được ghép bởi hai từ là phúcquyết: phúc có nghĩa là “lật lại, xét kỹ”; quyết có nghĩa là “quyết định”[2]. Như vậy, có thể hiểu phúc quyết là việc đưa một vấn đề đã được quyết định (bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền) ra để biểu quyết lại.

Trong lịch sử hệ thống pháp luật của nước ta, thuật ngữ phúc quyết rất ít khi được sử dụng, chúng ta chỉ có thể thấy thuật ngữ này được sử dụng trong Hiến pháp năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa phương vào cùng thời điểm đó. Trong Hiến pháp năm 1946 có quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý” (Điều thứ 32); “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia…” (Điều thứ 21); việc sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo quy định: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (điểm c, Điều thứ 70). Trong Sắc lệnh số 63-SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định: “Nếu một phần ba (1/3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết Ủy ban hành chính xã thì Ủy ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín nhiệm” (Điều thứ 18)[3]. (more…)

Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

Tháng Một 22, 2013

Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

 

Trương Hồng Quang

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội) số 24, tháng 12 năm 2012

 

1. Một số vấn đề về đồng tính

Image

Thứ nhất, “đồng tính” là từ viết tắt của cụm từ “đồng tính luyến ái” (homosexuality) là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục, cảm xúc giữa những người cùng giới tính. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law)[1], sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul  của Gustav Jager[2], Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft – Ebing[3]. Từ đó, thuật ngữ trên được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với người dị tính và người song tính[4]. Ngày nay, đồng tính luyến ái còn được gọi bằng các từ ngữ khác như: gay chỉ người đồng tính nam, les hay lesbianchỉ người đồng tính nữ. Ở Việt Nam còn có một số từ như: “bóng”, “bóng kín”, “đồng cô”, “pê đê” (dùng cho nam), “ô môi” (dùng cho nữ).

Thứ hai, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association – APA) không đưa ra lý giải khoa học cho hiện tượng đồng tính mà chỉ nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tình dục đó, nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hoà nhập cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này. APA đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973. Đồng thời vào tháng 12/1992, APA đã đưa ra lời kêu gọi thế giới cùng hành động để bảo vệ quyền lợi của những người đồng tính luyến ái: “Xét thấy luyến ái đồng giới tự thân nó không hề hàm chứa việc có hay không sự thiệt hại, tính ổn định, sự tin cậy, trong năng lực xã hội chung hay khả năng tác nghiệp (ở người đồng tính luyến ái), APA kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm thần học ở các quốc gia hãy thúc đẩy trên đất nước mình việc bãi bỏ những trừng phạt pháp lý đối với tình cảm và tình dục đồng giới có sự đồng thuận giữa những người trưởng thành. Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hãy thực hiện mọi việc có thể để giảm đi những sỉ nhục có liên quan đến luyến ái đồng giới, ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào”[5]Hiện nay, các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết đều cho rằng, khuynh hướng tình dục trên chịu sự chi phối của cả yếu tố sinh học và xã hội. Trường phái tâm thần học của Sigmund Freud đưa ra quan điểm “Trong khi hầu hết loài người sinh ra với khuynh hướng tình dục dị giới thì tâm sinh lý, với sự phát triển riêng của mình, do các yếu tố bên trong và bên ngoài chi phối, đã tạo ra hiện tượng đồng tính luyến ái”[6]. Kết quả các cuộc nghiên cứu, thống kê và khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học và nhi khoa khác đều đi đến kết luận đồng tính luyến ái không phải là sự rối loạn tâm thần mà là hiện tượng bình thường trong tự nhiên, những người có khuynh hướng tình dục trên hoàn toàn không phải do sự lựa chọn chủ quan của họ. Ngày 17/5/1990 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xoá bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần – đây là dấu mốc quan trọng góp phần hạn chế những quan niệm sai lầm về người đồng tính.

Thứ ba, cần phải hiểu rằng đồng tính là xu hướng/thiên hướng tính dục, không phải là một giới tính như suy nghĩ của nhiều người. Bản thân người đồng tính về mặt sinh học họ vẫn là nam giới/nữ giới và cũng không phải là người lưỡng giới (có thể yêu cả nam lẫn nữ). Số lượng người đồng tính (có khuynh hướng tình dục đồng giới) chiếm số lượng rất ít trong xã hội. Họ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương (bị đẩy vào thế bất bình đẳng) nên rất cần được sự quan tâm, chia sẻ của xã hội, không nên có các hành vi kỳ thị, xa lánh chỉ vì họ là người đồng tính[7]. Người đồng tính thường phải chịu các tác động tiêu cực từ xã hội và cả tâm lý sợ hãi của bản thân họ do những nhận thức sai lầm và quan điểm kỳ thị vì xu hướng tình dục không phổ biến này. Những vấn đề mà người đồng tính thường gặp có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của bản thân họ như: vấn đề thay đổi xu hướng tình dục đồng tính luyến ái[8], hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia)[9], công khai xu hướng tình dục của người đồng tính[10]. (more…)